LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Vân Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số
hiệu
Tên bảng
bảng
2.1
Hệ thống các biến sử dụng trong mô hình
Các doanh nghiệp ngành hàng tiều dùng niêm yết trên
2.2
thị trường chứng khoán Việt Nam
2.3
Bảng thu thâp số liệu các biến trong mô hình năm 2016
3.1
Số liệu về tỷ suất sinh lời tài sản
3.2
Số liệu về tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
3.3
Số liệu về chỉ số Tobin’Q
60
61
64
65
66
68
Số
hiệu
bảng
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
Tên bảng
Trang
Ma trân hệ số tương quan
Bảng tổng hợp kết quả hồi quy của mô hình 1
Bảng tổng hợp kết quả hồi quy của mô hình 2
Bảng tổng hợp kết quả hồi quy của mô hình 3
Bảng phân tích phương sai ANOVA với biến phụ thuộc
69
Việt Nam
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp
3.2
3.3
ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
Chỉ số Tobin' Q của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu
dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
56
57
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
biểu đồ
1.1
Cơ cấu quản trị công ty của một công ty cổ phần
Trang
12
6
7
thấp nên tăng trưởng lợi nhuận phải dựa trên một cơ cấu tổ chức hoạt động
sản xuất, kinh doanh hợp lý. Các công ty trong ngành luôn tìm cách giữ cho
mức hàng hóa tồn kho thấp và giá rẻ, những nhà sản xuất hàng tiêu dùng phải
có cơ cấu sản xuất tinh gọn và linh động. Một phương pháp hiệu quả và đã
được thử nghiệm để trở thành một nhà sản xuất tinh gọn là phải tái cấu trúc
trên diện rộng, vốn rất tốn kém trong ngắn hạn nhưng lại được đền bù bằng
hiệu quả trong dài hạn.
Vì vậy, việc gia tăng và duy trì hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
ngành hàng tiêu dùng có ý nghĩa to lớn đối với các doanh nghiệp nói riêng và
cả nền kinh tế nói chung. Từng quyết định của quản trị công ty từ nhỏ nhất
đến lớn nhất đều sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai của doanh nghiệp. Để có
những quyết định và hướng đi đúng đắn nhất, Hội đồng quản trị công ty phải
có đủ nhân lực, năng lực và sự hiểu biết nhất định để có thể xây dựng một hệ
thống quản trị công ty phù hợp nhất. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị
công ty đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng
sẽ giúp đưa ra những gợi ý về quản trị công ty để góp phần tăng hiệu quả hoạt
động của các công ty ngành hàng tiêu dùng tại Việt Nam.
Từ những lý do trên, để làm rõ hơn các nhân tố quản trị công ty ảnh
hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành hàng tiêu
dùng, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đến
hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” để làm luận văn cao học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố quản trị
công ty đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhóm ngành hàng tiêu
dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, xác định hướng và mức
độ tác động của các nhân tố này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
quả hoạt động của doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của quản trị
công ty đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng.
9
Từ đó, đưa ra những gợi ý trong việc xây dựng quyết định, chính sách về
quản trị công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ của quản trị công ty và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ảnh hưởng của quản trị công trị đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp đã và đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên đến
thời điểm hiện tại theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu trong nước
chính thức nào về ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Qua tìm hiểu của tác giả, đã có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty trên
thế giới cũng như trong nước ta trong những năm vừa qua. Đa số các nghiên
cứu này tập trung vào ảnh hưởng của đặc điểm Hội đồng quản trị đến hiệu
quả hoạt động doanh nghiệp.
Năm 2010, O’Connell, V. và Cramer, N. tiến hành nghiên cứu về mối
quan hệ giữa hiệu suất công ty với quy mô Hội đồng quản trị và thành phần
Nghiên cứu “Quản trị công ty và hiệu quả họat động doanh nghiệp: Minh
chứng thực nghiệm từ các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thủy
(2013) được thực hiện với mục đích tìm ra mối quan hệ giữa quản trị công ty
và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở Việt Nam đã lựa chọn đặc điểm quy
mô Hội đồng quản trị,…làm các biến độc lập và chỉ số ROE là biến phụ thuộc
cho đề tài nghiên cứu của mình.
