BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------------------
HOÀNG THỊ KIM ANH
TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG,
MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN
HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (ĐIỀU 226B)
Chuyên ngành: Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CAO THỊ OANH
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm .................................................................26
2.1.3. Chủ thể của tội phạm ..............................................................................43
2.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm ....................................................................44
2.2. HÌNH PHẠT .................................................................................................47
2.3. PHÂN BIỆT TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN
THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH
VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC .................51
2.3.1.Phân biệt với tội trộm cắp tài sản (điều 138 BLHS) ...............................51
2.3.2. Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 BLHS) ..............52
2.3.3. Phân biệt với các tội trong lĩnh vực CNTT (điều 224, 225, 226, 226a) .53
CHƢƠNG III - THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ
VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC
THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN ...................55
3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN
THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH
VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN .............................................................................55
3.2. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ......................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS :
Bộ luật Hình sự
công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ mọi mặt đời sống xã hội [50], xếp thứ 56 thế
giới về chỉ số cạnh tranh CNTT năm 2009 [51] và được đánh giá là không lạc hậu
về CNTT [52]. Thực tế cũng cho thấy rằng tốc độ phát triển CNTT và ứng dụng
CNTT của nước ta đang phát triển một cách rõ rệt thể hiện trên các lĩnh vực lớn như
phạm vi phủ sóng của mạng viễn thông, mạng internet, tốc độ phát triển của các
thuê bao mạng, các sản phẩm CNTT được sử dụng rộng rãi. Theo xu hướng mới
của toàn thế giới cũng như chính sách áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt của
Chính phủ thì cho tới tháng 9 năm 2012 cả nước ta đã có tới 39 triệu tài khoản cá
nhân, thẻ ngân hàng đã được đông đảo người dân sử dụng với hơn 60 triệu thẻ và
339 thương hiệu thẻ. Tính từ đầu năm 2012 đến tháng 9 năm 2012 đã có gần 1,1
triệu ví điện tử được mở với khoảng 5 triệu giao dịch và tổng giá trị giao dịch đạt
trên 2550 tỷ đồng [56].
Tuy nhiên, sự phát triển CNTT ở nước ta cũng kéo theo những mặt hạn chế
nhất định. Có thể kể những bất cập phát sinh trong quá trình ứng dụng CNTT vào
cuộc sống như sau: năm 2011 Việt Nam đứng thứ 11 trên toàn cầu về các hoạt động
nhằm đe dọa tấn công mạng và hiểm họa mã độc; đã có khoảng 18,5 triệu thông tin
định danh bị rò rỉ [53]; năm 2012 xếp thứ 9 trong các nguồn phát tán thư rác [54] và
đứng thứ tư về các hoạt động “tiếp tay” cho thư rác [55]. Tội phạm lợi dụng CNTT
để chiếm đoạt tài sản ngày một gia tăng. Trong những năm gần đây, số vụ án bị
điều tra, phát hiện và xử lý ngày càng nhiều và có tính chất phức tạp. Các hành vi
phạm tội đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Phương thức, thủ đoạn của
người phạm tội ngày một tinh vi hơn. Do tính chất mở của mạng không gian ảo và
2
điện toán đám mây mà tội phạm có tính chất quốc tế rõ rệt. Người phạm tội chủ yếu
là những người trẻ tuổi, am hiểu về CNTT và sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nên
việc điều tra, phát hiện các hành vi phạm tội là rất khó khăn. Hơn nữa, quy định của
Bộ luật hình sự (BLHS) còn có nhiều điểm chưa hoàn thiện khiến cho việc điều tra,
Điều 226b mới được bổ sung vào BLHS năm 2009 nên những nghiên cứu về
tội này còn khá khiêm tốn.
Về mặt lý luận, đã có các công trình về tội phạm tại điều 226b được công bố
như sau:“Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập II” (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
năm 2010) của trường Đại học Luật Hà Nội [26]; “Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm
2010) của TS. Nguyễn Đức Mai và đồng tác giả [18]; “Bình luận khoa học Bộ luật
Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 tập I” (Nxb Lao động, Hà Nội năm
2009) của TS. Trần Minh Hưởng và đồng tác giả [22]. Các công trình trên chủ yếu
nêu một cách khái quát và ngắn gọn những dấu hiệu pháp lý cũng như hình phạt của
tội phạm quy định tại điều 226b.
