BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CẦM HỒNG HÀ
TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CAO THỊ OANH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
Cầm Hồng Hà
Tòa án nhân dân tối cao
: TANDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
: VKSTDTC
Hội đồng xét xử
: HĐXX
Trách nhiệm hình sự
: TNHS
Năng lực trách nhiệm hình sự
: NLTNHS
Cấu thành tội phạm
: CTTP
Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc
:UNODC
Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/AIDS
CHƯƠNG 2 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO QUY
ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 ............................................ 26
2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma tuý ............... 26
2.1.1.Các dấu hiệu định tội .................................................................... 26
2.1.2. Các dấu hiệu định khung tăng nặng. ............................................ 36
2.2. Hình phạt ........................................................................................... 45
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ....................................................... 49
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội
mua bán trái phép chất ma túy ............................................................... 49
3.1.1. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma túy .................. 49
3.1.2. Những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng quy định của
BLHS Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma túy............................ 51
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tội
mua bán trái phép chất ma túy ............................................................... 55
3.2.1. Kiến nghị bổ sung khái niệm “chất ma túy” là đối tượng điều chỉnh
của luật hình sự trong Bộ luật hình sự ................................................... 55
3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện liên quan đến việc định tội danh ................. 57
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện liên quan đến một số tình tiết định khung tăng
nặng ....................................................................................................... 61
3.2.4. Kiến nghị hoàn thiện liên quan đến định lượng chất ma túy ......... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................. 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
chức, nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Nhận thức được hiểm họa khôn lường từ ma túy, công tác đấu tranh, phòng
chống ma túy được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đẩy mạnh. Điều 61
2
Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán,
tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác” [15]. Đến năm
2000, Luật phòng chống ma tuý đã được ban hành, góp phần tích cực vào công tác
đấu tranh phòng, chống ma tuý. Năm 2013, Hiến pháp năm 1992 một lần nữa được
sửa đổi bổ sung, do đã có Luật phòng chống ma tuý được ban hành nên quy định về
tội phạm ma tuý không còn được quy định trực tiếp trong Hiến pháp. Dưới góc độ
lập pháp hình sự, nhiều hành vi bất hợp pháp liên quan đến ma túy đã được quy định
là tội phạm và xử lý bằng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc. Trong các tội về
ma túy như: tội sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy thì tỷ
lệ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy chiếm tỷ lệ cao nhất, thường từ 80% 90% so với các tội về ma túy còn lại.
Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định trong BLHS cho đến nay đã
thực sự phát huy được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống ma túy. Tuy
nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình mua bán trái phép ma túy trong
nước cũng như thế giới, cùng với những hình thức biến tướng của hành vi mua bán
trái phép chất ma túy, quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy trong BLHS
Việt Nam đã bộc lộ những bất cập và hạn chế, gây ra một số khó khăn, vướng mắc
cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm
này. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là cần phải hoàn thiện hơn nữa tội mua bán trái
phép chất ma túy trong BLHS Việt Nam. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Tội
mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt Nam” làm nội dung nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm có tính nguy hiểm cao, được
trên các báo, tạp chí: “Các tội phạm về ma túy – So sánh giữa BLHS năm 1985 và
BLHS năm 1999” của tác giả Lê Thị Sơn (tạp chí luật học số 3/2000); “Một số vấn
đề liên quan đến hướng dẫn áp dụng điều 194 BLHS” của tác giả Cao Thị Oanh (tạp
chí luật học số 9/2012)…
Các công trình nêu trên trong góc độ nào đó đã đề cập đến các dấu hiệu của
tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống cơ sở hình thành, lịch sử phát triển cũng như từng
hành vi hay hình phạt được áp dụng đối với tội mua bán trái phép chất ma túy.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tội mua bán trái phép chất ma túy trong BLHS Việt
Nam và trong thực tiễn xét xử.
4
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội mua bán trái phép
chất ma túy.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm ra các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp
luật về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Để đạt được mục đích trên, tác giả đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở để hình sự hóa hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển tội mua bán trái phép chất ma
túy trong pháp luật Việt Nam.
