Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh thái nguyên hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HUY HOÀNG

CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Lý luận Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60380101
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Động

HÀ NỘI - 2013


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

11

thức và phương pháp
1.1.1. Khái niệm “phổ biến, giáo dục pháp luật” và những đặc điểm cơ

11

bản của nó
1.1.2. Nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật

18

1.2. Những điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

21

trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.2.1. Về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa và xã hội

21

1.2.2. Về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phổ biến, giáo dục pháp luật

25

1.2.3. Về pháp luật và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ phổ biến, giáo

27

dục pháp luật

55

2.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật

58

trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.2.1. Về nhận thức tư tưởng

58

2.2.2. Về nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật

59

2.2.3. Về chỉ đạo, lãnh đạo, kiểm tra, giám sát công tác phổ biến, giáo

62

dục pháp luật
2.2.4. Về việc bảo đảm những điều kiện cho công tác phổ biến, giáo dục

64

pháp luật
Kết luận của Chương 2

68

Kết luận chung

quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành động
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công
dân đều bị xử lý theo pháp luật".
Có thể thấy rằng, tăng cường pháp chế XHCN chính là điều kiện quan trọng
để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Để tăng cường pháp chế
XHCN thì trước hết phải đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân
dân, trước hết là trong Đảng và các cơ quan nhà nước, làm cho mọi người hiểu và
làm theo pháp luật một cách thống nhất.
Từ những khái quát trên đây chúng ta nhận thấy, để thực hiện tốt chức
năng quản lý nhà nước và quản lý xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí của một nhà
nước pháp quyền, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật thì phải từng
bước trang bị những kiến thức về nhà nước và pháp luật một cách đầy đủ và kịp thời
đến toàn thể cán bộ, công chức và đông đảo nhân dân tạo cơ sở, điều kiện cho việc
nâng cao ý thức tôn trọng, tự giác chấp hành pháp luật của mỗi công dân.


2
Qua khảo sát, nghiên cứu về thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua cho thấy: công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật ở tỉnh Thái Nguyên đã từng bước đi vào nề nếp, tạo được sự
chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động ở các cấp, các ngành, địa phương
trên địa bàn tỉnh; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ tỉnh đến cơ sở thường
xuyên được củng cố, kiện toàn và ngày càng hoạt động có hiệu quả. Đội ngũ cán bộ
làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các ngành, các cấp đang từng bước được
củng cố, bên cạnh đội ngũ cán bộ chuyên trách, đã và đang xây dựng được một lực
lượng đông đảo cán bộ cơ sở tham gia vào công tác này. Các hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật đã mang tính thiết thực, gắn với từng đối tượng và đáp ứng yêu

hoạt động quản lý nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện
nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực tế còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc cũng như những tồn tại, hạn chế nhất định. Qua quá trình nghiên
cứu, học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội, với những kiến thức lý luận được các
thày, cô giáo cung cấp, trang bị, cùng với thực tiễn công tác của bản thân, tôi chọn
chủ đề: “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp
Thạc sỹ Luật học. Tôi hy vọng luận văn sẽ góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất
lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật ở địa phương trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay. Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm.
Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố, như:
Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong đào tạo sỹ quan hậu cần hiện nay
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê Hồng Sơn - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2004 [27]. Trong Luận văn này, tác giả Lê Hồng Sơn đã nêu những vấn
đề về cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong đào tạo sỹ
quan hậu cần. Tác giả cũng đề cập đến các vấn đề xung quanh khái niệm và những
tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục pháp luật trong đào tạo sỹ quan hậu cần, khảo
sát và nêu ra thực trạng chất lượng giáo dục pháp luật trong đào tạo sỹ quan hậu cần
như: thực trạng chất lượng nội dung, phương pháp, hình thức; thực trạng chất lượng
đội ngũ những người làm công tác giáo dục pháp luật và đội ngũ học viên sỹ quan;