Đề cập tới tội phạm chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao có các công trình
như: “Tội phạm trong lĩnh vực Công nghệ thông tin” (Nxb Tư pháp, Hà Nội năm
2007) của TS. Phạm Văn Lợi và đồng tác giả đã đề cập tới đặc điểm của tội phạm
CNTT nói chung, quy định của các quốc gia và tổ chức trên thế giới trong đó có tội
phạm chiếm đoạt tài sản bằng các thiết bị công nghệ cao; “Tội phạm công nghệ
thông tin và sự khác biệt giữa tội phạm công nghệ thông tin với tội phạm thông
thường” của tác giả Đặng Trung Hà, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 3 năm 2009 chủ
yếu so sánh tội phạm có sử dụng thiết bị công nghệ cao và tội phạm truyền thống. Các
công trình này không đề cập cụ thể hay mô tả chi tiết về các hành vi phạm tội tại điều
226b mà chỉ nghiên cứu tội phạm CNTT dưới góc độ chung chung.
Ngoài ra, còn có một số công trình khác như: “Tội trộm cắp tài sản và đấu
tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam” - Luận án tiến sĩ luật học của TS.
Hoàng Văn Hùng bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007; “Xác định tội
Trộm cắp tài sản đối với người lắp đặt thiết bị thu phát viễn thông để thu lợi bất
chính là có căn cứ” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm
2004; “Chưa có căn cứ để truy cứu TNHS đối với hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị
viễn thông trái phép” của tác giả TS. Lê Đăng Doanh, Tạp chí Toàn án nhân dân số
5
khác… Quan điểm duy vật lịch sử là cơ sở để nghiên cứu các nguyên nhân ra đời
của điều luật. Quan điểm này cũng giúp tác giả hình dung thực trạng áp dụng pháp
luật trước khi và sau khi ra đời điều luật này.
Đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp với một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh…
Nhờ các phương pháp nói trên, luận văn có thể làm rõ được quy định của tội phạm
tại điều 226b, làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật của điều luật, chỉ ra những hạn chế
của luật hình sự về tội phạm này để từ đó có hướng đề xuất hoàn thiện.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Đây là một công trình khoa học nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ đầu tiên tiếp cận
một cách toàn diện và tương đối đầy đủ các vấn đề về tội phạm quy định tại điều
226b. Công trình nghiên cứu đã có những đóng góp mới như sau:
1. Phân tích được các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng điều luật.
2. Đưa ra khái niệm, đặc điểm và bản chất của tội phạm quy định tại điều
226b BLHS.
3. Nghiên cứu một cách có chọn lọc quan điểm của luật hình sự các nước
Trung Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Cộng hòa liên bang Đức, Canada, Hoa Kỳ,
Anh và Hội đồng Châu Âu về tội phạm mạng (Công ước Budapest) về tội phạm
chiếm đoạt tài sản có sử dụng công nghệ cao.
4. Phân tích một cách toàn diện các quy định trong BLHS và văn bản hướng
dẫn về tội phạm tại điều 226b. Tìm ra những hạn chế trong quy định của pháp luật
về điều 226b.
5. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về điều 226b BLHS trong đó chỉ
ra những kết quả đạt được trong phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm cũng như
những hạn chế còn vướng mắc.
6. Đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam
sáng tỏ.
1.1.1. Cơ sở khoa học
Việc quy định tội phạm tại điều 226b chính là việc đã hình sự hóa một hành vi
từ không phải là tội phạm trở thành tội phạm. Hành vi này được bổ sung bởi vì nó
gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, diễn ra ngày càng phổ biến và phù hợp với chính
sách hình sự của nước ta.