- Phân tích quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự một số nước
trên thế giới về tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán trái phép chất ma
túy trong BLHS Việt Nam hiện hành.
- Phân tích quy định về hình phạt và một số tình tiết định khung tăng nặng
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA
TÚY
1.1. Khái quát về chất ma túy
1.1.1. Khái niệm chất ma túy
Theo Đại từ điển tiếng Việt, ma túy được hiểu là “chất kích thích lấy từ cây
cần sa, dùng nhiều thành nghiện” [14, tr.1081]. Tuy nhiên, đây là một khái niệm
chưa đầy đủ, ma túy không chỉ được phát hiện có nguồn ngốc từ cây cần sa mà còn
có nguồn gốc từ nhiều loại cây khác như cây thuốc phiện, cây côca…
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân năm 2005 thì ma túy được hiểu là
“hợp chất khi đưa vào cơ thể sống có tác dụng làm thay đổi một hay nhiều chức
năng của cơ thể” [28]. Đây là một khái niệm rất chung chung và không thực sự hợp
lý bởi không chỉ riêng ma túy, có rất nhiều chất khác khi đưa vào cơ thể cũng có tác
dụng làm thay đổi một hay nhiều chức năng của cơ thể, chẳng hạn như hợp chất
organophosphates có trong thuốc trừ sâu khi xâm phậm vào cơ thể sẽ làm thay đổi,
phá hủy chức năng của hệ thần kinh và tim mạch dẫn tới tử vong.
Theo Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961: “Ma túy là bất kỳ
chất liệu nào trong bảng I và bảng II dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp” [8].
Tương tự như vậy, theo BLHS 1985, Thông tư liên tịch số 01/1998 và Thông tư số
02/1998 thì ma túy được định nghĩa là “những chất đã được xác định và có tên gọi
riêng trong khoa học”. Các chất ma túy thường gặp được liệt kê như: hêrôin, côcain,
thuốc phiện, nhựa cần sa…Như vậy, Công ước của Liên hợp quốc và BLHS năm
1985 chỉ liệt kê các chất ma túy mà không đưa ra khái niệm chung về ma túy.
Cho tới nay, để nêu lên khái niệm thế nào là ma túy thì có hai văn bản chính
thức là Luật phòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) và Thông tư liên tịch
số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007
của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư
các sản phẩm của cần sa. Ngoài ra còn có các loại nấm như: Amaniata nusscaria…
Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được điều chế từ các chất là sản phẩm
tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được chất ma túy có tác
dụng nạnh hơn chất ma túy ban đầu. Ví dụ: Hêrôin là chất ma túy bán tổng hợp từ
moócphin bằng cách axetyl hóa moócphin…
Ma túy tổng hợp là các chất ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng
hợp hóa học thành phần từ các hóa chất (được gọi là tiền chất). Điển hình là các chất
amphetamin như: Methadon (dolophin), dolargan (pethidin)… Các chất ma túy tổng
hợp có tác dụng mạnh và nhanh hơn các chất ma túy bán tổng hợp [47, tr.28].
8
Việc phân loại này không chỉ có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu lý luận mà
còn giúp cho thực tiễn đấu tranh phòng, chống ma túy, biết được ma túy có nguồn
gốc từ đâu để truy tìm đến tận nguồn sản xuất ma túy, nhằm giải quyết triệt để tội
phạm và tệ nạn ma túy.
Thứ hai, căn cứ vào mức độ gây nghiện và khả năng bị lạm dụng, ma túy
được chia ra hai nhóm: ma túy có hiệu lực cao và ma túy có hiệu lực thấp.
Ma túy có hiệu lực cao là các chất ma túy chỉ cần sử dụng một lượng nhỏ là
có thể tạo ra sự thay đổi trạng thái tâm sinh lý của con người (mức độ kích thích
mạnh) và vài lần sử dụng là có thể gây nghiện. Điển hình là ma túy tổng hợp dạng
kích thích thần kinh như Amphetamin…
Ma túy có hiệu lực thấp là các chất ma túy khi sử dụng một lượng lớn và
nhiều lần thì mới thay đổi rõ nét trạng thái tâm sinh lý và gây ra nghiện như: Nhựa
thuốc phiện, lá cây cần sa…[47, tr.29].
