Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp việt nam về lao động trẻ em - Pdf 48

MỤC LỤC
Trang

LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................................1
1.1.Khái niệm............................................................................................................. 1
1.2. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động trẻ em....................1
1.3.Vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động trẻ em.........................2
1.4.Nhân tố ảnh hưởng đến lao động trẻ em...............................................................3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM..........................................5
2.1. Khái quát vấn đề..................................................................................................5
2.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam về lao
động trẻ em................................................................................................................5
2.2.1.Thực trạng lao động trẻ em từ 5-17 tuổi........................................................5
2.2.2. Thực trạng lao động trẻ em tham gia hoạt động kinh tế................................9
2.3. Nguyên nhân tình trạng lao động trẻ em...........................................................17
2.4. Đánh giá về lao động trẻ em..............................................................................17
2.4.1. Mặt tích cực................................................................................................17
2.4.2. Mặt tiêu cực................................................................................................18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM...............................19
3.1. Đối với nhà nước...............................................................................................19
3.2.Đối với chính quyền địa phương, cơ sở..............................................................20
3.3. Đối với doanh nghiệp........................................................................................21
3.4. Đối với gia đình.................................................................................................22
KẾT LUẬN.....................................................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................


DANH MỤC BẢNG

nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam về lao động trẻ em” làm đề tài tiểu luận của
mình.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Khái niệm
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Theo “Nhóm nghiên cứu Phát triển
kinh tế tư nhân” thuộc Ngân hàng Thế giới, theo đó “trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp (CSR: Corporate Social Responsibility) là cam kết của doanh nghiệp đóng góp
vào sự phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo
cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.
Trẻ em: Là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi dậy thì. Định
nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một
người chưa tới tuổi trưởng thành.
-Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2016 thì "Trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi"
Lao động trẻ em: Bất kỳ công việc nào được thực hiện bởi lao động trẻ em có
tuổi nhỏ hơn độ tuổi quy định trong định nghĩa trẻ em ngoại trừ các quy định trong
công ước quốc tế ILO.
- Lao động trẻ em là việc trẻ em bị bắt phải làm việc, bóc lột, bị lạm dụng, hay
phải làm việc trong những điều kiện chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, có hại cho sự
phát triển bình thường về thể chất và nhân cách hoặc ngăn cản các em tới trường.
1.2. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động trẻ em
- Sử dụng lao động trẻ em là chỉ người sử dụng lao động thuê lao động trẻ em
vào làm một công việc nào đó cho bản thân hay cho nhóm người nào đó.
- Lao động chưa thành niên là lao động của người dưới 18 tuổi (Bộ luật lao động
năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007).
Ở nước ta và nhất là trong địa bàn đô thị, lao động trẻ em thường được sử dụng
vào những loại công việc sau:

được vượt quá 04 giờ trong một ngày và 20 giờ trong một tuần. Không sử dụng lao
động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Không được sử dụng lao
động chưa thành niên để sản xuất và kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, các chất tác
động đến tinh thần và các chất gây nghiện khác. Người sử dụng lao động phải tạo cơ
hội để người lao động chưa thành niên và người dưới 15 tuổi tham gia lao động và
được học tập văn hóa.
1.3.Vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động trẻ em
Lao động trẻ em một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố
đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản suất. Sự phát triển kinh tế suy cho đến
cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người.