Các hành vi quy định tại điều 226b có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội
mà các biện pháp phi hình sự không thể ngăn chặn một cách hiệu quả. Nhiều luật và
văn bản luật đã ra đời quy định các hành vi bị cấm cũng như biện pháp xử lý đối với
người vi phạm như: luật CNTT, luật giao dịch điện tử, luật viễn thông, các nghị
định của Chính phủ về lĩnh vực CNTT… Tuy nhiên, các quy định đó chưa được áp
dụng hiệu quả do mức xử phạt còn thấp, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát. Các vi
phạm trong lĩnh vực CNTT ngày càng gia tăng và ngày càng ảnh hưởng xấu đến xã
hội. Thời gian qua, tội phạm còn sử dụng các thiết bị CNTT để gây thiệt hại lên các
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đó là quan hệ sở hữu, an toàn trong lĩnh
vực CNTT, trật tự quản lý kinh tế. Càng ngày, thiệt hại về tài sản, máy móc, thiết bị
do các hành vi đó gây ra càng cao, uy tín của các tổ chức, cá nhân, ngân hàng bị ảnh
8
hưởng. Không những thế, loại tội phạm này còn tổn hại đến uy tín trong thanh toán
và giao dịch điện tử của Việt Nam với các nước trên thế giới. Hiệp hội thẻ quốc tế
khuyến cáo: nếu năm 2010 tình hình trộm cắp thông tin thẻ tín dụng của Việt Nam
không giảm xuống dưới 5% doanh số bán vé qua mạng thì họ sẽ không cho các loại
thẻ Visa và Master mua vé máy bay của Vietnam Airline nữa. Như vậy,
VietnamAirline mất một lượng lớn khách hàng mua vé bằng thẻ với doanh thu hàng
tỷ đồng mỗi năm.
Những hành vi được quy định tại điều 226b diễn ra ngày càng phổ biến và lặp
đi lặp lại nhiều lần. Từ năm 1999 khi BLHS ra đời, đã xuất hiện các hành vi trộm
Về mặt lý luận thì việc hình sự hóa các dạng hành vi quy định tại điều 226b là
phù hợp với khoa học luật hình sự. Hơn nữa, BLHS không có điều luật nào làm cơ
sở pháp lý đầy đủ để truy cứu TNHS đối với các hành vi trên. Vì vậy, có thể khẳng
định bổ sung điều 226b vào BLHS Việt Nam là việc làm phù hợp và cần thiết.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Thứ nhất, CNTT là một thành tựu của thế hệ mới, nó ngày càng được ứng
dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống xã hội đặc biệt là các hình thức lưu giữ và
sử dụng tiền điện tử. Việc sử dụng thẻ rút tiền, thẻ visa, thẻ tín dụng đã trở nên quen
thuộc và phổ biến ở nước ta. Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn cũng sử dụng phương
thức thanh toán tiền điện tử để thực hiện các giao dịch lớn với các đối tác trên thế
giới. Tội phạm CNTT cũng đã nắm bắt được vấn đề này và bắt đầu có những cách
thức tấn công vào các tài sản ảo trên mạng.
Thứ hai, trước khi điều 226b ra đời, đã có sự tranh luận, chưa thống nhất trong
giới khoa học Việt Nam về một số loại hành vi phạm tội có liên quan đến CNTT và
viễn thông như sau:
Hành vi 1: dùng thẻ của người khác hoặc dùng thẻ giả rút tiền từ máy ATM có
ba quan điểm về định tội danh như sau: quan điểm 1 cho rằng đây là hành vi cấu
thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại điều 139 BLHS vì người phạm tội đã sử
dụng thông tin sai sự thật để đánh lừa người quản lý và chiếm đoạt tài sản [16,
tr.38-39]; quan điểm 2 cho rằng đây là hành vi cấu thành tội trộm cắp tài sản vì dữ
liệu mật mã của thẻ như một “chìa khóa”, việc dùng “chìa khóa” đó để mở tài khoản
tại các máy ATM để lấy tiền mặt thì có thể coi là lén lút đối với người quản lý tài
10
sản là các ngân hàng [13]; quan điểm 3 cho rằng đây là hành vi mới, không phù hợp
với cấu thành tội phạm (CTTP) của tội nào trong BLHS do vậy cần được bổ sung
vào BLHS Việt Nam nhóm hành vi này vì trong hành vi này người phạm tội lén lút
với chủ tài khoản nhưng lại thực hiện hành vi lừa đảo đối với các ngân hàng (người
sản của người khác [23]; quan điểm 4 cho rằng chưa có đủ căn cứ để truy cứu
TNHS với hành vi này bởi vì không phù hợp với bất cứ CTTP nào được quy định
trong BLHS hiện hành, chỉ có thể xử lý hành chính đối với hành vi này. Những
người theo quan điểm này đề nghị BLHS cần bổ sung một tội danh mới về loại hành
vi này [10], [12], [14], [24].