Việc phân chia này giúp cho các cơ quan chức năng quy định các chất ma túy
cần cấm nghiêm ngặt, các chất ma túy được sử dụng hạn chế trong y học và nghiên
cứu khoa học, một số cho phép sử dụng trong y học và nghiên cứu khoa học.
Thứ ba, căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các
9
Việc tội phạm hóa đối với hành vi mua bán trái phép chất ma được dựa trên
một số cơ sở quan trọng sau:
1.2.1. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mua bán trái phép chất ma túy
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã làm cho ma túy - một loại độc dược
nguy hiểm dưới sự quản lý độc quyền của nhà nước, được phát tán rộng rãi gây ra
những tác hại to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sự phát triển của quốc gia.
Thiệt hại về kinh tế do ma túy gây ra là một con số không hề nhỏ. Tại Việt
Nam, số tiền mà Nhà nước ta đầu tư cho các cơ quan chức năng trong công tác
phòng, chống ma túy cũng là một khoản chi rất lớn. Giai đoạn 1993 – 2000, Nhà
nước ta đã đầu tư thực hiện Chương trình quốc gia 06/CP năm 1993 – 2000 là hơn
300 tỷ đồng. Gần đây nhất, Thủ tướng chính phủ vừa phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2012 – 2015 với tổng mức đầu tư thực
hiện chương trình là 2.522 tỷ đồng (830 tỷ đồng vốn đầu tư và 1.692 tỷ đồng vốn sự
nghiệp) [12].
Mua bán trái phép chất ma túy làm gia tăng tội phạm và các tệ nạn xã hội. Sản
xuất và buôn bán ma túy thúc đẩy nhiều người lao vào con đường tội lỗi, bất chấp
pháp luật. Khi dùng ma túy kích thích hoạt động hoặc gây ảo giác làm cho nhận thức
và hành động của người nghiện không đúng đắn, dễ dẫn tới hành vi phạm tội để thỏa
mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Thực tế cho thấy, người nghiện ma túy còn sẵn sàng
sát hại chính người thân của mình để có tiền mua ma túy. Qua thống kê được biết,
70% số vụ phạm tội hàng năm là do người nghiện ma túy gây ra hoặc có liên quan
đến ma túy [29, tr.79]. Tội phạm và tệ nạn ma túy gắn bó chặt chẽ với nhau và là tác
nhân để các tệ nạn như cờ bạc, mại dâm… phát triển.
Không chỉ có vậy, do tính chất siêu lợi nhuận của ma túy mà cùng với tội
phạm về mua bán trái phép chất ma túy, một loạt các tội phạm nguy hiểm khác cũng
ra ngày càng khó kiểm soát. Đây còn là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm
lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS thông qua con đường tiêm chích ma túy. Theo
báo cáo của UNAIDS tới cuối năm 2012 ước tính có khoảng 35,3 triệu người đang
sống chung với HIV trên thế giới [50].
Tại Việt Nam, theo báo cáo mới nhất của Bộ y tế, tính đến hết ngày
30/11/2013, số trường hợp hiện nhiễm HIV là 216.254 trường hợp. Kết quả giám sát
hiện thấy, tỷ lệ người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu,
đang có xu hướng giảm dần từ năm 2008 đến năm 2012. Tuy nhiên trong năm 2013,
tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện báo cáo là người nghiện chích ma túy tăng
nhẹ, chiếm 39,2% [52].
Mua bán trái phép chất ma túy làm cho ma túy dễ dàng xâm nhập vào đời
sống nhân dân gây mất trật tự an toàn, xã hội, một quốc gia có tỷ lệ người nghiện và
11
bệnh nhân nhiễm AIDS cao, sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của đất nước,
bởi nhân tố con người là yếu tố rất quan trọng quyết định sự tồn vong, hưng thịnh
của một quốc gia.