4
thực trạng chất lượng công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và môi trường
giáo dục trong học viện... Từ các thực trạng tác giả cũng đã nghiên cứu về nguyên
nhân của thực trạng chất lượng công tác giáo dục pháp luật trong đào tạo sỹ quan
hậu cần từ đó đề ra những yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật

công tác quản lý ngay từ cấp chính quyền cơ sở, là nơi có nhiều đồng bào dân tộc ít
người sinh sống với sự đa dạng phong tục, tập quán tham gia chi phối, điều chỉnh
quan hệ xã hội, mà nhiều khi các phong tục, tập quán đó có vai trò nổi trội hơn pháp
luật, là trở lực đối với việc đưa pháp luật vào cuộc sống; bên cạnh đó cũng theo tác
giả, những khó khăn về địa lý, về giao thông thì dân trí thấp chính là nguyên nhân
kìm hãm phát triển và khiến mặt bằng kinh tế ngày càng tụt hậu, kéo theo sự tụt hậu
trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống, đặt cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
trước những thách thức và đòi hỏi ở họ sự nỗ lực nhiều khi vượt quá khả năng đáp
ứng [21, tr.3]. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến những hạn chế về trình độ, chất
lượng công tác của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã nhất là ở các tỉnh
miền núi phía Bắc là những yếu tố chủ quan cản trở không nhỏ tới sự lớn mạnh của
đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, cản trở không nhỏ đến nhận thức về
nhu cầu hiểu biết pháp luật và khả năng nắm bắt pháp luật của bản thân họ [21, tr.4].
Tham khảo, nghiên cứu Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai giúp tôi
có nhìn nhận rộng hơn về phạm vi nghiên cứu công tác giáo dục pháp luật trong khu
vực các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, trong đó có tỉnh Thái Nguyên, địa phương
mà tôi nghiên cứu xây dựng bản Luận văn tốt nghiệp này. Tuy nhiên, Luận văn trên
chỉ đề cập đến công tác giáo dục pháp luật cho một nhóm đối tượng cụ thể là cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã, mặt khác với phạm vi của một đề tài Luận văn Thạc
sỹ Luật học tác giả không có điều kiện nghiên cứu hết các tỉnh thuộc khu vực miền
núi phía Bắc Việt Nam mà theo tác giả gồm 15 đơn vị hành chính cấp tỉnh được hợp
thành bởi hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc [21, tr.8].
Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật đối với sinh viên trong các trường
Đại học không chuyên Luật ở Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Luật học của Nguyễn
Thu Thủy - Đại học Luật Hà Nội, năm 2006 [37]. Luận văn của tác giả Nguyễn Thu
Thủy đã nêu lên sự cần thiết của việc giáo dục pháp luật trong các trường đại học
không chuyên luật, coi đây là hoạt động mang lại hiệu quả góp phần hình thành ý
thức sống, làm việc theo pháp luật trong thế hệ sinh viên, giúp cung cấp lượng kiến
thức cơ bản và cần thiết cho sinh viên làm hành trang trong cuộc sống và công tác


luật [26, tr.2]. Tác giả cũng đã đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền phổ biến,
giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật của nước ta trong thời gian qua, trên cơ sở


7
những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, tác giả đã nêu ra một số giải pháp
hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật, đây là những đóng góp có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn khá cần thiết của luận văn đối với công tác này trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh chủ yếu nhấn mạnh đến
vấn đề ý thức pháp luật và coi tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật là phương
thức, giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật, do vậy cơ sở lý luận về công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật mới dừng ở góc độ khái quát mà chưa đi sâu phân tích
về vị trí, vai trò, ý nghĩa, đặc điểm…, của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, mặt
khác tác giả sử dụng cụm từ “tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật” là chưa xác
định rõ vai trò, vị trí và những đặc trưng cũng như yêu cầu cụ thể về hình thức,
phương pháp của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở Thành phố
Hà Nội hiện nay – Luận văn Thạc sỹ Luật học của Phạm Kim Dung – Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010 [9]. Luận văn của tác giả Phạm Kim Dung xác
định: để quản lý được Nhà nước và xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí của một nhà
nước pháp quyền, cán bộ, công chức phải được trang bị những kiến thức về nhà
nước và pháp luật một cách đầy đủ và kịp thời [9, tr.1]. Theo tác giả, hiện nay ở
nhiều địa phương, vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức không phải là ít và trong
nhiều nguyên nhân đãn đến sự vi phạm đó có một nguyên nhân cơ bản đó là cán bộ,
công chức chưa nắm vững kiến thức về nhà nước và pháp luật. Tác giả cũng đánh
giá khái quát về kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
của cán bộ, công chức thành phố Hà Nội trong những năm qua, đồng thời chỉ rõ việc
đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục ý thức pháp luật để đáp ứng yêu cầu của công tác quản
lý nhà nước và quản lý xã hội cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay đang còn là