2


Vai trò của lao động trẻ em với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉ tiêu
về số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khoẻ người lao động và sự kết hợp
giữa lao động và các yếu tố đầu vào khác. Các chỉ tiêu này được thể hiện tập trung qua
mức tiền công của người lao động. Khi tiền công của lao động trẻ em tăng có nghĩa chi
phí sản suất tăng, phản ánh khả năng sản suất tăng lên. Đồng thời khi mức tiền công
tăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động cũng tăng, do đó khả năng
chi tiêu của người tiêu dùng tăng. ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người
lao động nói chung là thấp, do đó ở những nước này lao động chưa phải là động lực
mạnh cho sự phát triển. Để nâng cao vai trò của lao động trẻ em trong phát triển kinh
tế cần thiết có các chính sách nhằm giảm bớt lượng cung lao động, đồng thời tạo ra các
nguồn lực khác một cách đồng bộ.
1.4.Nhân tố ảnh hưởng đến lao động trẻ em
Từ phía gia đình và bản thân trẻ em: Nguyên nhân chính là do đói nghèo, thu
nhập thấp. Gia đình không thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho con em mình nên trẻ
em buộc phải lao động sớm phụ giúp gia đình. Tình trạng “đói thông tin”, nhận thức
kém của gia đình và bản thân trẻ em, cộng đồng về Luật lao động, Luật bảo vệ chăm

Kofi Annan đã kêu gọi lãnh đạo các doanh nghiệp bàn về một công ước quốc tế có sứ
mạng tập hợp các doanh nghiệp, các cơ quan công quyền, các tổ chức dân sự thông
qua những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định xã hội. Đặc
biệt, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động trẻ em là vấn đề ngày càng
được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Lao động trẻ em là vấn đề được nhà nước đặc
biệt quan tâm, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê
chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em; trẻ em là những công dân đặc biệt của xã hội
cần được nhà nước và xã hội dành sự ưu tiên và tạo môi trường lành mạnh để phát
triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. Nhưng trên thực tế tình trạng lạm dụng lao động
diễn ra phổ biến.
Ngày nay hàng vạn doanh nghiệp ở khắp các vùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam
cũng như các tổ chức quốc tế về lao động, xã hội dân sự đã có những đề án cụ thể hơn
để bảo vệ lao động trẻ emnhằm phát triển nền kinh tế của doanh nghiệp nói riêng cũng
như toàn quốc nói chung.
2.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam về
lao động trẻ em
2.2.1.Thực trạng lao động trẻ em từ 5-17 tuổi

5


Theo số liệu Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ em được công bố tại Hà Nội ngày
14/3/2016:
Tổng số trẻ em trong nhóm 5-17 tuổi

18.349.629 trẻ em

Trẻ em trai

52,2%

trẻ em được đi học thông qua áp dụng luật giáo dục và các chính sách, chương trình hỗ
trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ước tính từ cuộc điều tra cho thấy, năm 2016, có
90,5% trẻ em trong độ tuổi 5 - 17 tuổi đang đi học ở các trường mầm non, các cấp học
phổ thông và trường nghề. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mầm non đạt 93,4%. Tỷ lệ trẻ em
6 - 17 tuổi đi học ở các cấp học phổ thông đạt 90,3%. Có thể thấy rằng tỷ lệ trẻ em gái
đi học cao hơn so với tỷ lệ đi học của trẻ em trai ở tất cả các cấp học phổ thông trên
phạm vi cả nước, các vùng địa lý, các nhóm tuổi. Theo vùng địa lý, mặc dù tỷ lệ trẻ 6 11 tuổi đi học ở các vùng đều ở mức cao, tuy nhiên giữa các vùng có khoảng cách về
tình trạng trẻ em đi học, theo đó vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em đi học cao
nhất, trên 96%, Tây Nguyên và Đông Nam bộ là 2 vùng có tỷ lệ trẻ em đi học thấp
nhất, chiếm 87% mỗi vùng.
Bảng 1. Dân số trẻ em theo tình trạng đi học và nhóm tuổi
Chung

Theo nhóm tuổi, %

Tình trạng đi học
Toàn quốc
Đang đi học
Không đi học
Không xác định

Số trẻ em
18.349.629
16.610.257
1.716.767
22.605

%
100,0
90,5

nhóm tuổi 5 - 17 không đi học, chiếm 9,6% tổng số. Trừ nhóm 5 tuổi thuộc độ tuổi
mẫu giáo, thì tỷ lệ không đi học tăng lên theo độ tuổi: 1,6% ở nhóm 6 - 11 tuổi; 7,3% ở
nhóm 12 - 14 tuổi và 26,5% ở nhóm 15 - 17 tuổi. Hai vùng có tỷ lệ trẻ em hiện không
đi học cao nhất là Tây Nguyên (12,2%) và Đồng bằng sông Cửu Long (12,5%).

