BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN QUỲNH HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI KIÊN ĐIỆN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Trần Quỳnh Hoa
Tiến hành tố tụng
TTHS
Tố tụng hình sự
UBND
Ủy ban nhân dân
VKS
Viện Kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
5
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ
CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ
TỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
2.1. Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
41
sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
2.2. Dự báo tình hình người chưa thành niên phạm tội và giải pháp nhằm
58
nâng cao hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
Kết luận chương 2
68
KẾT LUẬN
69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tình cấp thiết của đề tài.
trong hoạt động tố tụng hình sự còn nhiều tồn tại yếu kém. Số bị can phải đình chỉ điều
tra, số bị cáo được Tòa án tuyên không phạm tội, tình trạng vi phạm tố tụng trong tạm
giữ, tam giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xẻ, thi hành án vẫn còn xảy ra, thậm chí xảy
ra với cả những vụ án có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án là NCTN.
2
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát, nhất là góp phần vào việc
nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện các quyết định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
cũng như việc nâng cao chất lượng thực hiện những quyết định đó, tôi lựa chọn đề tài:
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối
với người người chưa thành niên” để làm đề tài nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp
khóa học cao học luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta thời gian qua. Đổi mới tổ chức
và hoạt động của VKSND, làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
sát viên đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và cac nhà quản lý chỉ đạo thực
tiễn
Đã có nhiều công trình khoa học, bài viết chuyên đề, … có liên quan về quyền
hạn nhiệm vụ và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong TTHS có thể kể ra:
- Công trình đã in thành sách: Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp, Hà Nội,
2005; Dương Thanh Biểu: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư Pháp, Hà Nội,
2007.
- Các đề tài khoa học cấp trường: Trường Đại học Luật Hà Nội, Lý Văn Quyền
(chủ nhiệm): Tình hình phạm pháp về ma tuý do người chưa thành niên thực hiện trên
địa bàn thành phố Hà Nội, Hà Nội, 2003; Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Cao Việt
luật tố tụng hình sự nhưng chế định Kiểm sát viên vẫn chưa được lưu tâm một cách
thỏa đáng và còn chứa đựng rất nhiều tranh luận, đặc biệt là chưa có công trình nào đề
cập trực tiếp đến vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong các
hoạt động tố tụng đối với NCTN. Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể
và toàn diện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ.
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV trong hoạt
động tố tụng đối với NCTN nhằm đề xuất các kiến nghị lập pháp và các giải pháp nâng
cao hiệu quả việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đó.
- Với mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ các khái niệm: NCTN, NCTN trong TTHS, đặc điểm tâm sinh lý của
NCTN, tình hình NCTN phạm tội trong 5 năm trở lại đây;
+ Làm rõ những quy định trong pháp luật TTHS và những văn bản pháp luật có
liên quan về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố
tụng đối với NCTN;
+ Làm rõ thực trạng, thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm
của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người NCTN và đề xuất được những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thể hiện những quy định đó trong thực tiễn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu luận văn là những quy định của pháp luật trong TTHS về
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự
đối với NCTN nhất là trong hoạt động tố tụng với người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo,
người bị kết án, phạm nhân đang thi hành án là người NCTN trong cái giai đoạn TTHS
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Phạm vi nghiên cứu là những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng đối với người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là NCTN, trong các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và thực
hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN.
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng
đối với NCTN.
5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
ĐỐI VỚI NCTN.
1.1. Một số vấn đề chung về người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.
Trong tự nhiên, mọi sinh vật không ngừng phát triển và thay đổi. Con người cũng
vậy, từ khi sinh ra, cơ thể ngày một lớn lên, trí tuệ thêm sâu sắc, khoảng thời gian có sự
phát triển nhảy vọt, đó là tuổi dậy thì. Dậy thì bắt đầu từ khoảng 12 – 18 tuổi, đây là
giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang người lớn, là thời kỳ diễn ra những thay
đổi lớn về thể chất lẫn tinh thần. Những người trong lứa tuổi này được gọi là NCTN.
