Những vấn đề pháp lý về huy động, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ TUYẾT NHUNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HUY ĐỘNG,
SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN CHIA LỢI NHUẬN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN NGỌC DŨNG

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết, nghiên cứu
khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
Trần Ngọc Dũng.
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo ở
trường Đại học Luật Hà Nội. Trong thời gian học tập ở trường đã nhiệt tình
giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu.
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn đến các thầy cô giáo Khoa Sau đại

1.4. Khái niệm, nguyên tắc và cơ chế phân chia lợi nhuận trong công ty cổ
phần .............................................................................................................. 25
1.4.1. Khái niệm phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần ................... 25
1.4.2. Nguyên tắc của việc phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần ... 25
1.4.3. Cơ chế phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần ........................ 28


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC HUY
ĐỘNG, SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN CHIA LỢI NHUẬN TRONG CÔNG
TY CỔ PHẦN ................................................................................................ 29
2.1. Các quy định về huy động vốn trong công ty cổ phần ......................... 29
2.1.1. Góp vốn trong công ty cổ phần....................................................... 29
2.1.2. Huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu, trái phiếu và một số nguồn
khác ........................................................................................................... 32
2.2. Các quy định về sử dụng vốn của công ty cổ phần............................... 41
2.3 Các quy định về phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần ................. 45
2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về huy động, sử dụng vốn và phân chia
lợi nhuận trong công ty cổ phần................................................................... 47
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LUẬT
VỀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG VỐN VÀ PHÂN CHIA LỢI NHUẬN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ................................................................... 54
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về huy động, sử dụng vốn và phân
chia lợi nhuận của công ty cổ phần .............................................................. 54
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động, sử dụng vốn
và phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần: ............................................ 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………63


1

nhuận trong công ty cổ phần ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật
của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về huy động, sử dụng vốn là một vấn đề rất rộng và có rất ít
công trình nghiên cứu có hệ thống về vấn đề này. Pháp luật tài chính doanh
nghiệp nói chung là một bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật doanh
nghiệp nhưng trong chương trình giảng dạy ở bậc đại học cử nhân Luật, các
khoa Luật ở các trường đại học ở nhiều nước trên thế giới thường không thiết
kế vấn đề này thành môn học luật riêng mà đưa vào giảng dạy trong môn
“luật công ty”. Môn Luật công ty ở các nước phát triển giảng dạy cho các cử
nhân Luật tương lai thường đi sâu trang bị cho người học những kiến thức
pháp lý xoay quanh hai vấn đề: một là quản trị công ty và hai là tài chính công
ty. Chỉ ở bậc đào tạo sau đại học, các môn học mới được thiết kế ở dạng
chuyên sâu, để đi vào những khía cạnh khác nhau của ngành khoa học Luật
công ty. Nói cách khác, nội dung pháp luật tài chính công ty, một bộ phận của
môn Luật công ty chỉ được giảng dạy như môn học độc lập ở bậc đào tạo sau
đại học vì ở bậc đào tạo này, các môn học luật được đưa vào giảng dạy
thường đi sâu vào nghiên cứu từng chuyên ngành hẹp trong khoa học luật để
cung cấp cho người học những kiến thức pháp lý chuyên sâu. Ở Việt Nam,
sau một vài cải cách chương trình giảng dạy luật ở bậc đại học ở nước ta, tới
nay, pháp luật tài chính doanh nghiệp dường như không còn chỗ đứng trong
chương trình giảng dạy 9,Tr.65.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc
chế định pháp luật về tài chính doanh nghiệp và đặc biêt là vấn đề huy động
sử dụng vốn trong công ty cổ phần, đồng thời đưa ra phương hướng và các
giải pháp hoàn thiện cũng như thi hành các quy định về pháp luật là một đòi


3



luật về huy động, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận của công ty cổ phần
cũng như các giải pháp để thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật trong
lĩnh vực này trong thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đưa ra một hệ thống những vấn đề lý luận về vốn, huy động
vốn, sử dụng vốn, phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần.
- Luận văn thể hiện sự phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
trong các chế định trên.
- Luận văn nghiên cứu và phân tích một số quy định pháp luật trong
lĩnh vực này trong một số văn bản hướng dẫn thi hành và một số quy định
trong Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp… Từ
đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm phù hợp cho việc hoàn thiện tính thống
nhất của pháp luật trong lĩnh vực huy động, sử dụng vốn và phân chia lợi
nhuận của công ty cổ phần.
- Luận văn trình bày, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về huy động, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận của
công ty cổ phần để phù hợp với tình hình nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo kết cấu
của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về huy động, sử dụng vốn và phân
chia lợi nhuận trong công ty cổ phần.
Chương 2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh việc huy động, sử dụng vốn
và phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về về huy
động, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần.