Bảng 2. Dân số trẻ em không đi học theo nguyên nhân và nhóm tuổi

7


Theo nhóm tuổi, %
Nguyên nhân

Số trẻ em

Đã học xong
Quá tuổi đi học
Khuyết tật/ốm đau
Không có trường/trường học xa
Không có tiền đi học
Gia đình không cho đi học
Không thích đi học
Đi học không hữu ích
Đi học không an toàn
Học nghề
Làm việc kiếm tiền/làm cho gia
đình
Giúp gia đình làm việc nhà
Khác
Không xác định

2,9
9,2
3,4
38,3
0,1
0,1
1,5

0,0
0,0
4,6
18,6
7,1
26,9
9,6
0,0
0,5
0,0

16,7
4,3
16,7
0,3
100,0

0,0
0,0
32,5
0,2
100,0


0,6
0,2
3,5
1,2
7,7
1,1
38,6
0,1
0,0
2,0

2,4
2,2
8,4
0,0
100,0

13,5
5,4
2,8
0,9
100,0

20,2
4,6
20,0
0,2
100,0


Số trẻ em
tế
%
5-11
12-14 15-17
Nam
Nữ
Toàn quốc
2832117 100.0
12.7
30.7
56.7
57.4
42.6
Nông nghiệp
2014018 71.1
12.8
33.7
53.4
59.3
40.7
Công nghiệp –
332218 11.7
8.5
16.0
75.5
55.5
44.5
Xây dựng
469112 16.6

24.5
7.5
18.0
74.5
56.7
43.3
Xây dựng
165548
41.4
14.7
30.0
55.2
46.5
53.5
Dịch vụ
Không xác
3324
0.8
20.6
24.3
55.1
24.0
76.0
định
Nông thôn
2432137 100.0
12.9 31.1
55.9
58.2
41.8

định
Nguồn: Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2016
Có thể thấy trẻ em tham gia hoạt động kinh tế ở cả 3 nhóm ngành kinh tế
quốc dân nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm ngành nông nghiệp (trên 2 triệu em,
chiếm tỷ lệ 71,1%); Hai nhóm ngành còn lại không có sự chênh lệch lớn với 332
ngàn em (chiếm 11,7%) hoạt động trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và
469 ngàn em (chiếm 16,6%) hoạt động trong nhóm ngành dịch vụ. Trong tổng
số 2.432 ngàn trẻ em nông thôn tham gia hoạt động kinh tế thì có tới 1.880 ngàn

9


(77,3%) làm việc trong nông nghiệp; ngay cả khu vực thành thị cũng có tới 133
ngàn em (chiếm 33,3% số trẻ em hoạt động kinh tế khu vực thành thị) làm việc
trong nông nghiệp. Nông nghiệp là khu vực mà phần lớn trẻ em đang làm việc.
Theo nhóm tuổi, trẻ em từ 14 tuổi trở xuống có xu hướng làm trong nông nghiệp
và giảm dần ở nhóm tuổi 15 - 17 tuổi khi các em đã có đủ điều kiện để chuyển
sang các khu vực kinh tế khác. Ở cả 2 khu vực nông thôn và thành thị, công
nghiệp và xây dựng thu hút khoảng 3/4 số trẻ em trong nhóm tuổi 15 - 17. Đây
là khu vực mà điều kiện lao động thường không an toàn, thời gian làm việc
thường kéo dài và mức thu nhập của trẻ em thường không cao
Bảng 4: Tỷ lệ trẻ em tham gia lao động theo ngành nghề