Đặc trưng của lứa tuổi này là tâm sinh lý chưa phát triển đầy đủ, dễ bị tổn thương và
đang cần được giúp đỡ và hướng dẫn. Khi NCTN xâm hại đến các quan hệ xã hội hoặc
bị xâm hại từ những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, tùy theo mức độ họ
sẽ bị xử lý hành chính hoặc phải trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật hình sự
và TTHS, tham gia quan hệ pháp đó, họ sẽ trở thành chủ thể của hoạt động TTHS người tham gia tố tụng.
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
NCTN là thuật ngữ được dùng trong nhiều ngành, lĩnh vực khoa học khác nhau.
Khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần
của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật
của từng quốc gia.
Dưới góc độ khoa học và thực tiễn, các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều có
sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác,
nhìn chung tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi
và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể.
Ngoài ra, những người theo quan điểm này dựa trên những đặc điểm về NCTN đó là sự
phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tâm – sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm
sống , thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao mà
những quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ trong những văn bản pháp luật
nêu trên là chưa đầy đủ.
Qua nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học, tôi thấy rằng, nhìn chung
các nhà khoa học đều đồng tình là NCTN là người chưa đủ 18 tuổi, có đặc điểm tâm,
sinh lý chưa phát triển một cách toàn diện. Để định nghĩa được thế nào là NCTN, ta
cần phải dựa trên những tiêu chí như: độ tuổi của NCTN, đặc trưng tâm, sinh lý, quyền
và nghĩa vụ pháp lý của NCTN. Các quan điểm trên mặc dù đã phần nào khái quát
được hình ảnh NCTN nhưng chưa thật sự đầy đủ. Quan điểm thứ nhất chỉ đưa ra khái
niệm chung chung đó là NCTN là người chưa đến tuổi trưởng thành, các nhà khoa học
theo quan điểm này áp dụng từ ngữ Hán việt trong quá trình đưa ra khái niệm nhưng
chưa giải thích được cụ thể như thế nào là tuổi trưởng thành nên chưa làm rõ độ tuổi
cũng như những đặc trưng cơ bản về NCTN. Quan điểm thứ hai mặc dù đã giới hạn
được NCTN là những người dưới 18 tuổi nhưng cũng chưa nêu được đặc trưng tâm lý
cũng như các quyền và nghĩa vụ luật định của họ. Trong các quan điểm nêu trên, tôi
đồng tình với quan điểm thứ ba bởi các nhà khoa học theo quan điểm này đã định nghĩa
hầu như đầy đủ, khái niệm cho ta thấy hình ảnh về NCTN khá rõ nét.
Từ những phân tích trên, theo tôi “NCTN là người chưa đủ 18 tuổi; chưa phát
triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý; chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý
như người đã thành niên”.
1.1.2. Khái niệm người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
TTHS là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án). TTHS bao gồm toàn bộ hoạt
động của cơ quan THTT; người THTT; người tham gia tố tụng; các cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác góp phần giải quyết vụ án hình sự [28, tr.9]. Quá trình giải quyết vụ án
IV BLTTHS, người tham gia tố tụng bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người
giám định, người phiên dịch. Do những đặc trưng về sự phát triển thể chất cũng như
vấn đề về tâm sinh lý của NCTN có nhiều khác biệt so với đối tượng là người đã thành
niên nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong khi tham gia hoạt động tố
tụng và để thi hành đúng, thống nhất các quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối
với người tham gia tố tụng là NCTN, VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ
Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ra Thông tư số
01/2011/ TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 hướng
dẫn thi hành một số quy định của bộ luật TTHS đối với người tham gia tố tụng là
NCTN. Theo hướng dẫn tại Thông tư 01/2011 thì người tham gia tố tụng là NCTN chỉ
bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại, người làm chứng [11] mà thôi.