11
Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu ở nước ta và trên thế giới
về quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả nhận thấy
có rất nhiều nhân tố về quản trị công ty mà chủ yếu là các nhân tố liên quan
đến đặc điểm của Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động được
đo lường bằng ROA, ROE hay chỉ số Tobin’Q tại các doanh nghiệp niêm yết
ở các nước cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào được
thực hiện trên một nhóm ngành cụ thể để chỉ ra các nhân tố quản trị công ty
có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động với những đặc điểm riêng
có của ngành, từ đó rút ra hàm ý chính sách phù hợp.
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đây, luận văn
sẽ điều chỉnh và vận dụng cho phù hợp với những đặc điểm của ngành hàng
tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
12
13
(2009) thì hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của
doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, gia trị tăng thêm…) với
đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân
lực…). Như vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả có thể được tính toán
như sau:
1.1.2 Đo lường hiệu quả của một doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, tiêu chí được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều nhất là tỷ
suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) để
đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Hai tiêu chí này được quan
tâm nhiều vì nó phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh hay khả năng tạo ra
lợi nhuận cho các bên liên quan của doanh nghiệp như nhà quản lý, chủ đầu
tư, khách hàng, đối tác. Việc sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi
nhuận để thực hiện phân tích, so sánh, thống kê sẽ cho ra kết quả có ý nghĩa
hơn sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận. Vì chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ số tuyệt đối nên
khi được dùng để so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp trong
khoảng thời gian và không gian khác nhau là rất khập khiểng. Điều này là
hoàn toàn phù hợp với kết quả của P.G. Liargovas và K.S. Skandalis (2010)
trong nghiên cứu về việc sử dụng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động
là 13 nghiên cứu trong tổng số 14 nghiên cứu sử dụng các chỉ số liên quan
đến khả năng sinh lời để đo lường hiệu quả hoạt động. Thêm vào đó, trong
các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời thì ROA và ROE là hai chỉ tiêu
thường được sử dụng nhiều nhất.
- Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
nhằm định hướng, điều hành và kiểm soát công ty. Tác giả Đường Nguyễn
Hưng (2016) cho rằng cấu trúc cốt lõi của quản trị công ty bao gồm các yếu tố
được kết hợp với nhau xung quanh hai vấn đề nền tảng của công ty là sự hoạt
động và sự tuân thủ. Bởi quản trị công ty là cách thức tổ chức và kiểm soát
hoạt động trong khuôn khổ các chuẩn mực, quy định, luật, các chính sách để
đạt được mục tiêu ban đầu đã đề ra. Do sự mở rộng khổng lồ trong phạm vi
của chủ đề này, quản trị doanh nghiệp đã trở thành sự kết hợp đa dạng của
luật, đạo đức kinh doanh, kế toán và tài chính, hành vi tổ chức, quản lý kinh
doanh, kinh tế và chính trị, không có định nghĩa chung được chấp nhận trên
toàn cầu (Solomon, 2007).
Trên thực tế, việc duy trì sự cân bằng giữa việc điều hành và kiểm soát
không hề đơn giản. Các chính sách và quy định của quản trị công ty cần được
xây dựng để có thể sử dụng tối đa mọi nguồn lực, phù hợp với lĩnh vực kinh
doanh cũng như kiểm soát mọi hoạt động xảy ra trong công ty để đạt được
hiệu quả cao nhất, tiến đến phát triển bền vững.
1.2.2 Nguyên tắc quản trị công ty
Theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP ban hành ngày 06 tháng 06 năm 2017,
quản trị công ty là hệ thống các nguyên tắc sau:
a) Đảm bảo cơ cấu quản trị hợp lý;
b) Đảm bảo hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;
c) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan;
d) Đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ đông;
đ) Công khai minh bạch mọi hoạt động của công ty.