5

Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa về vốn. Ngay cả Luật Doanh
nghiệp (2005) cũng ko có định nghĩa rõ ràng về vốn. Chúng ta mới thấy định
nghĩa về vốn trong Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm (2003). Điều 12 Luật
Doanh nghiệp nhà nước quy định về vốn và tài sản của công ty nhà nước chứ
không nêu định nghĩa chung về vốn. Điều 12 Luật doanh nghiệp nhà nước
quy định :
“1. Vốn của công ty bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại công ty, vốn
do công ty tự huy động và các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
2. Vốn nhà nước đầu tư tại công ty bao gồm vốn ngân sách nhà nước
và vốn tự tích luỹ được bổ sung vào vốn nhà nước.
3. Giá trị quyền sử dụng đất được tính vào vốn của công ty theo quy
định của pháp luật về đất đai. Chính phủ hướng dẫn cụ thể việc xác định giá
trị quyền sử dụng đất, phương pháp tính toán và đưa giá trị quyền sử dụng
đất vào vốn tuỳ theo mục đích sử dụng đất và đặc thù ngành, nghề, lĩnh vực
hoạt động của từng loại công ty nhà nước.
4. Tài sản của công ty nhà nước bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu
động.”
Trong nền kinh tế trị trường hiện nay,vốn được quan niệm là toàn bộ
những giá trị ứng ra ban đầu và quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp.
Khái niệm này không những chỉ ra vốn là đầu vào của sản xuất mà còn đề cập
tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng
biệt, chia cắt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong
suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Các quan điểm về vốn ở trên thể hiện được vai trò tác dụng trong
những điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể.
Để hiểu rõ hơn về vốn, chúng ta cần phân biệt khái niệm vốn và tài sản.Thực
chất vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang


7

8

- Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà còn
là biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình (Tài sản vô hình của doanh
nghiệp là vị trí kinh doanh, lợi thế trong sản xuất, bằng phát minh sáng chế,
các bí quyết về công nghệ.... ).
Ngoài những đặc trưng cơ bản của vốn, vốn của công ty cổ phần cũng
có những đặc trưng riêng biệt:
Thứ nhất, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần. Người chủ sở hữu vốn cổ phần được gọi là cổ đông.
Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần. Trong khi đó vốn của công
ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh là số vốn do các thành viên
công ty góp hoặc cam kết góp trong thời hạn nhất định và được ghi vào điều
lệ công ty. Vốn của các công ty này không được chia thành các phần bằng
nhau và cũng không thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phần mà thể
hiện dưới tỷ lệ phần trăm của từng thành viên. Tại thời điểm thành lập, vốn
điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh là số vốn do các
thành viên sáng lập góp hoặc cam kết góp nhưng đối với công ty cổ phần thì
vốn điều lệ không nhất thiết phải do các cổ đông sáng lập mua hết mà còn có
thể được chào bán ra bên ngoài cho các tổ chức, cá nhân khác.
Thứ hai, vốn của công ty cổ phần chủ yếu là huy động từ bên ngoài.
Công ty được quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy
động vốn. Đặc điểm này cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất
lớn và rộng rãi ra công chúng. Bên cạnh đó các công ty cổ phần cũng có thể
huy động vốn bằng cách vay vốn từ các ngân hàng hay các cá nhân, tổ chức
trong xã hội. Cũng giống như các chủ thể kinh doanh khác, công ty cổ phần
có quyền sử dụng sử dụng mọi hình thức để huy động vốn. Theo Luật Doanh
nghiệp (2005), doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không được quyền
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 130 và Điều 141). Khả năng huy




10

nhà đầu tư yên tâm, giá cổ phiếu gia tăng khiến thị trường chứng khoán phát
triển. Còn nếu công ty cổ phần làm ăn không hiệu quả (vốn có thực giảm) giá
cổ phiếu sụt giảm gây phản ứng không tốt cho thị trường chứng khoán. Để tạo
điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động, trở thành kênh huy động vốn
có hiệu quả nhất, công ty cổ phần phải cung cấp hàng hoá có chất lượng và có
nguồn vốn thực lành mạnh, do đó vốn của công ty cổ phần có mối liên hệ mật
thiết với thị trường chứng khoán. 4,Tr.16
1.1.3. Các loại vốn của doanh nghiệp
Có thể nói vốn là nhân tố cơ bản không thể thiếu của tất cả các doanh
nghiệp. Để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp cần
phải có một lượng vốn nhất định tuỳ thuộc vào quy mô, lĩnh vực mà doanh
nghiệp đó hoạt động. Lượng vốn này bao gồm vốn của chủ sở hữu, vốn vay
và các nguồn vốn chuyên dụng khác. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải
huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các
nguyên tắc quản lý tài chính và chấp hành pháp luật của Nhà nước. Cũng như
các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, công ty
cổ phần phải có vốn. Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn điển hình
nên vấn đề vốn của công ty cổ phần là vấn đề hết sức phức tạp.
Dưới góc độ tài chính doanh nghiệp, cấu trúc vốn của công ty cổ phần
bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động.
Nhìn từ góc độ pháp lý, cấu trúc vốn của công ty cổ phần bao gồm vốn
chủ sở hữu và vốn vay.
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần dƣới góc độ pháp lý:
1.1.3.1. Vốn của chủ sở hữu
Trong nền kinh tế, các loại hình doanh nghiệp khác nhau có nguồn gốc
vốn của chủ sở hữu khác nhau. Đối với công ty cổ phần, nguồn gốc vốn ban

hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp: “ Vốn điều lệ
của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ


12

phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty.
Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của
công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập
và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ
công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” .
Ở Việt Nam, ngoài quy định về vốn điều lệ, trong Luật Doanh nghiệp
(2005) có đưa ra một định nghĩa về vốn. Đó chính là vốn pháp định. Khi
thành lập, công ty phải có vốn điều lệ. Vốn điều lệ của công ty trong một số
ngành nhất định không được thấp hơn vốn pháp định. Vốn pháp định là mức
vốn tối thiểu phải có theo quy định pháp luật để thành lập doanh nghiệp (Điều
4, Khoản7, Luật doanh nghiệp 2005). Vốn pháp định chỉ được áp dụng trong
một số ngành nghề nhất định như: Kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh
bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch
vụ bảo vệ, kinh doanh vận chuyển hàng không, kinh doanh cảng hàng không,
kinh doanh cung cấp dịch vụ hàng không, kinh doanh sản xuất phim, kinh
doanh sở giao dịch hàng hoá và kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập. Luật
Doanh nghiệp (2005) xác định vốn pháp định là mức vốn “ sàn” đối với
doanh nghiệp, nhưng không áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp mà chỉ
áp dụng cho từng ngành nghề kinh doanh cụ thể được quy định trong các
Nghị định đối với từng ngành nghề.
Đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách
nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Vốn điều lệ của công ty có

biểu quyết do Điều lệ công ty quy định. Người sở hữu loại cổ phần ưu đãi
biểu quyết được gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết. Theo quy định tại khoản 3
Điều 78 Luật Doanh nghiệp (2005) thì chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy


14

quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu
quyết trong công ty cổ phần. Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập
chỉ có hiệu lực trong vòng 3 năm kể từ ngày công ty được thành lập. Sau thời
hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển thành cổ phần
phổ thông. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không có quyền chuyển
nhượng cổ phần đó cho người khác.
Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so
với mức cổ tức của cổ đông phổ thông hoặc mức cổ tức cao hơn so với mức
cổ tức hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thường. Người được quyền
mua cổ phần ưu đãi cổ tức do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng
cổ đông quyết định. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức
thường được ghi trên cổ phiếu của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức. Do
đã được ưu đãi trong việc trả cổ tức nên cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức
bị hạn chế một số quyền như: không có quyền biểu quyết, quyền dự họp Đại
hội đồng cổ đông, quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát.
Tuy vậy, ngoài quyền ưu đãi về cổ tức, cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ
tức còn có một số quyền như của cổ đông phổ thông: đó là quyền chuyển
nhượng cổ phần, quyền đối với tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần đã
góp vốn vào công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần
ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản...
Cổ phần ưu đãi hoàn lại: đây là loại cổ phần sẽ được công ty hoàn lại
vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu cổ phần hoặc theo các

liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi
nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi
cổ phần, các cổ đông không nhận được cổ tức nhưng bù lại họ sẽ có quyền sở
hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.


16

c. Thặng dƣ vốn
Trong quá trình hoạt động, vốn của chủ sở hữu có thể tăng lên từ khoản
thặng dư vốn phát sinh. Trường hợp công ty phát hành cổ phần và bán theo
phương thức đấu giá thì ngoài khoản tiền thu được tương đương với mệnh
giá, công ty còn thu được khoản chênh lệch giữa giá thị trường và mệnh giá.
Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính thì khoản chênh lệch này gọi là thặng dư
vốn. Mặc dù khoản thặng dư này không được tính trong vốn điều lệ tại thời
điểm thu tiền bán cổ phần nhưng là một bộ phận cấu thành vốn của chủ sở
hữu. Các cổ đông tuy là đồng sở hữu đối với toàn bộ vốn và tài sản của công
ty nhưng cổ tức của họ chỉ được xác định dựa trên mệnh giá cổ phần. Sau khi
nhận tiền cổ phần, thặng dư vốn tồn tại riêng biệt với vốn điều lệ trong cơ cấu
vốn của chủ sở hữu, nó chỉ trở thành vốn điều lệ bằng thặng dư cổ phần để
chia cho cổ đông và người lao động.
Về nguyên tắc, việc sử dụng nguồn thặng dư vốn thuộc thẩm quyền
quyết định của Đại hội cổ đông, tuy nhiên, để bảo đảm lợi ích của các chủ thể
có liên quan, việc sử dụng thặng dư vốn còn phải tuân thủ những quy định của
Bộ Tài chính. Theo thông tư số 18/2007/TT-BTC ngày 13 tháng 3 năm 2007
của Bộ tài chính quy định thời hạn để công ty sử dụng thặng dư vốn cổ phần
là 3 năm kể từ khi dự án hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng trong
trường hợp công ty phát hành cổ phần mới để thực hiện dự án đầu tư. Tuy
nhiên, hiện nay, Thông tư này đã được thay thế bằng Thông tư số
130/2013/TT-BTC ngày 10 tháng 8 năm 2012, trong đó Bộ Tài chính chỉ