8
Người bị hại là NCTN trong TTHS là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài
sản do tội phạm gây ra khi chưa đủ 18 tuổi [20, tr.2]. Theo quy định tại Điều 55 và các
đặc điểm của NCTN ta có thể hiểu người làm chứng là NCTN trong TTHS là người có
đầy đủ năng lực hành vi và có khả năng khai báo đúng đắn, biết được những tình tiết
liên quan đến vụ án hình sự khi chưa đủ 18 tuổi. Cả người bị hại và người làm chứng
khi tham gia vào hoạt động tố tụng đều nhằm góp phần tìm ra sự thật vụ án, giúp các
cơ quan THTT điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên,
như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên VKSND trong hoạt động tố tụng đối với
người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN (sau đây gọi chung là NCTN phạm tội)
nên không đi sâu tìm hiểu về người tham gia tố tụng là bị hại và nhân chứng là NCTN.
NCTN phạm tội theo quy định tại Điều 68 BLHS 1999 là những người đã thực
hiện hành vi bị luật hình sự quy định là tội phạm từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
chung là kịp thời phát hiện điều tra đầy đủ, toàn diện, thu thập chứng cứ làm rõ để xác
minh một người là có tội hay không có tội thể hiện qua bản án, quyết định của Tòa án.
Tuy nhiên, bản án mới chỉ dừng lại ở việc thể hiện một người là có tội hay vô tội, đúng
hay sai, phải hay trái trên văn bản, để điều này được thực hiện trên thực tế thì cần phải
thi hành bản án, quyết định đó, thi hành án được coi là “động tác có tính quyết định
cuối cùng” trong quá trình tố tụng và hiệu quả của nó sẽ góp phần đạt được mục đích
của quá trình TTHS [18, tr.412-413]. Vậy, người bị kết án là chưa thành niên là người
phạm tội đã bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án khi chưa đủ 18 tuổi.
Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ các dấu hiệu tội
phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định trong BLHS thì họ sẽ bị khởi tố và xét
xử theo tiến trình tố tụng chung được BLTTHS quy định. Tuy vậy, do các đặc trưng về
tâm sinh lý nên tội phạm do NCTN gây ra có những đặc điểm riêng so với tội phạm do
người đã thành niên gây ra. Tội phạm do NCTN thực hiện bị truy cứu trách nhiệm hình
sự khi có các điều kiện sau đây: Một là, có hành vi phạm tội do NCTN thực hiện, đặc
biệt là khi NCTN phạm tội đó có nhân thân xấu; Hai là, tội phạm do NCTN thực hiện
có tính chất nghiêm trọng; Ba là, những biện pháp giáo dục, phòng ngừa như giáo dục
tại xã, phường, đưa vào trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo NCTN phạm
tội mà cần áp dụng hình phạt đối với họ [16, tr.15]. Bởi những lý do đặc biệt đó nên thủ
tục cũng như hoạt động TTHS đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
NCTN cũng được quy định thành một chương riêng - chương XXXII: “Thủ tục tố tụng
đối với NCTN” thuộc phần 7 “Thủ tục đặc biệt” trong BLTTHS năm 2003.
1.1.3. Một số đặc điểm của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.
Độ tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang lứa
tuổi người lớn, là thời kỳ diễn ra những thay đổi lớn về thể chất lẫn tinh thần. Những
người trong giai đoạn tuổi này chưa phát triển đẩy đủ về tâm sinh lý. Những NCTN
không còn thỏa mãn với vai trò thụ động của người được giáo dục, được dạy dỗ mà đã
bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định cuộc sống riêng của mình
- Đặc điểm sinh lý: Đặc trưng của lứa tuổi thiếu niên là sức sống phát triển rất
mạnh mẽ, và ở lứa tuổi này sự cần bằng bị phá vỡ. Trong những năm này cơ thể các
em phát triển mạnh mẽ về chiều dài và do vậy mà gầy đi mặc dù trọng lượng có tăng
đình, nhà trường và xã hội. Nếu được sống trong môi trường lành mạnh thì người
NCTN sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần trở
thành người có ích cho xã hội. Ngược lại, các em cũng dễ tiếp thu những thói hư tật
xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách, cũng dễ bị kích động, lôi kéo vào những hành động vi
phạm pháp luật. Nó trở thành nguyên nhân của những hành vi chuẩn như: hút ma túy,
đánh bạc, hiếp dâm, đua xe… Ngoài ra, trong giai đoạn quá độ từ trẻ em sang người
lớn, các em thiếu kinh nghiệm sống dẫn đến phản ứng bồng bột xốc nổi, dễ cáu giận,
không tự kiểm chế và làm chủ được bản thân. Thông thường các em giải quyết mâu
thuẫn bằng bạo lực, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, NCTN
có trình độ nhận thức về tính chất nguy hiểm cũng như chống đối xã hội của hành vi
phạm tội và khả năng kiềm chế còn kém. Phần lớn NCTN không có ý thức và thói
quen của sự đối chiếu, so sánh những hành vi của mình với các quy phạm pháp luật,
với các quy tắc xử sự chung của xã hội.