Trên cơ sở các nguyên tắc này, các quy định về quản trị cần được xây
dựng nhấn mạnh vai trò của Hội đồng quản trị. Đầu tiên, cơ cấu Hội đồng
quản trị cần bao gồm số lượng và thành phần tùy thuộc vào nhu cầu và mục
tiêu của công ty. Bên cạnh đó, công ty cần cân bằng giữa số lượng thành viên
Kiểm toán độc lập
Ủy ban kiểm toán
Đại hội đồng cổ đông
Ủy ban chính sách phát triển
Ủy ban nhân lực
Ban Kiểm soát
Kiểm toán nội bộ
Hội đồng quản trị
Thư ký công ty
Ủy ban lương thưởng
Ủy ban khác thuộc Hội đồng quản trị
Tổng Giám đốc và
Ban Giám đốc điều hành
Các chủ thể quản trị theo các quy định hiện hành
Các chủ thể quản trị theo thông lệ tốt về quản trị công ty
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu quản trị công ty của một công ty cổ ph ần
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền đưa ra quyết định cao nhất
trong công ty. Tất cả các cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự Đại hội
đồng cổ đông. Đại hội đồng cổ đông thường chỉ đưa ra quyết định đối với
điều hành và Hội đồng quản trị luôn xác định ranh giới làm việc, sự xác định
19
này thể hiện bằng văn bản, tránh được sự chồng chéo, lạm quyền. Ban giám
đốc điều hành chịu trách nhiệm giải quyết công việc hàng ngày của công ty,
thực hiện các chiến lược kinh doanh mà Hội đồng quản trị đã đặt ra cũng như
điều hành công ty đạt được các mục tiêu cuối cùng.
Các Ủy ban trực thuộc
Nhiệm vụ chính của các Ủy ban này là giúp đỡ Hội đồng quản trị trong
việc đảm bảo có được một hệ thống hiệu quả và tuân thủ pháp luật ví dụ như
Ủy ban kiểm toán, Ủy ban chính sách phát triển, Ủy ban chiến lược và đầu tư,
Ủy ban nhân lực, và Ủy ban thu lao và bổ nhiệm.
Kiểm toán độc lập
Luật kiểm toán và các quy định về kiểm toán ban hành rằng việc kiểm
toán thường niên cần phải được một công ty kiểm toán độc lập hợp pháp thực
hiện. Mục đích của quy định này nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài
liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập báo cáo tài
chính.
Ở các công ty niêm yết, kiểm toán độc lập là một bộ phận độc lập với
công ty, do Đại hội đồng cổ đông lựa chọn trong số những công ty kiểm toán
được Bộ Tài chính cấp phép hoạt động để kiểm toán báo cáo tài chính, chuẩn
bị báo cáo kiểm toán và nộp lên Hội đồng quản trị. Kiểm toán độc lập được
tham dự mọi cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, nhận thông báo, thông tin liên
quan tới Đại hội đồng cổ đông mà ở đó các cổ đông được quyền biết và bày tỏ
ý kiến về các vấn đề liên quan đến kiểm toán.
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là một bộ phận được thiết lập độc lập với Hội đồng quản
trị và Ban quản lý, báo cáo trực tiếp lên Đại hội đồng cổ đông với mục đích là
Hội đồng quản trị được thành lập để giám sát việc quản lý và thay mặt
các cổ đông và đánh giá hoạt động quản lý (Westphal & Zajac, 1995;
Williamson, 1984). Có rất nhiều nghiên cứu điều tra những ảnh hưởng của
Hội đồng quản trị đối với hoạt động của công ty. Hầu hết các nghiên cứu này
sử dụng lý thuyết đại diện, giả định rằng các nhà quản lý có khuynh hướng
hành xử theo cơ hội và do đó cần được theo dõi hoặc được khuyến khích động
viên họ hành động vì lợi ích tốt nhất của công ty (Jensen & Meckling, 1976).
Lý thuyết đại diện đề xuất rằng chức năng chính của các Ban giám đốc là làm
22
giảm chi phí phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát (Fama &
Jensen, 1983). Do đặc điểm của quản trị công ty là đặt trên cơ sở của sự tách
biệt này nên vấn đề xung đột lợi ích là khá gay gắt.
Chủ sở hữu xem tổ chức như là một phương tiện đầu tư và lợi ích đạt
được lớn nhất khi giá trị vốn cổ phần là tối đa. Mặt khác, các nhà quản lý
thường xem công ty như là nguồn lương thưởng của họ. Vì vậy mà nhà quản
lý luôn ưu tiên đặt lợi ích của mình lên hàng đầu và điều này có khi đi ngược
lại với lợi ích của nhà đầu tư.
