BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG HIỀN LƢƠNG
MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG
KHUYẾN MẠI TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: GS.TS LÊ HỒNG HẠNH
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ……………………………………………………………..1
CHƢƠNG I KHUYẾN MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DỊCH VỤ VIỄN THÔNG………………………………............................6
1.1 Hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông …………………………..6
1.1.1 Khái niệm dịch vụ viễn thông và kinh doanh dịch vụ viễn thông……6
1.1.2 Những đặc trƣng của hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông……..9
1.1.3 Dịch vụ viễn thông trƣớc những đòi hỏi của GATS………………...10
CHƢƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP
LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN
THÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY…………......................................53
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về khuyến mại
trong kinh doanh dịch vụ viễn thông…………………………………… 53
3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về các hình thức khuyến mại trong
lĩnh vực viễn thông…………………………………………………………53
3.1.2 Hoàn thiện các quy định về khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông liên
quan tới cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng …………………54
3.1.3 Hoàn thiện một số qui định về quản lý nhà nƣớc đối với khuyến mại
trong kinh doanh dịch vụ viễn thông ………………………………………55
3.2 Một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về
khuyến mại trong kinh doanh dịch vụ viễn thông…………………...56
3.2.1 Nâng cao năng lực của các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc
xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp liên quan đến khuyến mại trong kinh
doanh dịch vụ viễn thông……………………………………..............56
3.2.2 Nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ viễn thông……………………………………………..57
3.2.3 Nâng cao ý thức pháp luật và khả năng tự bảo vệ của ngƣời sử dụng
dịch vụ viễn thông………………………………………………….............58
KẾT LUẬN ……………………………………………………………….60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
kinh doanh dịch vụ viễn thông vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã thực hiện nhiều
hành vi khuyến mại vi phạm các quy định của pháp luật thƣơng mại, pháp luật cạnh
tranh, xâm phạm đến lợi ích của ngƣời tiêu dùng, của Nhà nƣớc và của các doanh
nghiệp khác. Những hành vi này, nếu không có sự điều chỉnh và can thiệp kịp thời
của Nhà nƣớc, về lâu dài, sẽ gây nên những tác động xấu tới sự phát triển lành
mạnh, bền vững của thị trƣờng dịch vụ viễn thông, gây ảnh hƣởng tới sự phát triển
của nền kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Thực trạng này
đã đòi hỏi Nhà nƣớc phải ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh các hành
vi khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông nhằm thúc đẩy hơn nữa
sự phát triển của thị trƣờng viễn thông lành mạnh trong điều kiện mới, đặc biệt là
trong giai đoạn tới khi mức độ cạnh tranh còn cao hơn nữa với sự tham gia của cả
các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài theo cam kết của Việt Nam trong WTO. Vấn đề đặt ra ở
đây là, liệu các quy định pháp luật này đã điều chỉnh có hiệu quả các hoạt động
khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông hay chƣa và các quy định
pháp luật này đã đƣợc đảm bảo thực hiện đến đâu?qq Đây là những vấn đề cần có
những câu trả lời thỏa đáng nhằm hoàn thiện pháp luật về xúc tiến thƣơng mại trong
lĩnh vực dịch vụ viễn thông. Do đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Một số khía
cạnh pháp lý của hoạt động khuyến mại trong kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt
Nam hiện nay” là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều đề tài luận văn cao học, luận án tiến sĩ
nghiên cứu về hoạt động xúc tiến thƣơng mại nói chung, hoạt động khuyến mại nói
riêng nhƣ : “Pháp luật thƣơng mại về hoạt động quảng cáo và khuyến mại: thực
trạng và giải pháp” của Ths Trần Dũng Hải (Đại học Luật Hà Nội 2004); “Pháp luật
về xúc tiến thƣơng mại ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS
Nguyễn Thị Dung (Đại học Luật Hà Nội, 2006); Cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực xúc tiến thƣơng mại theo quy định của luật cạnh tranh năm 2004 của Ths
Vũ Thị Cẩm Tú (Đại học Luật Hà Nội, 2010) ...
trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông hiện nay, tác giả chỉ tập trung vào những vấn đề
thực tế đang nổi cộm nhất và tập trung đánh giá tính hoàn thiện và tính hiệu quả của
các quy định pháp luật hiện đang điều chỉnh những vấn đề đó.