Từ những phân tích trên, có thể thấy, lứa tuổi chưa thành niên là lứa tuổi phát
triển mạnh mẽ về thể chất cũng như tư duy logic. Đa số các em đã đáp ứng được nhu
cầu, đòi hỏi cũng như kỳ vọng của gia đình tích cực rèn luyện đao đức lối sống để trở
thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, một phần không nhỏ NCTN không nhận
thức được sứ mạng quan trọng của mình, ăn chơi, đua đòi, a dua cùng chúng bạn hậu
quả xảy ra là họ phạm tội khi còn nhỏ tuổi. Đối với NCTN phạm tội, việc tìm hiểu đặc
điểm tâm sinh lý của họ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đường lối xử lý
hình sự, trong công tác điều tra, truy tố, xét xử cũng như quá trình giáo dục, cải tạo
phạm nhân.
11
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý đó của NCTN, pháp luật nước ta đã đưa ra
đường lối nhân đạo, khoan hồng và thấu tình đạt lý.
1.2. Khái niệm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng
này Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng cấp trên trực tiếp và không phải
chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó. Kiểm sát viên có quyền
độc lập khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuận theo pháp luật nên khi thực
hiện hoạt động tố tụng tại phiên tòa theo phân công của Viện trưởng VKSND cùng
cấp, Kiểm sát viên có một số quyền: rút toàn bộ hay một phần quyết định truy tố, thay
12
đổi cáo trạng theo hướng đề nghị HĐXX áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội
danh nhẹ hơn, áp dụng khung hình phạt khác nhẹ hơn (Điều 195, Điều 217
BLTTHS)… Nếu kết quả xét xử công khai tại phiên tòa đã phản ánh nội dung khác hẳn
với quyết định truy tố của VKS mà quyết định này đã được Viện trưởng thông qua
trước đó thì Kiểm sát viên không còn cách nào khác, trên cơ sở các quy định của pháp
luật sẽ tự ra quyết định thay đổi hay rút quyết định truy tố. Sự tôn trọng sự thật khách
quan của vụ án để thay đổi ý kiến chủ quan cho phù hợp của Kiểm sát viên tại phiên
tòa đảm bảo cho quyền công tố được thực hiện một cách kịp thời. Điều đó không
những làm tăng lên trách nhiệm, uy tín của VKS mà còn khẳng định tính khách quan,
công minh, tuân thủ pháp luật trong hoạt động của Kiểm sát viên. Như vậy, có thể thấy
trong nhiều trường hợp, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao không phải
lúc nào cũng phải tuân theo sự chỉ đạo của Viện trưởng một cách máy móc mà vẫn
phải có sự độc lập nhất định, thậm chí chỉ tuân theo pháp luật, không phụ thuộc vào bất
cứ cá nhân, cơ quan nào. Như vậy, có thể hiểu “Nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong
TTHS là hệ thống những hoạt động mà Kiểm sát viên phải tiến hành, các hoạt động
này được pháp luật quy định hoặc theo sự phân công của Viện trưởng VKSND cùng
cấp nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư
pháp”; và “Quyền hạn của Kiểm sát viên trong TTHS là hệ thống những quyền năng
pháp lý được pháp luật quy định mà Kiểm sát viên được làm, khi tiến hành hoạt động
thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Có thể thấy, giữa “nhiệm vụ của Kiểm
niên.
