BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
PHÒNG NGỪA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS. NGUYỄN TUYẾT MAI
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong Luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Phượng
Lời cảm ơn
định có vị trí đắc địa về kinh tế - chính trị với đường biên giới dài 132km với
Trung Quốc, cùng những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế. Quảng
Ninh được biết đến là vùng “vàng đen” của tổ quốc bởi đây là nơi khai thác than
sản lượng lớn nhất cả nước.Ngoài ra, tỉnh còn có tiềm năng và hiện đang phát
triển về các ngành công nghiệp nhiệt điện, vật liệu xây dựng, công nghiệp đóng
tầu. Quảng Ninh cũng đồng thời phát triển về du lịch nhờ có vịnh Hạ Long – hai
lần được tôn vinh bởi UNESSCO, hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch
trong nước và quốc tế. Với những lợi thế có được từ vị trí địa lý, tài nguyên thiên
nhiên sẵn có, cùng sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân địa phương, Quảng
Ninh từ một tỉnh chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, nay đã có sự tăng
trưởng kinh tế vững mạnh, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, là một trọng
điểm của vành đai kinh tế Bắc Bộ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Quảng Ninh cũng phải đối mặt với
những khó khăn, thử thách không nhỏ.Đó là kinh tế phát triển chưa bền vững, dân
số tăng nhanh, lượng người từ nhiều nơi đổ về tìm việc đông nhưng tập trung chủ
yếu ở thành thị nên việc giải quyết việc làm cho người trong độ tuổi lao động
chưa được đảm bảo, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng.Các tệ nạn xã hội như
cờ bạc, ngiện hút, mại dâm chưa được đẩy lùi. Một trong những khó khăn lớn mà
tỉnh phải đối mặt là tình hình tội phạm có xu hướng gia tăng mặc dù các cơ quan
chức năng đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực phòng ngừa tội phạm. Cùng với
tình hình tội phạm nói chung, tình hình các tội về ma tuý cũng có sự gia tăng và
ngày càng nghiêm trọng. Thời gian qua, nhóm các tội phạm về ma tuý luôn ở
trong ba nhóm tội phổ biến nhất tại Quảng Ninh. Không những thế, số người
nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh luôn ở mức cao, Quảng Ninh lại có vị trí thuận lợi
để làm điểm trung chuyển ma tuý nên tình hình các tội về ma tuý lại càng diễn
2
biến phức tạp. Người phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, đồng
thời cũng rất manh động, sẵn sàng sử dụng vũ khí nóng, chống trả quyết liệt khi bị
địa bàn toàn quốc, trên một số địa phương nhất định như Sơn La, Thái Nguyên.
Quảng Ninh là một tỉnh có những đặc điểm đặc thù về kinh tế, xã hội, địa lý so
với các địa phương khác trên cả nước, do đó tình hình các tội phạm về ma tuý
cũng có những đặc điểm khác biệt. Công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến
Quang cũng đã nghiên cứu về các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh, nhưng trong giai đoạn 2000 – 2005, cách nay đã gần chục năm, trong khi
tội phạm về ma tuý ở Quảng Ninh những năm qua vẫn không ngừng gia tăng và
có những diễn biến mới. Vì vậy, việc nghiên cứu tình hình các tội phạm về ma
tuý trong giai đoạn 2008 – 2012, xác định nguyên nhân của tội phạm và đưa ra
các giải pháp phòng ngừa các tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là việc
làm mang tính cấp bách, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vinghiên cứu
a) Về đối tượng nghiên cứu: với đề tài trên thì đối tượng nghiên cứu gồm
có tình hình các tội phạm về ma tuý; nguyên nhân của các tội phạm về ma tuý;
và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về ma tuý.
b) Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm
học về các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2008 đến
năm 2012.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu: Mục đích cuối cùng của Luận văn là đề xuất các
biện pháp phù hợp với đặc thù riêng của tỉnh Quảng Ninh để nâng cao hiệu quả
hiệu quả phòng ngừa các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong
thời gian tới.
b) Nhiệm vụ của việc nghiên cứu:để đạt được mục đích nói trên, luận văn
có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Đánh giá tình hình các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012.
- Làm sáng tỏ nguyên nhân của các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.