4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu quan điểm đƣờng lối chỉ
đạo của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển thị trƣờng viễn thông trong điều kiện hiện
nay; đồng thời trên cơ sở nghiên cứu chủ trƣơng, đƣờng lối chính sách xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc trƣớc xu thế và yêu cầu đặt ra
cho chủ trƣơng hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào sân chơi khu vực và
toàn cầu.
Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống, trong đó sử
dụng triệt để phƣơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm thu đƣợc hiệu quả tốt
nhất cho những nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp cận nghiên cứu các vấn đề lý luận và
thực tiễn của hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông,
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về khuyến
mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông và các giải pháp, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của lĩnh vực viễn thông.
Những nhiệm vụ cụ thể. Đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông
và khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông và pháp luật điều
chỉnh lĩnh vực này ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
+ Nghiên cứu những nội dung pháp lý cơ bản của các hành vi khuyến mại trong
lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông, thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật
Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về khuyến mại
trong kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam.
6
CHƢƠNG I
KHUYẾN MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
1.1 Hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông
1.1.1 Khái niệm dịch vụ viễn thông và kinh doanh dịch vụ viễn thông
Kể từ khi ra đời cho đến nay, ngành viễn thông đã có những đóng góp to
lớn cho nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Trong thời của công nghệ và thông tin, của xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức
đã trở thành yếu tố quyết định và là thƣớc đo sự phát triển của mỗi quốc gia.
Sự phát triển của viễn thông đặt ra những thách thức pháp lý mà các nhà lập
pháp và các nhà quản lý cần xử lý. Nó đòi hỏi họ phải có những khung chính sách,
pháp luật thích hợp để điều chỉnh thị trƣờng dịch vụ viễn thông, tạo điều kiện cho
thị trƣờng này ngày càng phát triển sôi động nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc quyền lợi
cho ngƣời sử dụng dịch vụ. Muốn đạt đƣợc điều đó, trƣớc hết mỗi quốc gia phải
xây dựng đƣợc cho mình khái niệm phù hợp về dịch vụ viễn thông và kinh doanh
dịch vụ viễn thông.
a) Khái niệm dịch vụ viễn thông
Dƣới góc độ kỹ thuật, khái niệm dịch vụ viễn thông luôn gắn liền với khái niệm
mạng viễn thông. Mỗi mạng viễn thông sẽ cung cấp một vài loại dịch vụ cơ bản đặc
trƣng cho mạng viễn thông đó và mạng này có thể cùng hỗ trợ với mạng khác để
cung cấp đƣợc một dịch vụ viễn thông cụ thể . Dịch vụ viễn thông, có thể đƣợc hiểu
là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các
dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua mạng viễn thông [2,tr20].
Nói một cách khác, đó chính là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khả năng trao đổi
thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin thông qua mạng viễn thông (thƣờng là
định tiếp cận thị trƣờng Việt Nam – EU, toả thuận gia nhập WTO của Việt Nam thì
Pháp lệnh bƣu chính viễn thông đã bộc lộ một số bất cập [17]. Để bảo đảm tính
thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia và giữa hệ thống pháp luật quốc gia
với hệ thống các cam kết quốc tế nói trên, Việt Nam đã ban hành Luật viễn thông
2009 với nhiều quy định mới. Một trong những sửa đổi quan trọng là khái niệm về
dịch vụ viễn thông. Luật Viễn thông 2009 định nghĩa dịch vụ viễn thông là “dịch vụ
8
gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm ngƣời sử dụng dịch vụ
viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng”. Có thể thấy, định
nghĩa này ít thiên về tính kỹ thuật, và thể hiện rõ tính pháp lý hơn so với định nghĩa
trong Pháp lệnh bƣu chính viễn thông 2002. Nó cũng thể hiện tính “mở” hơn, khi
không liệt kê các loại hình dịch vụ trong Luật. Đây là một hƣớng quy định khá phù
hợp, khi mà hiện nay, các thành viên WTO đang thƣơng lƣợng để sửa đổi các điều
khoản WTO. Việc không liệt kê cụ thể các loại dịch vụ viễn thông trong Luật, mà
trong các nghị định hƣớng dẫn thi hành, vừa tạo điều kiện sửa đổi dễ dàng hơn các
văn bản pháp luật, đồng thời vừa đảm bảo các quy định của pháp luật quốc gia phù
hợp với các thông lệ, và cam kết quốc tế [7].