Điểm đáng chú ý là, các nhà quản lý thường có xu hướng tìm cách bảo
vệ quyền lực của mình bằng cách tiếp tục ở lại vị trí điều hành ngay cả khi họ
không đủ thẩm quyền hoặc không đủ trình độ hay bố trí các thành viên gia
đình không đủ tiêu chuẩn ở các vị trí quản lý chủ chốt, hoặc sử dụng lợi
nhuận của công ty để hưởng lợi bản thân chứ không chia lợi nhuận cho các
nhà đầu tư (La Porta và cộng sự, 2000).
Kết quả là người chủ sở hữu không giành được toàn bộ khoản lợi từ các
hoạt động nâng cao lợi nhuận của công ty mình, nhưng họ phải gánh chịu
toàn bộ chi phí cho những họat động này. Vai trò cốt lõi của một hệ thống
quản trị công ty là phải giảm thiểu tổng chi phí tác nhân, từ đó tối đa hóa giá
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)
Lý thuyết đại diện chỉ cho thấy mối quan hệ giữa nhà quản lý và các cổ
đông; trong đó các nhà quản lý có mục tiêu duy nhất là tối đa hóa giá trị của
các cổ đông. Lý thuyết các bên liên quan được phát triển bới Freeman (1984)
xem xét quan điểm này là quá hẹp vì hành động của người quản lý có ảnh
hưởng tới các bên liên quan khác chứ không chỉ cổ đông.
Các bên liên quan có ảnh hưởng nhất tới quản trị công ty có thể chia
thành hai loại chính: nội bộ và bên ngoài. Các các bên liên quan bên ngoài
chủ yếu bao gồm cổ đông, người vay nợ, chủ nợ, các nhà cung cấp, khách
hàng và cơ quan quản lý. Các đối tác nội bộ bao gồm Hội đồng quản trị, Ban
24
giám đốc, Giám đốc điều hành và nhân viên. Tất cả các bên liên quan tham
gia vào quá trình giám sát hoạt động của doanh nghiệp một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp nhưng ở các cấp độ khác nhau sẽ có các mục tiêu khác nhau.
Tuy nhiên, ba bên tham gia trực tiếp và đóng vai trò trung tâm trong việc quản
lý công ty, đảm bảo đạt được tất cả các mục tiêu kinh doanh và tăng lợi nhuận
cho cổ đông là: cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành hoặc Ban
điều hành. Trong đó, Hội đồng quản trị đóng vai trò như là trọng tài để giải
quyết xung đột lợi ích của các bên liên quan và mang lại sự gắn kết cần thiết
cho việc đạt được các mục tiêu tổ chức (Donaldson và Preston, 1995).
Rõ ràng các yêu cầu ràng buộc của các bên liên quan là khá nhiều và
phức tạp, điều này đặt gánh nặng lên vai người quản lý mà không có hướng
dẫn cụ thể nào để giải quyết các vấn đề phát sinh từ xung đột lợi ích. Vì vậy
Jensen (2001) cho rằng các nhà quản lý nên theo đuổi mục tiêu làm gia tăng
giá trị dài hạn của công ty vì điều này sẽ không thể đạt được nếu bỏ qua sự
quan tâm đối với các bên liên quan. Theo ông, hoạt động của một tổ chức
không chỉ được đo bằng lợi nhuận cho các bên liên quan mà còn là việc quản
môi trường bên ngoài. Sự gắn kết này sẽ mang lại nhiều nguồn lực cho công
ty như thông tin, kỹ năng, sự tiếp cận với các yếu tố chính của công ty như
nguyên liệu, khách hàng, các nhà hoạch định chính sách công. Hội đồng quản
trị giữ vai trò chủ đạo trong việc đạt được các nguồn lực khác nhau nhằm tăng
năng suất, hiệu quả hoạt động và duy trì hoạt động.
Hillman và Dalziel (2003) nhận thấy rằng Hội đồng quản trị là lý do
chính cho khả năng đáp ứng được sự đòi hỏi các nguồn lực khác nhau nhằm
mang lại sự thành công của doanh nghiệp. Nói chung, lý thuyết về sự phụ
thuộc nguồn lực cho thấy năng lực của Hội đồng quản trị tham gia vào việc
tiếp cận các nguồn lực, làm nổi bật vai trò của các thành viên Hội đồng quản
trị như là các nhà cung cấp, duy trì và bảo vệ tài nguyên cho doanh nghiệp.