mãn các dấu hiệu của phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng.
Phương thức phát hành riêng lẻ chỉ tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và không phải đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.


18

1.1.3.2. Vốn vay
Để đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh, các doanh nghiệp được
pháp luật cho phép huy động vốn dưới hình thức vay của các tổ chức, cá nhân
và phát hành trái phiếu.
Trong cơ cấu vốn vay của doanh nghiệp thì nguồn vốn vay của các
ngân hàng được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh
tế. Để vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp phải thoả mãn các điều kiện về
bảo đảm tiền vay.
Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, Khoản 1, Điều 2 Nghị định số
90/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về phát
hành trái phiếu doanh nghiệp có quy định “Trái phiếu doanh nghiệp” là loại
chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi, và
các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu.
Phát hành trái phiếu là một phương thức để doanh nghiệp huy động vốn. Mục
đích phát hành trái phiếu là thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của
doanh nghiệp, tăng quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp, cơ cấu lại các
khoản nợ của doanh nghiệp. Điều 9 cũng quy định về mệnh giá trái phiếu.
Theo đó, mệnh giá tối thiểu của trái phiếu là một trăm nghìn (100.000) đồng,
các mệnh giá khác là bội số của một trăm nghìn (100.000) đồng.
Trái phiếu được phân loại thành : Trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu
không chuyển đổi, trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không bảo đảm, trái
phiếu chào bán riêng lẻ và trái phiếu chào bán ra công chúng, trái phiếu có lãi
suất cố định và trái phiếu có lãi suất thả nổi.

- Vốn điều lệ do các thành viên công ty góp vốn dưới nhiều hình thức
như: tiền, vàng, ngoại tệ, tài sản, bản quyền sở hữu công nghiệp,… Người góp
vốn là chủ sở hữu doanh nghiệp, khi doanh nghiệp bị giải thể họ được chia tài


20

sản. Vốn điều lệ có khả năng mang lại lợi nhuận cao khi doanh nghiệp kinh
doanh tốt, nhưng có thể mang lại rủi ro khi doanh nghiệp kinh doanh kém.
- Vốn vay chủ yếu là tiền và ngoại tệ. Người cho vay sẽ là chủ nợ của
doanh nghiệp và được hưởng lãi xuất như đã thỏa thuận dù Doanh nghiệp
kinh doanh có lãi hay không có lãi. Người cho vay được ưu tiên thanh toán
trước so với các thành viên doanh nghiệp. Đây là những điểm khác nhau cơ
bản giữa vốn điều lệ và vốn vay.
Dƣới góc độ tài chính doanh nghiêp, vốn của công ty cổ phần đƣợc
chia thành vốn cố định và vốn lƣu động:
Vốn cố định là biểu hiện bằng giá trị của tài sản cố định và vốn bằng
tiền sử dụng cho mục đích đầu tư tài sản cố định.
Đặc điểm cơ bản của tài sản cố định so với các loại tài sản khác của
doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của
nó được chuyển dần vào giá thành sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất. Do
đó, trong quá trình sản xuất, giá trị của tài sản cố định giảm dần tương ứng
với sự tăng lên của các chu kỳ sản xuất mà nó tham gia cũng như với thời
gian sử dụng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản cố định là những tư liệu
lao động có đủ hai tiêu chuẩn sau:
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm
- Có giá trị trên 10 triệu đồng
Nếu một tư liệu không thoả mãn đồng thời hai điều kiện trên thì được
xem là công cụ lao động nhỏ. Trong trường hợp tài sản có tính năng sử dụng

vốn theo các phương thức sau: Huy động bổ sung vốn điều lệ, thông qua các
hợp đồng vay vốn, phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Huy động bổ sung vốn
điều lệ là biện pháp huy động thêm vốn điều lệ bằng đóng góp thêm của các
cổ đông công ty hoặc các nhà đầu tư góp vốn từ bên ngoài doanh nghiệp. Huy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status