Vũ Bích Ngọc cũng đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giáo dục
pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật trong quân đội nhân dân nói riêng; nghiên
cứu đặc thù của giáo dục pháp luật trong quân đội nhân dân Việt Nam; từ phân tích,
đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật trong quân đội nhân dân Việt Nam từ năm
2008 đến năm 2011, tác giả đã đề xuất và luận chứng những giải pháp cơ bản nhằm
góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục pháp luật trong quân đội
nhân dân Việt Nam. Luận văn đã có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn đối
với công tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật đối với cán bộ,


9
chiến sỹ trong quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, tuy nhiên đối tượng của luận
văn chỉ đề cập đến cán bộ, chiến sỹ trong quân đội nhân dân do đó không khái quát
hết được các đặc điểm về đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp của hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các đối tượng khác và toàn thể nhân dân.
Ngoài sáu Luận văn Thạc sỹ Luật học của các tác giả nêu trên, người viết
cũng tham khảo thêm một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công
bố, tuy nhiên, do khuôn khổ Luận văn có hạn nên không thể nêu khái quát nội dung
cơ bản của các công trình nghiên cứu khoa học này.
Các Luận văn nói trên và các công trình do tác giả nghiên cứu, tham khảo đã
nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp
luật trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có hệ
thống vấn đề này trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Song các công trình nghiên cứu
trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn khá phong phú để giúp tôi có cơ sở để hoàn
thành bản luận văn này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng
như cán bộ, công chức, viên chức, phụ nữ, thanh niên, nông dân, đồng bào dân tộc

thuộc tỉnh Thái Nguyên; phục vụ việc biên soạn thành đề cương bài giảng của đội
ngũ báo cáo viên pháp luật của tỉnh Thái Nguyên, các cơ sở giáo dục khác và làm tài
liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật các cấp ở tỉnh Thái Nguyên.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết
cấu thành hai chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay; Chương 2: Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên hiện nay.


11
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
1.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật: khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình
thức và phƣơng pháp
1.1.1. Khái niệm “phổ biến, giáo dục pháp luật” và những đặc điểm cơ bản
của nó
Theo Từ điển tiếng Việt [18] thì khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật là
một từ ghép bởi hai từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật, theo đó, phổ biến
pháp luật có nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, phổ biến, giáo dục pháp luật
là giới thiệu tinh thần văn bản quy phạm pháp luật cho đối tượng của nó. Theo nghĩa
rộng, phổ biến, giáo dục pháp luật là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên
cả nước, trong các văn bản ở nước ta, nghĩa này được sử dụng nhiều hơn nghĩa hẹp.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật có nghĩa là: truyền
bá, cung cấp những kiến thức khoa học về pháp luật; những nội dung quy định của pháp
luật tới đối tượng để đối tượng có được những nhận thức đúng đắn, khoa học về pháp
luật từ đó hình thành niềm tin, thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn để thực hiện pháp

danh tư pháp, các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân và gia đình. Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách
nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho hội viên, đoàn viên của tổ chức
mình; vận động nhân dân chấp hành pháp luật; phối hợp với cơ quan nhà nước, tổ
chức hữu quan phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân; xây dựng, tập huấn, bồi
dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật của tổ chức mình;
vận động tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia và hỗ trợ hoạt động phổ biến giáo
dục pháp luật; tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phổ biến,
giáo dục pháp luật. Các tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp
có trách nhiệm tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân; tổ chức phổ
biến giáo dục, pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; kết
hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn; tạo điều kiện
cho thành viên của tổ chức, công chức, viên chức, giảng viên, học viên, sinh viên
tham gia hoạt động tình nguyện phổ biến, giáo dục pháp luật. Các cơ sở giáo dục
của hệ thống giáo dục quốc dân căn cứ vào nội dung, hình thức giáo dục pháp luật ở