5
Chương I
Tình hình các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2008 đến năm 2012
“Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra
trong đơn vị không gian và thời gian nhất định”[1,Tr100]. Như vậy, nghiên cứu
tình hình các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cần làm rõ thực
trạng và diễn biến các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong
khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2012.Trong đó, tác giả sử dụng những
số liệu thống kê chính thức của Toà ánnhân dân (TAND) tỉnh Quảng
Ninh.Ngoài ra, tác giả còn sử dụng số liệu thống kê, khảo sát từ 146 bản án hình
sự sơ thẩm xét xử về các tội phạm về ma tuý trong giai đoạn nghiên cứu, được
lựa chọn ngẫu nhiên từ Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
1. Thực trạng của các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2008 đến năm 2012
1.1. Thực trạng của các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2008 đến năm 2012: xét về mức độ
* Tội phạm rõ:
Theo số liệu thống kê của TAND tỉnh Quảng Ninh, trong 5 năm (từ năm
2008 đến năm 2012), TAND các cấp trên địa bàn tỉnh đã xét xử sơ thẩm 2177
vụ, với 2767 bị cáo phạm các tội về ma tuý. Trung bình mỗi năm trên địa bàn
tỉnh xét xử 435 vụ, với 535 bị cáo phạm tội về ma tuý.Số vụ và số bị cáo bị xét
xử sơ thẩm về tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từng năm trong
giai đoạn nghiên cứu được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây.
6
Bảng số 1: Số vụ và số bị cáo đã bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm về ma tuý
636
2012
502
641
Tổng
2177
2767
Số trung bình/năm
435.4
535.4
( Nguồn:Phòng thống kê TAND tỉnh Quảng Ninh )
Biểu đồ 1:Số vụ và số bị cáo đã bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm về ma tuý
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2008 – 2012)
600
535
506
2011
2012
Mức độ các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng được cụ
thể hoá qua các số liệu thống kê về số vụ và số bị cáo phạm tội về ma tuý do
từng đơn vị Toà án trên địa bàn xét xử trong giai đoạn nghiên cứu (bảng số 2).
7
Nhìn chung, các tội phạm về ma tuý diễn ra trên mọi huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, trong đó nhiều nhất tại các thành phố Móng Cái (416 vụ/506 bị
cáo), Hạ Long (411 vụ/492 bị cáo), Cẩm Phả, Uông Bí, sau đó là các huyện, thị
xã Quảng Yên, Đông Triều, Hoành Bồ, tại các địa bàn miền núi và nông thôn
như Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên…Riêng huyện Cô Tô, do một số đặc thù như là
huyện đảo nên cách xa đất liền, đi lại khó khăn, số dân ít, chủ yếu là người đi
biển và làm nông nghiệp nên hầu như không có các tội phạm ma tuý.
Bảng số 2: Số vụ, số bị cáo đã xét xử sơ thẩm về các tội phạm về ma tuý trên
các địa bàn xét xử thuộc tỉnh Quảng Ninh (2008-2012)
Toà án
Số vụ
Số bị cáo
Cấp tỉnh
TP.Móng Cái
TP.Hạ Long
610
506
492
458
383
101
91
45
32
13
11
9
9
5
2
2767
(Nguồn: Phòng thống kê TAND tỉnh Quảng Ninh)
Trong số các tội phạm về ma tuý chỉ có sáu tội danh đã được xét xử trên
thực tế (bảng số 3).Trong đó, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma tuý chiếm nhiều nhất về số vụ, số bị cáo (điều 194), với
2130/2177 số vụ và 2683/2767 số bị cáo. Điều này cho thấy mức độ và tính chất
của các tội phạm về ma tuý ở Quảng Ninh được thể hiện chủ yếu qua các Tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý.
8
Bảng số 3: Các tội phạm cụ thể trong nhóm các tội phạm về ma tuý trên địa
Những con số trên phần nào đã khái quát được thực trạng về mức độ các tội
phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2012. Tuy nhiên,
để đánh giá chính xác và đầy đủ thực trạng về mức độ các tội phạm về ma túy
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả đặt những số liệu trên trong sự phân tích,
so sánh với những số liệu có liên quan.
Thứ nhất, so sánh giữa các tội phạm về ma tuý với tội phạm nói chung trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2008-2012).