NCTN là người ở độ tuổi chuyển tiếp của sự tăng trưởng, phát triển từ độ tuổi
“trẻ em” đến thời điểm bắt đầu của tuổi trưởng thành - là giai đoạn thay đổi quan trọng
nhất về thể chất, cảm xúc và ý thức xã hội diễn ra ở mỗi cá nhân. Đây là giai đoạn “quá
độ”, sự phát triển tâm lý rất phức tạp, mẫn cảm, dễ thay đổi và khó lường trước. Tâm lý
học xác định quá trình hình thành và phát triển của NCTN phụ thuộc mạnh mẽ về tâm
sinh lý, tùy thuộc độ tuổi, nhưng ở mức độ không đồng đều và với những dấu hiệu tâm
sinh lý rất khác nhau ở mỗi giới tính1; đồng thời có thể bị phân hóa để tạo thành tính
cách khác nhau khi bị tác động bởi những môi trường, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau.
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của sự phát triển tâm sinh lý đó, nên khi NCTN
thực hiện hành vi phạm tội thường xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau và do đó, hành
vi phạm tội của NCTN có các đặc điểm, cơ chế khác với hành vi phạm tội của người đã
thành niên. Tội phạm do NCTN thực hiện hầu hết là do tác động của môi trường, bởi
vậy, động cơ, mục đích phạm tội của NCTN thường là bột phát, nhất thời và không rõ
ràng. NCTN thường hay a dua, hùa theo bạn bè vi phạm pháp luật nên những vụ án do
NCTN thực hiện còn có yếu tố đồng phạm nhưng chưa có sự thống nhất về ý chí cũng
như chưa có sự phân công thực hiện rõ ràng. Cách thức thực hiện tội phạm của NCTN
thường là đơn giản, khác với người đã thành niên là họ có chuẩn bị trước, có khi rất
tinh vi, phức tạp và có ý chí thực hiện cao. Môi trường cũng như phạm vi của những vụ
án do NCTN phạm tội hạn chế bởi trong thực tế đời sống, sinh hoạt, NCTN chỉ có khả
năng, điều kiện tham gia trong một số môi trường xã hội nhất định, hay nói theo quan
điểm cấu thành tội phạm thì NCTN chỉ có thể có điều kiện xâm hại một số khách thể
nhất định được pháp luật bảo vệ, như: trật tự công cộng, quyền sở hữu (chủ yếu là sở
hữu tư nhân),…
Kiểm sát viên được phân công tham gia hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự
nói chung và vụ án do NCTN phạm tội nói riêng chính là nhân danh VKSND thực hiện
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật các vụ án hình
sự mà Hiến pháp quy định. Theo đó, khi thi hành công tác, họ có các nhiệm vụ quyền
1
tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Hoạt động buộc tội không
chỉ trong việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án mà được thực hiện xuyên suốt
trong quá trình điều tra.
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để
đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước,
bảo vệ trật tự pháp luật [24]. Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố
xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình
sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được
mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố
tụng tư pháp khác.
Theo tôi, quan điểm trên đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi quyền
công tố, xóa nhòa ranh giới giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác. Bởi bản chất của
quyền công tố là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm
tội, nên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS. Các lĩnh vực tố tụng khác như tố
tụng dân sự, tố tụng hành chính VKS chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ
thể tham gia vào các hoạt động tố tụng đó.
15
Trên đây là một số quan điểm về quyền công tố. Tôi đồng nhất với cách phân
tích, lập luận thể hiện quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong
mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật TTHS, nó luôn gắn liền với việc nhân danh Nhà
nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội
phạm). Bản chất của hoạt động TTHS là hoạt động của các cơ quan THTT để phát hiện
và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Trong hoạt động TTHS luôn tồn tại ba chức
năng tố tụng cơ bản đó là chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội; chức năng xét xử.