13
từng cấp học và trình độ đào tạo, các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
có trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật, bố trí giáo viên dạy môn giáo
dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật, đồng
thời phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật trong các
cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Các thành viên trong gia đình có
trách nhiệm gương mẫu chấp hành pháp luật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo
dục và tạo điều kiện cho con, cháu tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn
trọng, chấp hành pháp luật.
+ Đối với các chủ thể là cá nhân, phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định
là trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; của cán
bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân; báo

giáo dục pháp luật, theo đó có một số đối tượng như sau: các tầng lớp nhân dân; cán
bộ, công chức, lực lượng vũ trang nhân dân, thanh thiếu niên; người lao động, người
sử dụng lao động, đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ, nông dân…
Thứ ba: phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động nhằm đạt được mục đích
nhất định - đó là giúp nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng, góp phần hình
thành lòng tin vào pháp luật của đối tượng và nâng cao ý thức tự giác chấp hành
pháp luật của đối tượng.
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã
hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình, ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh, dù rằng bản
chất của nó rất tốt đẹp, nhưng những quy định pháp luật đó dù tốt đẹp bao nhiêu
chăng nữa mà không được nhân dân biết đến thì vẫn là những trang giấy ngủ yên
không làm rung động không khí. Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người
tìm hiểu, quan tâm và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu
cầu sản xuất kinh doanh của họ. Những người này luôn theo sát những quy định của
pháp luật mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số
lượng đối tượng này không phải là nhiều. Trong điều kiện trình độ dân trí chưa cao,
đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, cho nên các đối tượng
nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật, nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã
hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật chính là
phương thức truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định
pháp luật đến với người dân, giúp cho nhân dân hiểu biết, nắm bắt kịp thời mà


15
không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó còn là
phương thức hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân.
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng
vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ cho quyền
và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng
và dân chủ xã hội. Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật

định, do đó khi phổ biến, giáo dục pháp luật thì phải xuất phát từ đối tượng được
phổ biến, giáo dục pháp luật để chọn lựa được hình thức tối ưu. Ngoài ra, hình thức
phổ biến, giáo dục pháp luật để phát huy hiệu quả cần phải phù hợp với từng địa
bàn, điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, do đó khi phổ biến, giáo dục pháp luật cũng
phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế - xã hội của nơi tiến hành phổ biến, giáo
dục pháp luật. Trong rất nhiều hình thức như vậy khi tiến hành phổ biến, giáo dục
pháp luật cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc két
hợp đan xen các loại hình thức.
Các phương pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật cũng đa dạng, phong
phú. Trong phổ biến, giáo dục pháp luật, các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật
cần lựa chọn được những phương pháp phù hợp đối với từng hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật cụ thể. Điều đó đòi hỏi người làm phổ biến, giáo dục pháp luật
phải nắm vững những kỹ năng nhất định để sử dụng trong các phương pháp như: kỹ
năng nói và viết, khả năng hòa đồng và giao tiếp... Phổ biến, giáo dục pháp luật là
truyền đạt thông tin pháp luật và giải thích pháp luật cho người khác, chính vì thế
ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, khả năng hòa đồng và giao tiếp đóng vai trò rất quan
trọng cho sự thành công của người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, sự kết
hợp giữa khả năng nói và viết trong bản thân mỗi người làm công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật sẽ là điều kiện quan trọng để đem lại hiệu quả cao trong công tác này.
Đồng thời, phổ biến, giáo dục pháp luật cần đảo đảm tính liên tục, tính hệ thống.
Bảo đảm tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống pháp luật,
trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến văn bản. Điều đó giúp cho
đối tượng hiểu vấn đề sâu hơn. Bảo đảm tính liên tục nghĩa là theo phương châm
"mưa dầm thấm lâu", việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành liên tục,
có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào. Bên cạnh đó, việc sử dụng các
hình thức, phương pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật cần gắn với các yếu tố xã
hội, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, vùng miền nhất định. Pháp luật thực chất là


17

phải đảm bảo tính khoa học. Tính khoa học ở đây trước hết đòi hỏi phải có trình độ