Thứ ba, thực tiễn xét xử trước khi điều 226b ra đời không thống nhất về tội
danh đối với một số hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là đối với ba hành vi sau đây:
Hành vi thứ nhất, người phạm tội dùng thẻ của người khác hoặc dùng thẻ giả
rút tiền từ máy ATM. Trước khi điều 226 được bổ sung có tòa xử về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, có tòa lại xử về tội làm, tàng trữ, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác. Bản án số: 199/2001/HSST, tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà
Nội năm 2001 đã xét xử Lê Đồng N cùng đồng bọn sử dụng thẻ tín dụng giả để rút
tiền tại Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản [13]. Theo bản án số: 581/HSST
ngày 15/4/2005 của TAND thành phố H đã xử bị cáo Wong Chi F người Đài Loan
và đồng bọn về tội tàng trữ, lưu hành các giấy tờ có giá giả khác do có hành vi sử
dụng thẻ tín dụng giả mua hàng ở các cửa hàng chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín
dụng [13].
Hành vi thứ hai, người phạm tội sử dụng những thông tin, dữ liệu có được để
xâm nhập vào tài khoản của người khác chiếm đoạt tài sản. Cũng có hai quan điểm
của các tòa án cho rằng hành vi này thuộc CTTP của tội trộm cắp tài sản và tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 23/3/2008 TAND thành phố Hải Phòng đã xét xử
Nguyễn Quý Phúc mười một năm tù vì tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi mà
Phúc đã thực hiện là trộm thông tin nick chat sau đó thực hiện hành vi lừa đảo để có
được các thông tin tài khoản ngân hàng và chiếm đoạt tài sản [30]. Cuối năm 2011
TAND thành phố Hà Nội đã xử Huỳnh Ngọc Long về tội “trộm cắp tài sản” với
hành vi tìm mua các thông tin thẻ tín dụng sau đó sử dụng chúng để mua hàng hóa
và thanh toán dịch vụ qua mạng internet từ năm 2007 đến năm 2009 [31].
các hành vi tại điều 226b là việc làm cần thiết.
13
Điều 226b ra đời là sự phù hợp về mặt lý luận và cần thiết về mặt thực tiễn.
Do đó, các nhà làm luật đã bổ sung điều luật này trong lần sửa đổi bổ sung BLHS
năm 2009.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ BẢN CHẤT CỦA TỘI SỬ DỤNG MẠNG
MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ
SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.2.1. Khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet
hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Ngày nay, trong bối cảnh CNTT phát triển đã có nhiều loại tội phạm mới phát
sinh trong lĩnh vực này. Trong nghiên cứu khoa học, đã có nhiều quan điểm khác
nhau của các nhà nghiên cứu về khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT. Nổi bật
nhất là hai quan điểm như sau:
Quan niệm thứ nhất các nhà khoa học cho rằng tội phạm trong lĩnh vực CNTT
là khái niệm chỉ những loại tội phạm có liên quan tới máy tính và các thiết bị công
nghệ hiện đại với ba vai trò là mục đích của tội phạm, phương tiện phạm tội, là vật
trung gian trong quá trình phạm tội. Theo quan điểm này thì tất cả các loại tội phạm
cứ có sự tham gia của máy móc, thiết bị CNTT đều được coi là tội phạm trong lĩnh
vực CNTT ví dụ như: đánh bạc qua mạng, lừa đảo qua mạng, tống tiền qua mạng…
Tội phạm CNTT chẳng qua chỉ là một biểu hiện mới của tội phạm truyền thống.