Buộc tội là một chức năng tố tụng nhằm truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Cơ
quan thực hiện chức năng buộc tội có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc cụ
thể đối với cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ đưa ra những tài liệu, chứng cứ cụ thể cho sự
16
giá hoạt động của người, cơ quan bị kiểm tra.
Như đã đề cập ở phần trước, ta biết rằng TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của
cơ quan THTT (CQĐT, VKS, Tòa án), người THTT (Điều tra viên, KSV, Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người
bào chữa…) của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc
giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS. Do đó, kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong TTHS là việc thực hiện chức năng của VKSND, hoạt động đó có nội dung là
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các hoạt động nêu trên, của các chủ thể nêu
trên.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong các giai
đoạn tố tụng của một vụ án hình sự, nhằm đảm bảo cho quá trình THTT vụ án được
thực hiện theo đúng quy định của pháp luật [29].
Đối với khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng” thì
cần phân biệt với khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS”. Hiện nay
quan điểm phổ biến nhất cho rằng: hoạt động tư pháp là các hoạt động do cơ quan tư
pháp thực hiện và một số hạn chế hoạt động do các cơ quan được giao một số thẩm
quyền tư pháp thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình
tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp liên quan tới quá trình giải
quyết vụ án. Và do đó, hoạt động tư pháp trong TTHS là các hoạt động do cơ quan tố
tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình TTHS,
được điều chỉnh bằng pháp luật TTHS, trực tiếp liên quan tới việc giải quyết các vụ án
hình sự [44].
Nhìn chung, phạm vi và đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS rộng hơn, bao trùm phạm vi, đối tượng của kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự, cụ thể như sau [21]:
Một là, xác định tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận
thức về hành vi phạm tội của NCTN. Để xác định tuổi của NCTN, phải xác định chính
xác ngày, tháng, năm sinh của họ, căn cứ vào các tài liệu hợp pháp như giấy khai sinh,
sổ hộ khẩu gia đình, các giấy tờ, tài liệu khác. Cần phải áp dụng mọi biện pháp để xác
định độ tuổi được chính xác. Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng
mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được ngày, tháng sinh của bị can, bị
cáo thì về nguyên tắc chung phải áp dụng phương pháp xác định có lợi cho họ.
Trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm
tội của NCTN cũng là vấn đề cần phải chứng minh trong các vụ án có bị can, bị cáo là
NCTN. Trình độ phát triển về thể chất, tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm
tội của NCTN một mặt thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội mà NCTN thực hiện, mặt khác cũng cho thấy khả năng giáo dục, cải tạo đối
với họ, từ đó cơ quan tiến hành tố tụng có thể quyết định biện pháp xử lý thích hợp.
Hai là, làm rõ điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN. Điều kiện sinh sống và
giáo dục của NCTN thể hiện ở hoàn cảnh, điều kiện sống của gia đình, thái độ của cha
mẹ, ảnh hưởng của người đã thành niên trong gia đình đối với việc giáo dục, dạy dỗ
NCTN, môi trường sống, điều kiện học tập sinh hoạt ở nhà trường hoặc nơi cư trú…
Việc làm rõ điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN trong một số trường hợp có ý
nghĩa cho thấy nguyên nhân, điều kiện phạm tội của họ, giúp cơ quan tiến hành tố tụng
chứng minh tội phạm, người phạm tội một cách toàn diện và đầy đủ. Hơn nữa, điều
kiện sinh sống và giáo dục của NCTN còn là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng quyết
định việc giao NCTN phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát, là căn
cứ để Tòa án lựa chọn áp dụng biện pháp tư pháp cụ thể trong trường hợp có căn cứ để
áp dụng biện pháp tư pháp.
Ba là, xác định có hay không người thành niên xúi giục. NCTN thường hiếu kỳ,
18
nông nổi nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ. Nếu có sự xúi giục, lôi kéo của người thành niên đối
về tội phạm; cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội
phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác; hoặc người phạm tội đến tự thú.
Các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm khi nhận
được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư; công văn kiến nghị
hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội
phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản
19
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ
quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì
phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,
nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình. Trường hợp người
phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú.