b) Khái niệm kinh doanh dịch vụ viễn thông
Pháp lệnh về bƣu chính viễn thông năm 2002 không đƣa ra khái niệm kinh
doanh dịch vụ viễn thông, nhƣng theo khoản 1 Điều 13 Luật viễn thông 2009, kinh
doanh viễn thông bao gồm kinh doanh dịch vụ viễn thông và kinh doanh hàng hóa
viễn thông. Kinh doanh dịch vụ viễn thông là hoạt động đầu tƣ cơ sở hạ tầng công
cộng, cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin)
nhằm mục đích sinh lợi, còn kinh doanh hàng hóa viễn thông lại là hoạt động đầu tƣ,
sản xuất, mua bán, cho thuê phần mềm vật tƣ, thiết bị viễn thông nhằm mục đích
sinh lợi.
Kinh doanh dịch vụ viễn thông ở nƣớc ta bao gồm nhiều loại hình dịch vụ đa
Hai là, kinh doanh dịch vụ viễn thông là một ngành kinh doanh mang tính kỹ
thuật cao, có xu hƣớng phát triển nhanh và mạnh. Sự phát triển nhanh chóng của
ngành kinh doanh này gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
viễn thông. Xu hƣớng phát triển và tốc độ phát triển nhanh không chỉ thể hiện ở
1
Xem: Telecommunication Business Law.(Law No 86 of December 25, 1984, amended in 2003 by LaW No
125 of July 24, 2003); Telecommunication Business Law of Korea (Law No 8198, January 3,2007;
Telecommunications Business Act, B.E. 2544 (2001) vv.
10
việc tăng lên về số lƣợng, chất lƣợng các loại hình dịch vụ, mà còn thể hiện ở sự
thay đổi về phạm vi kết nối. Trong xu hƣớng toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, các mạng
viễn thông không còn bó hẹp trong phạm vi nội bộ một quốc gia nữa mà đã vƣơn ra
toàn cầu. Tính chất các mạng viễn thông từ đó cũng thay đổi, từ mạng quốc gia trở
thành mạng quốc tế, mạng toàn cầu [6,tr48]. Từ đó cũng làm nảy sinh nhu cầu đòi
hỏi các quốc gia khi đƣa ra các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch
vụ viễn thông và quản lý các mạng viễn thông phải kết hợp hài hòa giữa các quy
định riêng của quốc gia - với các quy định của luật pháp quốc tế và thực tiễn.
Ba là, sự phát triển của ngành kinh doanh dịch vụ viễn thông gắn liền với sự
phát triển của hạ tầng viễn thông, với vấn đề kết nối và sử dụng chung cơ sở hạ tầng
viễn thông và Internet. Xây dựng hạ tầng viễn thông mang tính hiện đại, đồng bộ,
tốc độ cao, vùng bao phủ rộng và đảm bảo tốt vấn đề kết nối mạng không chỉ góp
phần cho việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả hạ tầng viễn thông, mà còn là yếu tố
quan trọng nhằm tăng giá trị của một mạng dịch vụ, giúp ngƣời tiêu dùng đƣợc
hƣởng lợi nhiều hơn khi sử dụng mạng dịch vụ đó.
Nam phải đảm bảo tuân thủ là:
+ Một là, Việt Nam cam kết mở cửa cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài một số
dịch vụ viễn thông nhƣ: dịch vụ viễn thông cơ bản (bao gồm dịch vụ thoại, dịch vụ
truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ
Telex, dịch vụ Telegraph, dịch vụ Facsimile, dịch vụ thuê kênh riêng...) và dịch vụ
giá trị gia tăng (bao gồm thƣ điện tử, thƣ thoại, thông tin trực tuyến và thu thập lấy
thông tin từ cơ sở dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, các dịch vụ Facsimile gia tăng
giá trị, bao gồm lƣu trữ và chuyển, lƣu trữ và khôi phục, chuyển đổi mã và giao
thức, thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu...) Mức độ mở cửa của từng loại hình
dịch vụ sẽ tùy thuộc vào việc nhà cung cấp có cơ sở hạ tầng mạng hay không [8]?
+ Hai là, Việt Nam cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ viễn thông có hạ tầng
mạng cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản, nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ đƣợc phép đầu tƣ để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dƣới các
hình thức: (i) hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc (ii) doanh nghiệp liên doanh với
đối tác Việt Nam với điều kiện góp vốn tối đa của phía nƣớc ngoài không quá 49%
12
vốn pháp định của liên doanh. Đối với các dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị các
nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ đƣợc phép đầu tƣ để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dƣới
các hình thức (i) hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc (ii) doanh nghiệp liên doanh
với đối tác Việt Nam với điều kiện tỷ lệ vốn góp nƣớc ngoài trong liên doanh không
quá 50% [8].