1.2.2.Mức độ phổ biến của hành vi mua bán trái phép chất ma túy ở Việt Nam
Chịu ảnh hưởng nặng nề dưới thời Pháp thuộc, khi thực dân Pháp thực hiện
chính sách khuyến khích kinh doanh thuốc phiện nhằm thu lợi nhuận một cách tối
đa, đã làm nặng nề thêm thói quen sử dụng thuốc phiện của đồng bào các tỉnh miền
núi phía Bắc, đồng thời lan ra nhiều thành phố, thị xã ở các tỉnh đồng bằng. Điều đó,
đã biến Việt Nam trong những năm 1930 – 1940 thành thị trường thuốc phiện huốc
phiện nổi tiếng.
Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã
thực hiện rất nhiều chủ trương, chính sách quyết tâm bài trừ ma túy về cơ bản đã làm
giảm đáng để việc buôn bán thuốc phiện ở nhiều nơi của các tỉnh phía Bắc. Tuy
nhiên, tới những năm 1954 – 1975, đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, đất
Kông, Nhật Bản, Mỹ, Canada.
+Các tuyến trong nội địa. Phức tạp nhất là tuyến Quốc lộ 6 (Sơn La, Hòa
Bình, Hà Tây, Hà Nội); tuyến Hà Nội – Quảng trị; tuyến 6 tỉnh Đông Bắc (Quảng
Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên); tuyến Nghệ An,
Hà Tĩnh và các tỉnh Tây Nguyên…[41, tr.914].
Qua những tuyến đường và địa bàn trọng điểm có thể thấy, hành vi mua bán
trái phép chất ma túy đã và đang trở nên phổ biến và rộng khắp trong cả nước.
Theo báo cáo thống kê của tòa án các cấp, từ năm 1997 đến năm 2006, toàn
ngành TAND đã xét xử sơ thẩm 80.204 vụ án về ma túy với 108.301 bị cáo. Trong 5
năm (2003-2007) TAND các cấp đã đưa ra xét xử 48.401 vụ tội phạm về ma túy với
64.173 bị cáo trên tổng số 52.207 vụ, 70.821 bị can được thụ lý. Tới giai đoạn 20092013, do tình hình tội phạm về ma túy gia tăng và diễn biến phức tạp nên số lượng
các vụ án về ma túy mà ngành Tòa án phải thụ lý, giải quyết cũng tăng nhiều so với
những năm trước đây. Năm 2009, thụ lý và giải quyết 10750 vụ án về ma tuý với
13956 bị cáo, thì tới năm 2013 đã thụ lý và giải quyết 15786 vụ án với 19287 bị cáo
.Điều này cho thấy, trong những năm qua số người tham gia vào hoạt động phạm tội
về ma tuý, trong đó có mua bán trái phép chất ma tuý ngày càng đông đảo.
Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự cho thấy, trong các tội
phạm về ma túy theo Điều 194, tội mua bán trái phép chất ma túy luôn chiếm tỷ lệ
cao nhất. Điều này thể hiện trong thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ
thẩm năm 2013 của một số địa phương như sau:
13
Địa phương
Tổng số vụ án
Số vụ án về tội
106
61%
Thanh Hóa
455
295
65%
Sơn La
728
655
90%
Hà Nội
1920
1344
70%
Nguồn: Cục thống kê Tòa án nhân dân tối cao
Với lợi nhuận khổng lồ mà ma túy mang lại đã làm cho đối tượng tham gia
dưới những hình thức cụ thể mà con người lại có khả năng nhận thức được thế giới
khách quan, do vậy đối với những “biểu hiện” của hành vi mua bán trái phép chất ma
túy như trên, các nhà áp dụng pháp luật có thể dễ dàng nhận thức được một hành vi
phạm tội có phải là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay không. Khi đã xác
định được hành vi phạm tội là hành vi mua bán trái phép chất ma túy chỉ cần căn cứ
vào lý luận của khoa học luật hình sự cùng với hướng dẫn của cơ quan tư pháp có thể
xác định được hành vi phạm tội đó thuộc trường hợp định khung cụ thể nào như:
phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần. Bên cạnh đó, định lượng chất ma túy cũng
là căn cứ quan trọng để giúp cơ quan tiến hành tố tụng có thể định tội danh và quyết
định hình phạt được chính xác, vấn đề này cũng được đã được liên ngành tư pháp
tổng kết và hướng dẫn cụ thể.