Ngành nghề
Nông nghiệp
Xây dựng, Chế tạo
Dịch vụ

Tỷ lệ % trẻ em tham gia làm việc
67%

Sông/ Hồ/ Dầm
Khác
Không xác định
Chung

Tỷ lệ

Theo nhóm tuổi %

856613
65098
18777
109372
1042121
15719
191

%
30.25
2.3
0.66
3.86
36.8
0.56
0.01

5-11
48.42
0.22
0


1.47
11.6
2.45
0.97
8.97
0.11
100

0
17.1
0.83
0.19
3.34
0
100

0
15.21
1.51
1.1
4.17
0
100

2.6
8.41
3.31
1.08
12.83

- Có thể thấy rằng đối với trẻ em hoạt động kinh tế nhóm tuổi 5 - 11 và 12 - 14
thời gian làm việc trong tuần chủ yếu là dưới 24 giờ; trẻ em 15 - 17 tuổi chủ yếu làm
việc trong khoảng từ 5 đến 42 giờ. Tuy nhiên, cuộc điều tra cho thấy vẫn còn 569 ngàn
phải làm việc hơn 42 giờ trong tuần.
- Tỷ lệ trẻ em khu vực thành thị làm việc trên 42 giờ/tuần là 32,2%, cao hơn đáng
kể so với tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 18,1%. Lý do của hiện tượng này có thể là
do tỷ lệ tham gia khu vực dịch vụ của trẻ em thành thị cao hơn so với khu vực nông
thôn, mà khu vực này việc làm với thời gian dài để đáp ứng nhu cầu của khách hàng là
dễ hiểu. Thời giờ làm việc của trẻ em tăng dần theo độ tuổi. Trẻ em hoạt động kinh tế
nhóm 5 - 11 tuổi chủ yếu có thời gian làm việc dưới 24 giờ/tuần (chiếm trên 90% số
trẻ em nhóm này); tuy nhiên, vẫn còn gần 10% trẻ em làm việc trên 24 giờ/tuần, đặc
biệt có 1,4% trẻ em 5 - 11 tuổi làm việc trên 42 giờ/tuần. Nhóm tuổi từ 12 - 14 trở lên
có thời giờ làm việc khá nhiều, trên 23% trẻ em làm việc từ 25 giờ trở lên, và khoảng
gần 6% trẻ em làm việc trên 42 giờ/tuần. Nhóm tuổi vị thành niên (15 - 17) nhìn chung
làm việc nhiều, thậm chí rất nhiều, với khoảng gần 32% trẻ em làm việc trên 42
giờ/tuần.
Bảng 6. Cơ cấu trẻ em tham gia hoạt động kinh tế theo số giờ làm việc
trong tuần, %
Số giờ làm việc
trong tuần
Toàn quốc
0-≤5

Theo giới tính

Theo nhóm tuổi

Nam
100,0
8,8

6 - ≤ 24
25 - ≤ 42
> 42
Không xác định
Nông thôn
0-≤5
6 - ≤ 24
25 - ≤ 42
> 42
Không xác định

47,7
22,0
20,1
0,3
100,0
9,6
40,1
18,0
32,2
0,1
100,0
9,9
49,0
22,7
18,1
0,3

46,1
49,9

51,1
57,5
30,1
20,6
15,1
5,6
18,1
20,2
35,1
29,0
8,4
11,3
46,0
0,1
0,2
0,0
0,0
0,2
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
9,0
11,2
29,0
13,0
3,7
47,5
51,0