+ Ba là, Việt Nam cũng cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ viễn thông
không có hạ tầng mạng cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣng phải theo hình thức và
điều kiện nhất định. Các hình thức đó là: (i) hợp đồng hợp tác kinh doanh; (ii) liên
doanh với nhà khai thác Việt Nam với điều kiện đối tác Việt Nam phải là nhà cung
cấp đã đƣợc cấp phép trong lĩnh vực dịch vụ tƣơng ứng, và tỷ lệ vốn góp tối đa của
phía nƣớc ngoài là 51% vốn pháp định của liên doanh (kể từ 11/1/2010, bên nƣớc
+ Sáu là, Việt Nam đã cam kết cơ quan quản lý nhà nƣớc về viễn thông là độc
lập. Điều này thể hiện ở các khía cạnh sau: (i) Cơ quan này là độc lập và không chịu
trách nhiệm đối với bất kỳ một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản nào; (ii) Các
quyết định và quy trình thủ tục mà các cơ quan quản lý nhà nƣớc sử dụng phải
khách quan đối với tất cả các đối tƣợng tham gia vào thị trƣờng [8].
Việc các cơ quan quản lý phải là đơn vị độc lập giúp cho việc quản lý đƣợc
khách quan và công bằng, các chính sách và quyết định sẽ không thiên vị đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào.
1.2 Khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông
1.2.1 Khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông và các phương thức khuyến mại
trong kinh doanh dịch vụ viễn thông
Khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông, cũng giống nhƣ hoạt động khuyến mại
trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thƣơng mại khác là một hình thức xúc tiến
thƣơng mại mà xét từ góc độ kinh tế “là hoạt động liên hệ với thị trường do thương
nhân, Chính phủ tiến hành nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển thương mại”
[1,tr15]. Nhƣ đã phân tích ở trên, hoạt động kinh doanh viễn thông bao gồm hoạt
động kinh doanh dịch vụ viễn thông và kinh doanh hàng hóa viễn thông. Bởi vậy,
hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông cũng có thể hiểu theo nhiều nghĩa
rộng, hẹp khác nhau. Trong phạm vi luận văn này, khuyến mại trong lĩnh vực viễn
14
thông đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, không bao hàm hoạt động kinh doanh hàng hóa
viễn thông, tức là chỉ bao gồm những hoạt động xúc tiến thƣơng mại của thƣơng
nhân nhằm thúc đẩy việc cung ứng dịch vụ viễn thông qua cách dành cho khách
hàng những lợi ích nhất định. Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, khi mà cánh
cửa thƣơng mại giữa các quốc gia đang rộng mở thì sự cạnh tranh trên thị trƣờng
viễn thông càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp
kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông không những phải đầu tƣ nhiều hơn cho các
của thƣơng nhân hoặc có thể do thƣơng nhân khác cung cấp. Việc pháp luật cho
phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thƣơng nhân khác để phát tặng cho phép
khuyến khích sự liên kết XTTM của thƣơng nhân nhằm khai thác lợi ích tối đa.
Việc tặng quà trong trƣờng hợp này không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy hành vi mua bán,
sử dụng dịch vụ, mà thƣơng nhân còn có cơ hội quảng cáo, giới thiệu về hàng hóa
dịch vụ của nhau [1,tr59].
(c) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với giá bán hàng, cung ứng dịch vụ thấp
hơn giá trƣớc đó (giảm giá). Trong thực tế, hình thức khuyến mại này trong lĩnh vực
viễn thông đƣợc biểu hiện hết sức phong phú, chẳng hạn nhƣ: thƣơng nhân giảm giá
bán SIM có chứa số thuê bao di động, tặng 100% giá trị thẻ nạp tiền, giảm giá cƣớc
thuê bao tháng, tặng miễn phí một số cuộc gọi nội mạng cho khách hàng.... Bên
cạnh yếu tố chất lƣợng của hàng hóa, dịch vụ, thì yếu tố giá cả cũng tác động khá
mạnh đến sự lựa chọn của khách hàng. Bởi vậy, việc sử dụng hình thức giảm giá có
thể coi là một trong những chiến lƣợc hiệu quả để thu hút khách hàng, đặc biệt là
trong trƣờng hợp có nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, và sự khác nhau về
chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ là không quá lớn.