Vấn đề tiếp theo là chứng minh người phạm tội.
Các vụ án mua bán trái phép chất ma túy đa phần là những đối tượng bị bắt
quả tang, thu giữ được ngay chất ma túy tại hiện trường do vậy việc chứng minh một
người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong trường hợp này không quá
phức tạp. Đối với những vụ án chỉ qua lời khai của các đương sự, cơ quan tiến hành
tố tụng có thể chứng minh bằng nghiệp vụ điều tra của mình như khám xét chỗ ở,
chỗ làm việc; kiểm tra thông tin liên lạc... của những đối tượng tình nghi, qua đó xác
minh được những người này có giao dịch, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy với
nhau hay không. Chủ thể của tội phạm phải là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
và có năng lực trách nhiệm hình sự, việc chứng minh này cũng tương đối thuận lợi
bởi BLHS đã quy định và có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể.
Qua quá trình phân tích cơ sở của việc tội phạm hóa hành vi mua bán trái
phép chất ma túy trên đây, có thể nhận thấy rằng việc hình sự hóa hành vi này cần
thiết phải được hình sự hóa. Việc quy định hành vi này trong BLHS mang tính khả
thi cao, có khả năng chứng minh trong thực tiễn tố tụng, đáp ứng được yêu cầu,
15
sự cao
16
1.3.2. Quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự năm
1985
Đến những năm 1980, tình hình tái trồng cây thuốc phiện, hút và tiêm chích
thuốc phiện ngày càng gia tăng đồng thời cũng xuất hiện thêm một số chất ma túy
mới như hêrôin. Buôn bán thuốc phiện và các chất ma túy khác phát triển mạnh, đặc
biệt là buôn bán qua biên giới.
BLHS năm 1985 được ban hành là một bước ngoặt to lớn trong lịch sử lập
pháp, góp phần vào công cuộc chống tội phạm nói chung cũng như tội phạm về ma
túy nói riêng. Khi BLHS năm 1985 được ban hành, chỉ có một điều luật duy nhất quy
định trực tiếp về ma túy đó là tội tổ chức dùng chất ma túy (Điều 203) và hai điều có
liên quan đến ma túy là tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua
biên giới (Điều 97) và tội buôn bán hàng cấm (Điều 166). Điều 166 quy định tội mua
bán hàng cấm và trong đó ma túy được coi là một loại hàng cấm. Nếu hành vi buôn
bán ma túy trong nước thì bị áp dụng Điều 166 BLHS, còn nếu buôn bán, vận
chuyển ma túy qua biên giới thì bị áp dụng Điều 97 BLHS. Cùng một hành vi phạm
tội mua bán trái phép chất ma túy, chỉ khác nhau ở địa điểm thực hiện tội phạm lại bị
truy tố về hai tội khác nhau là thiếu chặt chẽ trong khoa học luật hình sự. Do đó, việc
sửa đổi BLHS là một đòi hỏi khách quan.
BLHS năm 1985 đã có bốn lần sửa đổi bổ sung, lần thứ nhất vào tháng 12
năm 1989, lần hai vào tháng 8 năm 1991, lần thứ ba vào tháng 12 năm 1992 và lần
cuối cùng nào năm 1997. Lần sửa đổi vào tháng 8 năm 1991, BLHS năm 1985 đã bổ
sung thêm Điều 96a quy định về tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái
phép chất ma túy. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng điều luật này cho thấy, việc quy định
như vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống các tội
phạm về ma túy nói chung cũng như tội mua bán trái phép chất ma túy nói riêng. Để
đó, ngày 05 tháng 08 năm 1998, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Bộ công an lại ban hành Thông tư liên tịch số 02/1998 TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA (gọi tắt là Thông tư 02/1998) hướng dẫn chi tiết hơn các quy định
tại Chương VIIA, góp phần hoàn thiện hơn các quy định của BLHS năm 1985 về các
tội phạm ma túy [23],[24].