18
pháp lý, chẳng hạn hiểu rõ thành phần của quy phạm pháp luật để hiểu được quy
phạm, hiểu nội dung của quan hệ pháp luật để phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể, từ đó nêu lên được ý nghĩa của quy phạm trong việc điều chỉnh những quan
hệ xã hội.
Phổ biến, giáo dục pháp luật phải đảm bảo, đề cao tính Đảng là vì: pháp luật
và đường lối, chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, pháp luật bao
giờ cũng là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; đường lối,
chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật cũng
chính là việc phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng. Thực hiện không
đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới Nhà nước và xã hội, tổn
hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác
và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội càng được khẳng
định. Do đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao giờ cũng phải đề cao tính
Đảng, sự lơ là, coi thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan,
duy ý chí, phiến diện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một lĩnh vực công tác khó, có tính đặc thù, là
hoạt động có những đặc điểm riêng, có những yêu cầu và đòi hỏi cụ thể đối với
người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nắm bắt những vấn đề cơ bản về
đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật trên đây sẽ giúp cho người làm công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật có cơ sở để tiếp cận, từng bước tham gia và làm tốt
công tác này trọng thực tiễn hoạt động.
1.1.2. Nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật
- Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật
Nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật là các tri thức về pháp luật ở các
cấp độ: tri thức về hệ thống pháp luật thực định và tri thức khoa học chuyên sâu.
Căn cứ vào đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật, chúng ta xác định

định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
Hình thức hiểu theo nghĩa chung nhất là cái bên ngoài, cái chứa đựng nội
dung, là cách thức tiến hành một việc, một hoạt động nào đó [18].
Theo cách hiểu trên đây về khái niệm hình thức, từ đó có thể thấy rằng, phổ
biến, giáo dục pháp luật chính là cách thức mà thông qua đó, chủ thể phổ biến, giáo
dục pháp luật tiến hành hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, cung cấp tri thức
pháp lý cho các đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đạt được mục đích
của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.


20
Thực tiễn trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chúng ta nhận thấy, có
rất nhiều cách thức để tiến hành hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, các cách
thức này rất phong phú, đa dạng và có tính đến đặc điểm của từng đối tượng, điều
kiện của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từng địa bàn, khu vực và đồng thời
có một điểm hết sức quan trọng đó là việc người làm công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật có thể vận dụng, kết hợp một cách hài hòa, phù hợp các hình thức phổ
biến, giáo dục pháp luật trong những hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể.
Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước ở Trung ương
trong những năm qua cho thấy, trước khi có Luật phổ biến, giáo dục pháp luật thì
chưa có văn bản QPPL quy định cụ thể các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
mà chủ yếu dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học, các văn bản không mang tính
quy phạm pháp luật ở góc độ hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ tư pháp và một số cơ
quan cấp Bộ, ngành Trung ương có liên quan. Trên thực tế, việc vận dụng các hình
thức phổ biến, giáo dục pháp luật ở các địa phương được thực hiện đan xen, lồng
ghép với nhau căn cứ vào các hướng dẫn nêu trên có tính đến đặc điểm về đối tượng,
điều kiện của từng địa phương, nhìn chung công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
thường được tiến hành thông qua các các hình thức cơ bản như: tuyên truyền
miệng; trên các phương tiện thông tin đại chúng; biên soạn và phát hành tài liệu

+ Theo tiêu chí cách thức tiến hành, chúng ta có nhiều phương pháp được
xem như phương pháp giảng dạy tích cực như: mô hình hóa, trực quan hóa, tạo tình
huống, nêu gương, kết hợp lý luận với thực tiễn, giải thích, kiểm tra, đánh giá…
Như vậy, có thể thấy rằng, phương pháp là yếu tố quan trọng quyết định đến
hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và phải đạt được mục đích của
hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã được tiến hành. Các phương pháp mà chủ
thể làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có thể vận dụng rất phong phú và đa
dạng, điểm cốt lõi là ở chỗ, cùng với việc lựa chọn được hình thức phổ biến, giáo
dục pháp luật phù hợp, việc kết hợp một cách khoa học, nhuần nhuyễn các phương
pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ giúp hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật đạt hiệu quả cao nhất.
1.2. Những điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.2.1. Về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa và xã hội
Trong những năm qua, nhiều văn bản, nghị quyết quan trọng của BCHTƯ
Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V,
VI, VII, VIII, IX, X, XI [10] đã xác định tầm quan trọng và trách nhiệm của các cơ
quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status