Trong 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012, TAND các cấp trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh đã xét xử 7134 vụ, với 12215 bị cáo, trong đó cótới 2177 vụ, với
2767 bị cáo phạm tội về ma tuý. Như vậy, trung bình trong giai đoạn nghiên cứu
số vụ các tội phạm về ma tuý chiếm 30.5%; số bị cáo bị xét xử về các tội phạm
về ma tuý chiếm 20.4% tổng số tội phạm nói chung.Tỷ lệ số vụ, số bị cáo đã bị
xét xử sơ thẩm về các tội phạm về ma tuý qua từng năm cũng luôn ở mức cao
trong tổng số tội phạm đã bị xét xử sơ thẩm (Bảng số 4).Điều này cho thấy mức
độ phổ biến của các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
9
Bảng số 4: Số vụ và số bị cáo các tội phạm ma tuý và tội phạm nói chung đã
bị xét xử sơ thẩmtrên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2008 – 2012)
Số vụ
Số bị cáo
Tội phạm
Tội phạm
Tội phạm Tội phạm
Năm
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
ma tuý
1460
29.0%
535
2661
20.1%
2010
354
1322
26.8%
449
2138
21.0%
2011
524
1422
2767
12215
22.7%
Số TB
435.4
1426.8
30.5%
553.4
2443
22.7%
( Nguồn:Phòng thống kê TAND tỉnh Quảng Ninh )
Biểu đồ 2:Số vụ, số bị cáo các tội phạm về ma tuý và các tội phạm nói chung
đã bị xét xử sơ thẩmở Quảng Ninh ( 2008 - 2012)
2443
2500
2000
1426.8
1500
xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2008 – 2012)
Số vụ
Năm
TP MT
Số bị cáo
XPSH Xâm phạm
TM,SK,NP,DD
TPMT
XPSH
Xâm phạm
TM,SK,NP,DD
2008
374
514
194
506
374
2011
524
450
160
636
876
258
2012
502
497
191
641
977
291
11
Biểu đồ3:Số vụ, số bị cáo các tội phạm ma tuý, các tội xâm phạm sở hữu và
các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người đã xét xử
sở thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2008 – 2012)
865.4
900
800
700
553.4
600
475.2
435.4
500
Số vụ
315
400
300
Số bị cáo
188.6
2008
1135100
374
32.9
506
44.6
2009
1146100
423
36.9
535
46.7
2010
1154900
354
Số TB
1154360
435.4
37.7
553.4
47.9
(Nguồn: Phòng thống kê TAND tỉnh Quảng Ninh, Tổng cục thống kê)
Trong giai đoạn 2008 – 2012, chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội về
ma tuý trung bình ở Quảng Ninh lần lượt là 37,7 và 47,9. Tác giả đặt chỉ số tội
12
phạm và chỉ số người phạm tội về ma tuý ở Quảng Ninh trong sự so sánh với chỉ
số tội phạm và chỉ số người phạm tội về ma tuý trên toàn quốc và hai địa bàn
giáp ranh là Hải Phòng, Lạng Sơn để thấy rõ hơn mức độ phổ biến trong dân cư
của tội phạm về ma tuý ở Quảng Ninh.(Phần tính chỉ số tội phạm và chỉ số
người phạm tội về ma tuýcủa toàn quốc, Hải Phòng, Lạng Sơn được thể hiện ở
phụ lục 1).
Bảng số7: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội ma tuý ở Toàn quốc,
Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn (2008 – 2012)
Năm
45.0
54.7
42.8
54.7
37.7
47.9
Hải Phòng
CSTP CSNPT
18.1
22.1
20.1
23.9
17.5
20.9
20.9
27.1
21.6
27.0
19.7
24.2
Lạng Sơn
CSTP CSNPT
11.4
15.9
16.9
25.9
17.3
25.8
Chỉ số tội phạm
29.3
30
23.2
19.1
20.5
20
17.4
Chỉ số người phạm
tội
13.7
10
0
Quảng Ninh
Hải Phòng
Lạng Sơn
Toàn quốc
Ngoài ra, khi làm rõ thực trạng về mức độ các tội phạm về ma tuý trên địa
TB
1135100
1146100
1154900
1163700
1172000
1154360
Số người
nghiện
1715
1778
1664
1879
2079
1823
Chỉ số người
nghiện
151
155
144
161
177
158
Chỉ số người
phạm tội MT
44.6
44.6
60
54.7
38.9
54.7
Chỉ số người phạm tội về
ma tuý
40
20
0
2008
2009
2010
2011
2012
Để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa tội phạm ma tuý và nghiện, tác giả thống
kê số người nghiện theocác địa bàn trong tỉnh Quảng Ninh tính đến năm 2012.
15
2
H.Cô Tô
0
Tổng số
2079
(Nguồn: Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Quảng Ninh)
Qua số liệu trên, cùng với số liệu về các tội phạm ma tuý phân theo địa bàn
(bảng số 2) thấy các địa bàn có số người nghiện ma tuý đông như Cẩm Phả (794
người), Hạ Long (516 người), Uông Bí (251 người), Móng Cái (242 người) cũng
đồng thời là các địa bàn có số tội phạm về ma tuý nhiều. Ngược lại, các địa bàn
ít hoặc không có người nghiện ma tuý như Bình Liêu, Ba Chẽ, Cô Tô thì số vụ
các tội phạm về ma tuý cũng rất ít.Điều này chứng tỏ giữa số người nghiện ma
tuý và tội phạm ma tuý có liên hệ chặt chẽ với nhau.
* Tội phạm ẩn:
Nghiên cứu về thực trạng của tội phạm không chỉ dựa vào việc nghiên cứu
về những vụ phạm tội đã được xét xử (tội phạm rõ) mà còn phải nghiên cứu tội
phạm ẩn. “Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể
hiện trong các thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý
hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm[1, Tr 203]. Thực tế cho thấy, mỗi
16
loại tội phạm có một tỷ lệ ẩn khác nhau. Trong phần này, tác giả đưa ra cách
tính thể hiện mức độ (tương đối) của tội phạm ẩn như sau:
Trong giai đoạn 2008-2012, trung bình mỗi năm tỉnh Quảng Ninh có 1823
người nghiện. Giả sử số người nghiện này sử dụng trung bình mỗi ngày sử dụng
3 - 5 liều heroin, trung bình mỗi ngày 0,02 gam heroin (lấy heroin vì đây là loại
ma tuý phổ biến nhất). 01 năm có 365 ngày, vậy trung bình mỗi năm số người
nghiện này phải sử dụng 39924 – 66539g heroin. Trong khi đó, theo số liệu của
Công an tỉnh Quảng Ninh, trong giai đoạn 2008-2012 thu giữ được 61329g
giấu của tội phạm về ma tuý cao, khó phát hiện và giải quyết hết.
Qua nghiên cứu thực trạng xét về mức độ của các tội phạm về ma tuý trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2012, có thể thấy đây là nhóm tội phổ
biến, luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tội phạm đã xét xử trên địa bàn tỉnh. Khi
so sánh với toàn quốc, các địa phương khác, mức độ phổ biến của các tội phạm
về ma tuý trong dân cư ở Quảng Ninh cũng ở mức cao. Tội phạm ma tuý ở
Quảng Ninh có mối liên hệ với người nghiện ma tuý. Chính vì vậy, các tội phạm
về ma tuý chủ yếu xảy ra tại các khu vực thành thị, nơi tập trung đông người
nghiện ma tuý. Trong số các tội phạm về ma tuý thì Tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý là nhóm tội phổ biến nhất. Tỷ lệ
ẩn của các tội phạm về ma tuý ở mức cao.
1.2 Thực trạng của các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
từ năm 2008 đến năm 2012: xét về tính chất
Thực trạng của tội phạm xét về tính chất được phản ánh qua các cơ cấu của
tội phạm. Qua cơ cấu của tội phạm theo tiêu thức nhất định có thể rút ra được
nhận xét về tính chất của tội phạm [2, Tr224]. Trong thời gian từ năm 2008 đến
năm 2012, TAND các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm2177 vụ
với 2767 bị cáo phạm các tội phạm về ma tuý. Trên cơ sở các số liệu thống kê
và khảo sát từ 146 bản án hình sự sơ thẩm, với 230 bị cáo đã xét xử trong thời
gian 5 năm, cơ cấu của các tội phạm về ma tuý được tác giả xác định theo những
tiêu chí sau:
18
1.2.1. Thực trạng của các tội phạm về ma tuý phản ánh qua cơ cấu theo tội
danh
Các tội phạm về ma tuý được quy định tại chương XVIII BLHS, gồm 10
tội danh (từ điều 192 đến điều 201).Ở Quảng Ninh, số bị cáo phạm tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma tuý chiếm số lượng lớn và phổ
biến nhất (96.9%). Các tội danh khác chiếm số lượng rất nhỏ, và cũng chỉ có
phép hoặc chiếm đoạt
chất MT
Các tội danh khác
Những số liệu trên được thống kê theo điều luật. Trong khi đó điều 194 quy
định 4 tội danh nên tác giả khảo sát cơ cấu tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý (điều 194) nhằm đánh giá chính xác thực
trạng về tính chất các tội phạm về ma tuý trên địa bàn Quảng Ninh. Qua khảo sát
230 bị cáo thì có 225 bị cáo bị xét xử về tội danh quy định tại điều 194, trong đó
19
có trường hợp bị cáo bị xét xử về 1 tội danh chứa một hành vi như: Tội tàng trữ
trái phép chất ma tuý, Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, Tội mua bán trái
phép chất ma tuý, hoặc tội danh chứa nhiều hành vi như Tội tàng trữ, vận
chuyển trái phép chất ma tuý; Tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Bảng số 11: Cơ cấu theo tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma tuý
Tổng số
225
100%
Tàng trữ TP
chất MT
73
32.4%
Vận chuyển TP
chuyển trái phép chất ma tuý thường rất lớn, và thường nằm trong những vụ án
đồng phạm có tổ chức. Điển hình là vụ Lê Văn Đoài cùng đồng bọn (6 bị cáo):
ngày 25/12/2011, tại khu vực KM200+100 quốc lộ 18A thuộc xã Hải Lạng,
huyện Tiên Yên, phòng PC47 đã phát hiện, bắt giữ Lê Văn Đoài, Đoàn Văn
Tuấn, Tạ Minh Quang khi đang vận chuyển 12 bánh heroin. Các bị cáo khai
nhận đã nhận số ma tuý này từ Nguyễn Thanh Toàn, vận chuyển đến Móng Cái