Như vậy thì tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc
thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản về bản chất cũng là một trong những
tội phạm truyền thống, là tội phạm có tính chất chiếm đoạt mà có sự tham gia của
máy móc, thiết bị công nghệ cao. Những người theo quan điểm này cho rằng tội sử
dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản là việc một người dùng thủ đoạn lén lút hoặc lừa đảo
trong thương mại điện tử (TMĐT), kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua
bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân; hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Quan điểm này đã liệt kê rất chi tiết các hành vi của tội phạm, các cách thức,
thủ đoạn mà tội phạm thực hiện để chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì cho rằng
tội phạm CNTT khác với tội phạm truyền thống nên những người theo quan điểm
15
này đưa ra khái niệm nhằm nhấn mạnh về mặt hành vi của tội phạm để chứng minh
rằng đây là một loại tội phạm có những dạng hành vi riêng biệt và thay đổi về mặt
bản chất của tội phạm. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có những hạn chế nhất định đó
là đã quá miêu tả chi tiết về mặt hành vi trong khi một khái niệm khoa học cần phải
ngắn gọn, súc tính và bao quát được đầy đủ các vấn đề của tội phạm. Hơn nữa, cách
quy định này cũng chưa nhấn mạnh được bản chất của tội phạm là mục đích nhằm
chiếm đoạt tài sản mà chỉ liệt kê các hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học luật hình
sự tác giả luận văn đưa ra khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng internet hoặt thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:
tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặt thiết bị số thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng internet hoặt thiết bị số để thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản
của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đủ độ tuổi
thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu được luật hình sự bảo vệ.
Theo tác giả luận văn, khái niệm này đã liệt kê đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm,
nhấn mạnh được đặc điểm về hành vi sử dụng máy móc CNTT để chiếm đoạt tài
sản, nêu được bản chất của tội phạm là có tính chiếm đoạt và có tính khái quát cao
hơn so với hai khái niệm trên.
1.2.2. Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
không có nghĩa là biết tường tận mọi vấn đề liên quan đến CNTT mà người phạm tội
chỉ cần biết được những vấn đề có liên quan và hỗ trợ cho hành vi phạm tội của mình.
Đó là một số đặc điểm khái quát nhất về tội phạm tại điều 226b. Vì tội này
quy định bốn nhóm hành vi nên đối với mỗi hành vi cụ thể, ngoài những đặc điểm
này, tội phạm còn có những đặc điểm riêng và sẽ được tác giả trình bày cụ thể trong
chương II của luận văn này.
1.2.3. Bản chất của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Các tội phạm truyền thống như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử
dụng trái phép tài sản… được thực hiện bằng các hành vi thông thường không có sự
17
hỗ trợ của máy tính và các mạng CNTT. Khi CNTT phát triển thì các hành vi, thủ
đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác cũng có những biểu hiện mới. Những
phương tiện CNTT có vai trò giúp cho mục đích chiếm đoạt tài sản của tội phạm đạt
được một cách dễ dàng. Máy móc chỉ làm thay đổi dạng hành vi thực hiện chứ
không làm thay đổi bản chất của tội phạm.
Mục đích của tội phạm là nhằm chiếm đoạt tài sản. Mục đích này của người
phạm tội chi phối việc thực hiện hành vi của họ. Tài sản là đối tượng mà người
phạm tội hướng tới và còn đang nằm trong sự sở hữu của người chủ sở hữu. Tất cả
các hành vi phạm tội, phương tiện phạm tội, thủ đoạn phạm tội, được sử dụng đều
hướng tới việc chuyển dịch quyền sở hữu từ người này sang người khác, làm cho
chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình đồng thời tạo cho người
chiếm đoạt quyền đối với tài sản đó. Mục đích này phù hợp với mục đích của nhóm
tội có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu.