nhập dưới 2,5 triệu đồng/tháng (hộ có thu nhập dưới 2,5 triệu đồng/tháng thường là hộ
nghèo theo qui định hiện hành). Hộ có lao động trẻ em ở thành thị có mức thu nhập
bình quân cao hơn so với hộ có lao động trẻ em ở nông thôn, có gần 65% hộ có lao
động trẻ em ở thành thị có thu nhập trên 4,5 triệu đồng/tháng, trong khi đó tỷ lệ hộ có
lao động trẻ em nông thôn có mức thu nhập này chỉ ở mức dưới 34%. Trong tổng số
hộ có lao động trẻ em có mức thu nhập bình quân trên 4,5 triệu đồng/tháng, nhóm hộ
có lao động trẻ em ở nhóm 5 - 11 tuổi chỉ chiếm 15%, nhóm 12 - 14 tuổi chiếm 26,7%
và nhóm 15 - 17 tuổi chiếm 62,1%. Nếu so sánh với thu nhập của hộ có trẻ em tham
gia Hoạt động kinh tế, thì nhóm hộ có lao động trẻ em có thu nhập cao hơn; tuy nhiên

13


sự chênh lệch là không đáng kể. Vì vậy, hoàn toàn có thể vận động và thiết kế các
chương trình hỗ trợ để trẻ em có thể tham gia hoạt động kinh tế nhưng không biến
thành lao động trẻ em.
* Chính sách lao động trẻ em ở các doanh nghiệp Việt Nam:
- Bước 1: Khảo sát thu thập thông tin ban đầu về đối tượng hưởng lợi: bao gồm
xác định các thông tin về mức độ lao động trẻ em trên địa bàn khảo sát, điều kiện làm
việc của các em, thời gian làm việc, tình hình học tập, nguyên nhân các em phải lao
động, việc làm của cha mẹ và thu nhập và nguồn thu nhập của gia đình, nhu cầu hỗ trợ
của các em và của cha mẹ các em, vv.. Trước khi thực hiện khảo sát, tất cả các cán bộ
tham gia đều được tập huấn về khái niệm/định nghĩa về lao động trẻ em, lao động trẻ
em tồi tệ, và các kiến thức và kỹ năng liên quan đến khảo sát và nghiên cứu về lao
động trẻ em.
- Bước 2: Song song với việc thực hiện Khảo sát về đối tượng hưởng lợi, dự án
đã tổ chức các lớp tập huấn về “Hiểu biết về lao động trẻ em” và về “Thiết kế, Giám
sát và Đánh giá các Chương trình hoạt động về Phòng ngừa và Xóa bỏ lao động trẻ
em” cho tất cả các cán bộ của các cơ quan ban ngành liên quan, những người sẽ tham
gia vào Chương trình hoạt động. Các chương trình tập huấn nhằm giúp cho họ có các

động tại địa phương.
- Bước 6: Hội thảo Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện Chương trình hoạt
động được tổ chức, với sự tham gia của tất cả các cơ quan sẽ tham gia thực hiện và
phối hợp thực hiện các hợp phần và hoạt động của Chương trình hoạt động, từ cấp
thành phố, huyện và xã. Tại hội thảo này, các đại biểu tham gia làm việc theo nhóm để
xây dựng các hoạt động chi tiết do cơ quan/tổ chức của mình đảm nhận, cùng với
khung thời gian và kinh phí dự kiến tương ứng, hướng tới góp phần đạt được các mục
tiêu và kết quả dự kiến của Chương trình hoạt động.
- Bước 7: Lập hồ sơ chi tiết về nhóm lao động trẻ em, là đối tượng hưởng lợi
trực tiếp từ Chương trình hoạt động, và gia đình các em, được thực hiện bởi các cán bộ
lao động và các cộng tác viên của xã, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân xã và
Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện. Trước khi lập hồ sơ, tất cả các cán bộ
và cộng tác viên liên quan đến công tác lập hồ sơ đều được tập huấn về khái niệm và
định nghĩa về lao động trẻ em, lao động trẻ em tồi tệ nhất, cơ sở luật pháp quốc tế và
quốc gia, quy trình lập hồ sơ, kỹ năng phỏng vấn và sử dụng bảng hỏi, kỹ năng sử
dụng phần mềm của Hệ thống Báo cáo và Giám sát nhóm Hưởng lợi của Dự án để
nhập cơ sở thông tin/dữ liệu về nhóm đối tượng…, giúp cho công việc được thực hiện
hiệu quả và chính xác. Hệ thống Báo cáo và Giám sát nhóm Hưởng lợi được xây dựng
để giúp cho quản lý và giám sát các hỗ trợ của Chương trình hoạt động cho nhóm