Kiểm sát viên khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm phải phải đánh giá sơ bộ
bước đầu về tính chất của tố giác, tin báo đó để có phương pháp xử lý kịp thời, đúng
pháp luật. Từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Kiểm sát viên đã phải nghiên
cứu và làm sáng tỏ các chi tiết trong tố giác, tin báo về tội phạm để từ đó có thể xác
định có phải tố giác, tin báo về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện hay không
(có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm
tội, có lỗi hay không, lỗi cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không,
mục đích, động cơ phạm tội; những đặc điểm nhân thân của người phạm tội; tính chất,
mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra); nếu vụ án đúng là do người chưa thành
niên gây ra, KSV cần tiếp tục xác minh những chi tiết khác được BLTTHS quy định tại
Điều 302 như: tuổi, trình độ phát triển về thể chất, tinh thần, mức độ nhận thức về hành
vi phạm tội, điều kiện sinh sống và giáo dục; đặc biệt là phải xác định rõ xem có hay
không trường hợp người chưa thành niên bị người khác xúi giục. Sau đó, cùng với việc
tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết khác Kiểm sát viên có thể đưa ra các quyết
kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với CQĐT cùng cấp nắm số lượng, kết quả
giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận; nếu phát
hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời
hạn luật định thì yêu cầu CQĐT nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả
cho VKS theo quy định tại Điều 103 BLTTHS.
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn khởi tố.
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự do NCTN thực hiện là nhiệm vụ, quyền hạn
của VKSND được pháp luật quy định. Thông qua hoạt động này, VKSND có trách
nhiệm đảm bảo việc khởi tố vụ án hình sự đối với NCTN của các cơ quan có thẩm
quyền là có căn cứ và hợp pháp, kịp thời phát hiện tội phạm và người phạm tội để điều
tra, xử lý theo pháp luật.
Khi được phân công THQCT và kiểm sát việc tuân theo tuân theo pháp luật trong
vụ án đối với NCTN thì trước hết KSV cần nắm chắc quy định của pháp luật tại: các
Điều 36,37 Điều 100 – 105, Điều 108, 109 và các Điều 301 – 310 BLTTHS năm 2003;
các Điều 68 đến 77 Bộ luật hình sự năm 1999; các Điều 10, 11, 12, 13 Quy chế thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều ra vụ án hình
sự; Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002; các Điều 6 đến 11 Thông tư
01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số
quy định của bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là NCTN.
Theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 thì chỉ khởi tố vụ án hình sự khi
đã xác định được các dấu hiệu của tội phạm, việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên
những cơ sở sau: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã
hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; CQĐT, VKS, Tòa án, đơn vị bộ
đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trực tiếp phát hiện tội phạm; người phạm tội tự
thú. Khi đã xác định được dấu hiệu tội phạm đủ căn cứ để khởi tố vụ án thì CQĐT ra
quyết định khởi tố vụ án, trong trường hợp xác định không có dấu hiệu tội phạm
CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án và thông báo cho các đơn vị có thẩm quyền.
Trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án. Trách nhiệm của KSV là phải
đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố.
Tính có căn cứ của việc khởi tố vụ án hình sự do người chưa thanh niên thực hiện
độ, hậu quả của hành vi phạm tội…. Khi người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước
người mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.
Nếu quyết định khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên thông báo
để CQĐT tiến hành hoạt động tố tụng đối với vụ án một cách bình thường; nếu xác
định quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết
định huỷ bỏ; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện
trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc Kiểm sát viên được Viện
trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản
2 Điều 109 BLTTHS và điểm 7.1 mục 7 Thông tư liên ngành số 05/2005/TTLNVKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005.
Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do NCTN thực hiện. Nếu quyết
định không khởi tố vụ án hình sự có căn cứ thì thông báo cho các cơ quan ra quyết định
khởi tố biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu cơ quan ra quyết định không khởi tố bổ
sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ; nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự là không
có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó và đề nghị người
có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án. Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự