Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 48

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN HÀ NHI

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN
LƯU ĐỘNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VẬT LIỆU XÂY DỰNG
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN HÀ NHI

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN
LƯU ĐỘNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VẬT LIỆU XÂY DỰNG
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Bá Thanh

3.2

khả năng sinh lời
Kết quả phân tích tương quan Sperman
Phân tích ANOVA về sự phù hợp của phân tích mô hình

3.3

hồi quy giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời

3.4
3.5
3.6
3.7
3.8

3.9

3.10
3.11

(GROSS)
Hệ số phù hợp của mô hình giữa quản trị vốn lưu động
và khả năng sinh lời (GROSS)
Hệ số mô hình hồi quy giữa quản trị vốn lưu động và khả
năng sinh lời (GROSS)
Phân tích ANOVA về sự phù hợp của phân tích mô hình
hồi quy giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời
Hệ số phù hợp của mô hình giữa kỳ thu tiền bình quân và
khả năng sinh lời

75

76

3.12

hồi quy giữa chu kỳ chuyển hóa hàng tồn kho và khả

78

3.13

năng sinh lời
Hệ số phù hợp của mô hình giữa chu kỳ chuyển hóa hàng

78


3.14

3.15

3.16
3.17

tồn kho và khả năng sinh lời
Hệ số mô hình của mô hình giữa chu kỳ chuyển hóa
hàng tồn kho và khả năng sinh lời
Phân tích ANOVA về sự phù hợp của phân tích mô hình
hồi quy giữa Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt và khả năng

3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9

Tên hình
Sơ đồ chu kỳ vốn lưu động
Sơ đồ mức dự trữ hàng tồn kho
Mô hình chu kỳ dặt hàng dự trữ EOQ
Sơ đồ luân chuyển tiền mặt
Mô hình Miller Orr
Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải
thu
Sơ đồ tín dụng thương mại
Cơ cấu đóng góp của các nhóm ngành trong BXH V1000
năm 2013
10 ngành có chỉ số ROE, ROA trung bình cao nhất trong
BXH V1000 năm 2013
10 ngành có hệ số Nợ/ Tổng tài sản trung bình lớn nhất
trong BXH V1000 năm 2013.
Mô hình phân phối chuẩn của Tỷ suất lợi nhuận gộp
Mô hình phân phối chuẩn của Chu kỳ chuyển hóa hàng
tồn kho
Mô hình phân phối chuẩn của Kỳ thu tiền bình quân
Mô hình phân phối chuẩn của Kỳ thanh toán bình quân
Mô hình phân phối chuẩn của Chu kỳ chuyển hóa tiền
mặt

1.

Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế ngày càng phát triển giúp cho các doanh nghiệp có thể mở
rộng thị trường. Để sản xuất kinh doanh được liên tục đòi hỏi phải có một
lượng vốn lưu động nhất định. Hơn nữa, trong sản xuất kinh doanh có thể gặp
những rủi ro, mất mát, hư hỏng, giá cả giảm mạnh, nếu doanh nghiệp không
có lượng vốn đủ lớn sẽ khó đứng vững trong cơ chế thị trường cạnh tranh đầy
rủi ro như vậy. Trong quá trình đối phó với các thách thức cạnh tranh này, vấn
đề quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung và quản trị vốn lưu động – cụ
thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị nợ ngắn hạn nói riêng là một vấn
đề lớn mà các doanh nghiệp rất cần phải quan tâm và chú trọng.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, việc quản lý vốn lưu động chưa có
sự quan tâm đúng mức, một số các doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán và thua lỗ vì hàng tồn kho lớn trong những năm từ 20122014, cụ thể như các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng như Tập đoàn
Hòa Phát, Công ty Thép Dana Ý bị thua lỗ nhiều do tồn kho lớn trong năm
2012, 2013 (theo số liệu thống kê trên sàn HOSE). Như vậy các doanh nghiệp
cần chú trong hơn trong việc quản trị vốn lưu động. Quản trị vốn lưu động có
vai trò quan trọng trong việc gia tăng khả năng sinh lời, tăng hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cũng có những nghiên cứu đã tập trung vào phân tích mối quan hệ này
như Shin và Soenen (1998) , Deloof (2003), Eljelly (2004), Gul & cộng sự
(2013), Afeef (2011) …. Tuy nhiên rất ít nghiên cứu xem xét trong một ngành
cụ thể, đặc biệt lĩnh vực vật liệu xây dựng ở Việt Nam chưa được nghiên cứu
một cách rõ ràng. Trong khi đó ngành vật liệu xây dựng được coi là cầu nối
của ngành công nghiệp-xây dựng, vật liệu xây dựng không thể thiếu được
trong các công trình xây dựng cơ bản. Đặc trưng của ngành vật liệu xây dựng


9


Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời
của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Lần lượt làm rõ các vấn đề sau:
-

Quản trị vốn lưu động ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời của các
doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.


10

-

Các thành phần của vốn lưu động ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh
lời của các doanh nghiệp này?
- Từ mối quan hệ đó rút ra được quản trị vốn lưu động như thế nào để
tăng khả năng sinh lời?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.


Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu quản trị vốn lưu động và tác động của các
chỉ tiêu quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vật
liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.




sinh lời đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tại các nền kinh tế và


11

các khu vực khác nhau:
Shin và Soenen (1998) [24] nhấn mạnh rằng quản lý vốn lưu động hiệu
quả vô cùng quan trọng trong việc tạo ra giá trị cổ đông, được sử dụng để đo
lường hiệu quả quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời doanh nghiệp. Hai
tác giả này đã sử dụng phân tích tương quan và hồi quy để nghiên cứu mối
quan hệ giữa chu kỳ kinh doanh, khả năng sinh lời. Kết quả nghiên cứu cho ra
mối quan hệ ngược chiều giữa chu kỳ kinh doanh và khả năng sinh lời.
Deloof (2003) [14] tìm thấy mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu
động và khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính lớn của Bỉ gồm 1.009
công ty trong giai đoạn 1992-1996. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy
tương quan Peason, từ kết quả phân tích ông đề xuất rằng các nhà quản trị có
thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách giảm kỳ thu tiền, kỳ phải trả
người bán và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho.
Eljelly (2004) [15] làm sáng tỏ rằng hiệu quả quản trị vốn lưu động liên
quan đến việc lập kế hoạch, kiểm soát tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn sao
cho tránh nguy cơ không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn và tránh
đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn. Eljelly kiểm tra mối quan hệ giữa khả
năng thanh toán và khả năng sinh lời trên mẫu là các công ty niêm yết của
Saudi Arabia. Sử dụng phân tích hồi quy tương quan để chỉ ra mối quan hệ
ngược chiều giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời.
Gul & cộng sự (2013) [19] cũng tiến hành nghiên cứu sự tác động của
quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi (ROA) của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Pakistan trong giai đoạn 2006-2012. Kết quả cho thấy kỳ thanh toán
bình quân có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi (ROA). Trong khi kỳ
thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và chu kỳ chuyển đổi tiền

khi các công ty gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lời có thể cao hơn.
Tại Việt Nam, Dong, Huynh Phương & Jyh-tay Su (2010) đã nghiên cứu
mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lợi trên mẫu


13

130 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai
đoạn 2006-2008. Các tác giả đã tìm ra mối quan hệ khá mạnh giữa chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lợi.
TS Nguyễn Thị Uyên Uyên & Ths. NguyễnThị Kim Thoa (2014) [26]:
“Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi: Bằng chứng
thực nghiệm ở Việt Nam”. Bài nghiên cứu này sử dụng phân tích dữ liệu bảng
gồm 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán
TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai
đoạn 2006 đến 2012 kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và
khả năng sinh lợi ở các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy việc quản
trị vốn lưu động hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền và kỳ lưu kho sẽ gia
tăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp.
Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí và diễn đàn có nội dung
chuyên biệt, đi sâu vào một vài khía cạnh riêng của vốn lưu động mang
tính chủ quan của tác giả, chưa đưa ra cái nhìn khái quát về các nội dung
của vốn lưu động như:
Bài viết: Dell’s working capital của Richard – Havard Business
school cho thấy việc quyết điịnh cơ cấu tài sản lưu động không chỉ phụ
thuộc vào các chỉ số tài chính được dự báo mà còn phụ thuộc mạnh vào
chiến thuật kinh doanh của doanh nghiệp và tính chất lĩnh vực kinh doanh.
Bài viết “Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh
lợi của các công ty cổ phần Việt Nam” của Phạm Bích Hồng (2012) [3]
xây dựng bộ dữ liệu gồm 74 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch

đặc biệt là ngành xây dựng. Ngành vật liệu xây dựng ngành là nhạy cảm với
chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô. Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh
số và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao. Tại Việt Nam thì các
nghiên cứu đa số dùng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu để phân
tích và cũng chỉ một trong ba chỉ tiêu ROA hoặc ROE hoặc Tobin’s Q để đánh


15

giá tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp. Ở bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về tác động của việc quản trị
các yếu tố vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp vật liệu
xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả sử dụng chỉ
tiêu tỷ suất lợi nhuận gộp để xem xét khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
cùng các biến: Biến kỳ thu tiền bình quân (AR), Chu kỳ chuyển hóa hàng tồn
kho (INV), Kỳ thanh toán bình quân (AP), Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt
(CCC), Logarit tự nhiên của doanh thu (LOS-Quy mô công ty), Tỷ lệ nợ
(DR), Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (CR)
Tóm lại, tất cả các nghiên cứu trên đều có xu hướng chỉ ra được mối
quan hệ giữa quản trị vốn lưu động với khả năng sinh lời. Trên cơ sở đó, bài
nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định xem có tồn tại mối quan hệ
giữa các chỉ tiêu quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các doanh
nghiệp trong một ngành cụ thể, đó là ngành vật liệu xây dựng. Nếu có thì từng
thành phần trong vốn lưu động có mối tương quan như thế nào với khả năng
sinh lời của các doanh nghiệp.


16

CHƯƠNG 1

lý đầu tư vào tài sản lưu động và tài trợ tài sản ngắn hạn. Khả năng quản lý
vốn lưu động của doanh nghiệp càng tốt thì nhu cầu vay nợ càng giảm. Ngay


17

cả khi doanh nghiệp có tiền nhàn rỗi thì việc quản lý vốn lưu động cũng rất
cần thiết vì nó đảm bảo rằng lượng vốn nhàn rỗi này sẽ được đầu tư một cách
hiệu quả nhất cho nhà đầu tư.
1.1.2.

Vai trò của vốn lưu động và quản trị vốn lưu động
Vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và sinh lợi của
các doanh nghiệp. Nếu khả năng vốn lưu động đủ lớn sẽ giúp cho doanh
nghiệp có nhiều thuận lợi hơn trong việc làm chủ sản xuất và đẩy mạnh tiêu
thụ sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu lượng vốn lưu động không đủ thì có thể dẫn đến sự thiếu hụt và gặp khó
khăn trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Vốn lưu động cũng được
gọi là vốn lưu động thuần và được xác định như sau (Hiller và ctg, 2010)
[21]:
Vốn lưu động thuần = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, đầu
tư ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn là
những khoản nợ có thời hạn từ 1 năm trở xuống, bao gồm khoản phải trả, nợ
ngắn hạn, các khoản nợ đáo hạn.
Để minh họa, chu kỳ vốn lưu động được mô tả như hình 1.1 dưới đây:


18


Chu kỳ vốn lưu động bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, sau đó nguyên
vật liệu được chuyển thành thành phẩm. Những thành phẩm này được lưu
trong kho cho đến khi chúng được bán cho khách hàng. Bán hàng có thể thu
ngay bằng tiền mặt hoặc bằng tín dụng bán hàn hàng. Cùng với mỗi bước
trong chu kỳ luân chuyển vốn lưu động thì có các chi phí hoạt động phát sinh,
đó là những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội. Chi phí trực tiếp là chi phí vốn
đầu tư vào mỗi thành phần của vốn lưu động. Chi phí cơ hội là những thu
nhập có thể bị bỏ lỡ do đầu tư vào vốn lưu động thay vì đầu tư vào cơ hội
khác (Berry and Jarvis, 2006) [13].
Quản trị vốn lưu động là một phần của quản trị tài chính của một doanh


19

nghiệp. Quản trị vốn lưu động tập trung chủ yếu vào các nguồn tài chính ngắn
hạn và quyết định đầu tư ngắn hạn của các doanh nghiệp (Sharma và Kumar,
2011) [25]. Quản trị vốn lưu động là rất quan trọng cho một doanh nghiệp,
đặc biệt là cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại và phân phối, bởi vì
trong các doanh nghiệp này Quản trị vốn lưu động trực tiếp ảnh hưởng đến lợi
nhuận và tính thanh khoản. Điều này là do các doanh nghiệp này có vốn lưu
động chiếm hơn một nửa tổng tài sản của họ (Raheman và Nasr, 2007) [26].
Nếu Quản trị vốn lưu động không hiệu quả có thể dẫn đến phá sản, ngay cả
khi công ty có lợi nhuận. Nếu tài sản lưu động quá dư thừa thì sẽ dẫn đến lợi
nhuận bình quân trên các khoản đầu tư thấp (Raheman và Nasr, 2007) [26].
Quản trị vốn lưu động hiệu quả phải quản trị theo cách mà có thể loại bỏ nguy
cơ không thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn đến hạn và tối thiểu hóa sự
thay đổi quá mức của vốn lưu động (Eljelly, 2004) [15].
Việc xác định mức vốn lưu động phụ thuộc vào các chính sách vốn lưu
động của một doanh nghiệp. Theo Arnold (2008) [10] có hai chính sách Quản
trị vốn lưu động trái ngược nhau. Chính sách thứ nhất là chính sách Quản trị

của vốn lưu động sẽ có rủi ro thấp và lợi nhuận do đó cũng thấp. Ngược lại là
khi một doanh nghiệp có tính thanh khoản thấp của vốn lưu động thì có rủi ro
cao nhưng lợi nhuận cao. Khi xác định chính sách Quản trị vốn lưu động,
doanh nghiệp phải xem xét cả hai mặt của đồng tiền và cố gắng tìm sự cân
bằng giữa rủi ro và lợi nhuận.
Nghiên cứu trước đây đã ghi nhận rằng việc quản trị vốn lưu động ảnh
hưởng đến lợi nhuận của một công ty. Quản trị vốn lưu động hiệu quả là một
trong những đặc điểm quan trọng của các công ty phát triển mạnh về tài
chính. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị vốn
lưu động và lợi nhuận đã xác nhận quan điểm cho rằng việc giảm tài sản ngắn
hạn trong tổng tài sản sẽ giảm đầu tư vốn lưu động; do đó, nó sẽ ảnh hưởng
tích cực đến lợi nhuận của công ty.


21

1.1.3.

Các chỉ tiêu phản ánh quản trị vốn lưu động

a. Quản lý hàng tồn kho
Quản trị hàng tồn kho liên quan đến thiết lập các mức hàng tồn kho để
tối đa hóa lợi ích mà vẫn giảm thiểu được chi phí lưu giữ hàng tồn kho. Quản
lý hàng tồn kho là quan trọng đối với hầu hết các công ty. Để đại diện cho
việc quản lý hàng tồn kho tác giả sử dụng chỉ tiêu Chu kỳ chuyển hóa hàng
tồn kho (INV).


Tồn kho và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn kho dự trữ
Hàng tồn kho là những mặt hàng sản phẩm được doanh nghiệp giữ để


(Nguồn: Arnold, 2008)
Hình 1.2: Sơ đồ mức dự trữ hàng tồn kho
Các nhân tố ảnh hưởng đến tồn kho dự trữ:
Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở 3 dạng: Nguyên
vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất, các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm;
các thành phẩm chờ tiêu thụ.
Đối với trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu, mức tồn kho dự thường phụ
thuộc vào:
- Quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của
doanh nghiệp. Nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp thường bao
gồm 3 loại: Dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ thời vụ (đối với các
doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ).
- Khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường.
- Chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng giữa đơn vị cung ứng
nguyên vật liệu với doanh nghiệp.


23

- Thời gian vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng đến doanh
nghiệp.
- Giá cả của các loại nguyên vật liệu, nhiên liệu được cung ứng.
Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, các
nhân tố ảnh hưởng gồm:
- Đặc điểm và các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo
sản phẩm.
- Độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm.
- Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng

các chi phí thành lập kho (chi phí lắp đặt thiết bị kho và các chi phí hoạt
động) chi phí trả lương làm thêm giờ, chi phí huấn luyện…
Hàng tồn kho được coi là một trong những tài sản quan trọng đối với
nhiều công ty. Nó là một trong những tài sản đắt tiền nhất, trong nhiều công ty
hàng tồn khi chiếm tới 40% tổng kinh phí đầu tư.
Mô hình xác định mức tồn kho tối ưu


-

Mô hình sản lượng đặt hàng hiệu quả nhất (Economic Odering Quantity –
EOQ)
Mô hình EOQ là một mô hình quản trị tồn kho mang tính định lượng, có
thể sử dụng nó để tìm mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp.
Yếu tố quyết định trong quản trị hàng tồn kho là sự dự báo chính xác nhu
cầu sử dụng các loại hàng hóa trong kỳ nghiên cứu – thường là một năm và
khối lượng hàng hóa trong mỗi lần đặt hàng. Những doanh nghiệp có nhu cầu
hàng hóa mang tính mùa vụ có thể chọn kỳ dự báo phù hợp với đặc điểm kinh
doanh của mình.
Sau khi đã có số liệu dự báo chính xác về nhu cầu sử dụng hàng năm,
trên cơ sở đó có thể xác định số lần đặt hàng trong năm và khối lượng hàng


25

hóa trong mỗi lần đặt hàng. Mục đích của những tính toán này là tìm được cơ
cấu tồn kho có tổng chi phí năm ở mức tối thiểu.
Giữa chi phí đặt hàng và chi phí tồn kho có mối quan hệ tỷ lệ nghịch.
Khi số lần đặt hàng nhiều, khối lượng hàng tồn kho bình quân thấp, dẫn tới
chi phí tồn kho thấp, song chi phí đặt hàng cao. Ngược lại khi số lần đặt hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status