15


hưởng lợi và sự thay đổi của nhóm trẻ mục tiêu và gia đình các em, cũng như những
hoạt động khác của Chương trình hoạt động
- Bước 8: Ngay sau khi lập xong hồ sơ của từng trẻ em là đối tượng đích của dự
án, Chương trình hoạt động đã tổ chức các buổi tham vấn với các nhóm đã được lập hồ
sơ và cha mẹ các em để thảo luận về nguyện vọng và mong muốn của các em và gia
đình, làm thế nào để giúp bảo vệ các em và đưa các em ra khỏi các công việc nặng
nhọc, độc hại, thông qua các hỗ trợ như giáo dục và đào tạo nghề, giúp hộ gia đình

-Lao động trẻ em dễ phục tùng.
Từ phía gia đình:
-Hạn chế về nhận thức cũng là tác nhân.
-Kinh tế eo hẹp.

2.4. Đánh giá về lao động trẻ em
2.4.1. Mặt tích cực
- Giảm chi phí, tăng lợi nhuận, giá sản phẩm cạnh tranh.
- Kinh tế doanh nghiệp tăng, doanh nghiệp sẽ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề
xã hội( hoặc không) như góp phần xóa đói giảm nghèo thông qua những chương trình
tư thiện.
2.4.2. Mặt tiêu cực
Đối với bản thân các em: Các em phải bỏ học, thất học nên không có cơ hội phát
triển, thu nhập thấp. Các em còn có thể chịu nhiều hậu quả như tai nạn lao động, suy
dinh dưỡng, bị khủng hoảng về tinh thần, mất niềm tin, dễ bị tha hoá về đạo đức lối
sống, hay sa vào các tệ nạn xã hội hoặc trộm cắp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến bản
thân gia đình các em. Trong thực tế nhiều trường hợp các em ra thành phố kiếm sống,

17


không có chút kỹ năng và hiểu biết gì nên đã dễ dàng bị lôi kéo gây ra những hậu quả
đáng tiếc cho bản thân các em.
Đối với gia đình: “Trẻ em lao động sớm” chịu nhiều những thiệt thòi và hậu quả
nghiêm trọng. Khi trong gia đình có một em lao động sớm mắc phải một số vấn đề về
sức khoẻ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế gia đình, nhất là trong việc chữa trị sức
khoẻ cho các em
Đối với xã hội: “Trẻ em lao động sớm” gây tình trạng đói nghèo, kém phát
triển, làm cho các giá trị đạo đức và tinh thần chung bị phai nhạt. Lực lượng lao động
què quặt không đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Khi trẻ tham

phạm pháp luật lao động về sử dụng lao động trẻ em trong các văn bản pháp luật
chuyên ngành. Đồng thời cần có bộ quy trình quản lý, đánh giá về lao động trẻ em để
hướng dẫn thực hiện tại các địa phương…
- Thanh tra ngành lao động thương binh xã hội cần lập kế hoạch thanh tra, kiểm
tra hàng năm tại các doanh nghiệp, đặc biệt tập trung rà xoát các cơ sở có khả năng sử
dụng lao động trẻ em. Cần kết hợp chặt chẽ với chính quyền, đoàn thể địa phương nơi
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đống trụ sở.
- Cần sự vào cuộc tích cực của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan pháp
luật đưa vấn nạn bóc lột trẻ em vào trong luật, có chế tài xử lý mạnh tay nghiêm minh.
- Khuyến khích các hoạt động đấu tranh, phát hiện, tố giác về các trường hợp sử
dụng lao động trẻ em trái quy định pháp luật cũng như tuyên dương, khen thưởng các