1.3.3. Quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999
Trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước hội
nhập với khu vực và quốc tế, BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi cần
phải sửa đổi toàn diện cả Phần chung và Phần các tội phạm. Chính vì vậy BLHS năm
1999 đã ra đời, trong đó tội phạm về ma túy cũng được sửa đổi.
18
Trong BLHS năm 1985 sửa đổi năm 1997, các hành vi tàng trữ trái phép chất
ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy và chiếm
đoạt chất ma túy đều có cấu trúc bốn khoản với các hình phạt tương tự như nhau, đều
có hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình. Bên cạnh đó, tội phạm về ma túy
là một hệ thống từ khâu trồng trọt, sản xuất đến các đầu mối bán buôn lớn, đến người
bán buôn trung gian, người bán lẻ và sau cùng là người sử dụng ma túy. Các hành vi
tàng trữ, vận chuyển hay mua bán trái phép chất ma túy thường gắn liền với nhau.
Trong mua bán có hoạt động vận chuyển, tàng trữ; trước khi tàng trữ thường là hành
vi mua bán ma túy và tàng trữ ma túy có mục đích để mua bán; vận chuyển là để
mua bán, tàng trữ. Vì vậy, trong nhiều vụ án khó bóc tách vụ nào là tàng trữ, vụ nào
là mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Ngoài ra, hành vi chiếm đoạt chất ma
túy cũng có cấu trúc điều luật và hình phạt tương tự như ba tội này. Do vậy, BLHS
năm 1999 đã nhập chung các tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 185c), tội vận
chuyển trái phép chất ma túy (Điều 185d), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều
185đ), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 185e) thành tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194).
Mua bán trái phép chất ma túy đã và đang trở thành một vấn nạn to lớn, đòi
hỏi cộng đồng quốc tế phải chung sức đấu tranh phòng, chống. Nhận thức rõ được
tầm quan trọng của vấn đề này, từ lâu trên thế giới đã hình thành các tổ chức với các
quy định để làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh chống việc mua bán trái phép chất
ma túy. Trong đó, có ba Công ước quốc tế quan trọng nhất của Liên hợp quốc về
kiểm soát ma túy được cả thế giới đồng lòng, là nền tảng cơ sở cho chính sách hình
sự của các quốc gia về các tội phạm ma túy, bao gồm: Công ước thống nhất về các
chất ma túy năm 1961, Công ước về các chất hướng thần năm 1971, Công ước về
chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần năm 1988.
Thứ nhất, Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961.
Công ước có hiệu lực từ năm 1964 là do tình hình buôn bán và sử dụng các
chất ma túy trong những năm 1960 đã trở nên phức tạp, đây là một trong những mốc
quan trọng nhất trong lịch sử đấu tranh chống ma túy quốc tế. Một điểm rất quan
trọng của Công ước là nghĩa vụ hình sự hóa hành vi phạm tội theo yêu cầu của Công
ước đối với các quốc gia thành viên, trong đó có hành vi mua bán trái phép chất ma
túy.
Điểm a khoản 1 Điều 36 của Công ước quy định: “1.a) Tùy theo hạn chế do
Hiến pháp đặt ra, các bên áp dụng các biện pháp để bảo đảm rằng việc trồng trọt,
sản xuất, điều chế, chiết xuất, pha chế, cất giữ, biếu tặng, chào hàng, phân phối,
mua, bán, giao hàng theo bất kỳ điều kiện nào: môi giới, gửi hàng, quá cảnh, vận
chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu chất ma tuý trái với các quy định của Công ước này và