Trong tội này, không phải mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet
hoặc thiết bị số là đối tượng tác động của tội phạm mà chính là các tài sản. Mục
đích chiếm đoạt tài sản đã thể hiện rõ cái mà tội phạm muốn tác động tới. Máy tính,
dưới 10 năm hoặc tù chung thân và cũng sẽ bị phạt tiền từ 50000 nhân dân tệ đến
500000 nhân dân tệ hoặc bị tịch thu tài sản: (1) giả mạo hoặc thay đổi hối phiếu,
giấy hẹn trả tiền hoặc séc; (2) giả mạo hoặc thay đổi chứng nhận chuyển tài sản từ
ngân hàng như giấy chứng nhận ủy thác với hóa đơn thanh toán, giấy chứng nhận
gửi tiền và biên lai tiền gửi; (3) giả mạo hoặc thay đổi thư tín dụng hoặc hóa đơn
đính kèm và các văn bản, hoặc (4) làm giả thẻ tín dụng.
Điều 196 quy định: bất cứ ai đánh cắp thẻ tín dụng và sử dụng nó thì người
đó sẽ bị kết án và trừng phạt theo quy định tại điều 264 của Luật này (Điều 264 của
bộ luật này quy định tội trộm cắp tài sản). Như vậy, luật hình sự Trung Quốc xác
định bản chất của hành vi dùng thẻ rút tiền là hành vi xâm phạm quyền sở hữu.
19
Các điều 265, 287 thuộc chương V– tội xâm phạm tài sản quy định như sau:
điều 265 quy định: bất cứ ai, với mục đích vì lợi nhuận, lén lút kết nối đường dây
viễn thông của mình với đường dây của người khác, nhân đôi mã, số viễn thông của
người khác, sử dụng phụ tùng, thiết bị viễn thông trong khi biết rõ rằng nó được lén
lút kết nối với thiết bị viễn thông của người khác thì bị kết án và trừng phạt theo
quy định tại điều 264 của luật này. Điều 287 quy định: bất cứ ai sử dụng máy tính
để thực hiện những tội ác như gian lận tài chính, hành vi trộm cắp, tham ô, biển thủ
công quỹ và đánh cắp bí mật nhà nước bị kết án và trừng phạt theo các quy định có
liên quan của luật này. Như vậy, có thể thấy luật hình sự Trung Quốc gián tiếp xác
định các hành vi như lừa đảo, trộm cắp, tham ô… có sự trợ giúp của máy tính vẫn
xử như các tội thông thường chỉ khác về tình tiết sử dụng máy vi tính để thấy được
bản chất của tội phạm đó là các tội phạm truyền thống chỉ khác là nó có sự tham gia
của máy tính.
Trong BLHS Nhật Bản, điều 246-2 quy định: một người có được hoặc bằng
cách khác được hưởng lợi từ việc tạo ra một bản ghi điện tử sai liên quan đến việc thu
hồi, mất hoặc thay đổi quyền sở hữu; nhập dữ liệu sai hoặc đưa ra các lệnh trái phép
làm giả hay làm sai mà biết được là nó đã có được, hay làm ra hay thay đổi: (i)
thông qua hành vi phạm tội tại Canada, hay (ii) thông qua một hành động hoặc
không hành động ở bất kì nơi nào mà nếu chúng xảy ra tại Canada sẽ cấu thành một
tội, hay (d) sử dụng thẻ tín dụng mà biết là nó đã bị rút lại hay hủy…
BLHS Canada quy định hành vi sử dụng không phép dữ liệu thẻ tín dụng như
sau: bất kì người nào lừa đảo và không có quyền mà chiếm hữu, sử dụng, buôn bán
hay cho phép một người khác sử dụng dữ liệu thẻ tín dụng bất kể là chính thống hay
không mà làm cho một người sử dụng thẻ tín dụng có được các dịch vụ được cung
cấp bởi người phát hành thẻ tín dụng cho người chủ thẻ tín dụng…Đối với loại tội
này, BLHS Canada còn chỉ rõ hành vi của người chấp nhận các thẻ tín dụng thanh
toán hoặc ghi nợ mà biết đấy là thẻ giả hoặc thẻ không được phép sử dụng cũng là
hành vi phạm tội. Đó là một tội phạm với hành vi được mô tả rõ ràng. Các hành vi
trên đã xâm hại đến tài sản hợp pháp của người khác và được BLHS Canada xác
định là các tội chống lại quyền về tài sản thuộc phần IX.