19


cơ sở,doanh nghiệp chấp hànhnghiêm minh quy định pháp luật.
- Gắn liền với xóa đói giảm nghèo, trong đó chú trọng tạo việc làm bền vững để
các bậc cha mẹ có thu nhập ổn định, từ dó không bắt trẻ em lao động sớm Tăng cường
truyền thông cả bề rộng lẫn bề sâu pháp luật tới mỗi gia đình, chủ sử dụng lao động
phù hợp với điều kiện, đặc thù từng vùng miền nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi
hành vi.
3.2.Đối với chính quyền địa phương, cơ sở
- Tại các địa phương cần đặt tiêu chí giảm nghèo là một trong những mục tiêu
hàng đầu trong chương trình kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Chính quyền cơ sở
cần có chính sách tốt nhất để các gia đình nghèo có việc làm và thu nhập ổn định, liên
hệ chặt chẽ với doanh nghiệp ở địa phương để giải quyết việc làm cho những gia đình
đã được đào tạo nghề, phát triển kinh tế bền vững, gắn liền với các chương trình dạy
nghề 1956, bảo đảm các quyền cơ bản cho trẻ em.
- Củng cố và tổ chức quản lý tốt vai trò của đoàn thanh niên tại thôn/ bản… để
tuyên truyền và giáo dục nhận thức cho trẻ em và cộng đồng, tổ chức theo hướng lồng

Cải thiện điều kiện lao động và an toàn vệ sinh lao động, và môi trường làng
nghề hướng tới phòng ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Chiến lược được thực hiện qua ba nhóm các hoạt động chính, bao gồm:
-Các hoạt động nâng cao nhận thức và năng lực: nhằm giúp cho các cơ quan ban
ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội liên quan, chính quyền địa phương, các tổ chức của
người lao động và người sử dụng lao động, các cơ quan truyền thông, cũng như trẻ em
và gia đình các em và cộng đồng hiểu biết và nhận thức đúng hơn thế nào là lao động trẻ
em, nguyên nhân, hậu quả và tác hại của nó, các quy định của luật pháp quốc tế và quốc
gia liên quan đến lao động trẻ em, để đi đến cam kết tham gia vào các hoạt động phòng
ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, tùy theo chức năng và khả năng của mình; đồng thời
nâng cao năng lực cho các cán bộ tham gia thực hiện các hoạt động để giúp họ có thêm
kiến thức và kỹ năng để thực hiện tốt các công việc mà mình cam kết đảm nhận.
-Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp, nhằm ngăn ngừa, bảo vệ hoặc đưa các lao động
trẻ em ra khỏi các công việc nặng nhọc và độc hại, thông qua các hỗ trợ trực tiếp như
khám sức khỏe cho nhóm lao động trẻ em, tổ chức dạy nghề để giúp những người
chưa thành niên, đã nghỉ học văn hóa và có đủ điều kiện tham gia học nghề, có được
tay nghề tốt để làm việc, duy trì truyền thống sản xuất của làng nghề theo nguyện vọng
của họ và cha ông họ; đồng thời hỗ trợ các cơ sở sản xuất tại nhà phát triển và cải thiện
thiết kế mẫu mã và tìm thị trường cho sản phẩm để nâng cao kinh tế cho hộ gia đình,
đóng góp vào xóa bỏ lao động trẻ em.
-Các hoạt động cải thiện điều kiện lao động và an toàn vệ sinh lao động, nhằm

21


giúp nâng cao kiến thức, hiểu biết về an toàn vệ sinh lao động; đồng thời phổ biến về
các luật pháp và quy định liên quan đến lao động trẻ em và an toàn vệ sinh lao động,
giúp cho các chủ cơ sở sản xuất tuân thủ các luật pháp và quy định của quốc gia, và
không tuyển dụng lao động là trẻ em.
-Các nhóm hoạt động này được xây dựng và thực hiện liên kết, đồng bộ và hỗ trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status