(d) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng
dịch vụ. Đây là hình thức khuyến mại trong đó khách hàng đƣợc sử dụng phiếu mua
hàng có mệnh giá cụ thể để đƣợc hƣởng chiết khấu trong những lần mua sau trong
hệ thống bán hàng của thƣơng nhân hoặc khách hàng đƣợc phiếu sử dụng dịch vụ
miễn phí hoặc với giá rẻ theo những điều kiện do nhà cung cấp dịch vụ đƣa ra, ví dụ
nhƣ: khi khách hàng mua SIM có chứa số thuê bao di động, máy điện thoại di động
có gắn sẵn số thuê bao di động để hoà mạng, thƣơng nhân sẽ tặng kèm cho khách
16
hàng phiếu sử dụng dịch vụ thông tin di động của chính mình hoặc tặng phiếu mua
hàng hoá, phiếu sử dụng dịch vụ của các thƣơng nhân khác.
(đ) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để
(f) Tổ chức chƣơng trình khách hàng thƣờng xuyên: đối với mọi doanh
nghiệp, các khách hàng đã sử dụng dịch vụ, sản phẩm của doanh nghiệp trong một
thời gian dài bao giờ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong doanh thu của doanh
nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc hƣớng tới mở rộng thị trƣờng, tìm kiếm những khách
hàng mới, thì các doanh nghiệp cũng cần có cách thức củng cố mối quan hệ bền
vững với những khách hàng cũ. Chƣơng trình khách hàng thƣờng xuyên là hình
thức khuyến mại hƣớng tới những đối tƣợng là khách hàng trung thành với sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Ở hình thức này, thƣơng nhân trên cơ sở số lƣợng,
giá trị mua hàng hóa, dịch vụ thể hiện qua các phiếu, thẻ thanh toán đủ điều kiện là
khách hàng thƣờng xuyên để tặng thƣởng cho họ, từ đó sẽ có tác dụng khích lệ rất
lớn đối với lòng trung thành của khách hàng.
(g) Tổ chức cho khách hàng tham gia các chƣơng trình văn hóa, nghệ thuật, giải
trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại. Đây là một hình thức khuyến mại khá
đặc biệt, bởi nó tác động đến ngƣời khách hàng thông qua những “giá trị về tinh thần”
mà thƣơng nhân muốn đem đến cho khách hàng. Hình thức này cũng đƣợc sử dụng
khá nhiều trong những năm gần đây, và bên cạnh ý nghĩa của hoạt động khuyến mại,
hình thức khuyến mại này còn có ý nghĩa nhƣ hoạt động quảng cáo khi nó giúp cho
doanh nghiệp có thể quảng cáo tên tuổi, hàng hóa, dịch vụ của mình (thông qua
những băng rôn quảng cáo, những thông tin quảng cáo đƣợc đƣa ra xen kẽ trong
chƣơng trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí… mà khách hàng tham gia)
1.2.2 Tác động của khuyến mại trong kinh doanh dịch vụ viễn thông
Khuyến mại đang là một “vũ khí” ngày càng trở nên quan trọng trong tiếp thị,
quảng bá sản phẩm, dịch vụ viễn thông. Ở nhiều doanh nghiệp, chi phí cho hoạt
động này tăng nhanh, bắt đầu vƣơn lên bằng hoặc vƣợt chi phí dành cho quảng cáo,
nhiều khi chiếm trên 50% ngân sách dành cho các hoạt động tiếp thị [12].
Thực tế những năm gần đây cho thấy, cuộc chạy đua về khuyến mại trong lĩnh
vực dịch vụ viễn thông đang ngày càng trở nên gay gắt. Nó đã tác động nhiều tới
18
19
cấp dịch vụ trên thị trƣờng trong ba năm qua thì một trong những nguyên nhân làm
nên thành công của Viettel chính là chiến lƣợc định vị tốt với tiêu chí tiếp cận “vì
khách hàng trước, vì mình sau”. Động thái này thể hiện ở giá thấp, các gói tính
cƣớc có lợi cho khách hàng, các cách chăm sóc khách hàng tốt v.v. [18]
Từ việc thu hút đƣợc khách hàng, khoản lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng
không ngừng tăng lên. Dù có đua nhau khuyến mãi song hàng năm, sau khi đã trừ đi
một khoản chi phí từ một vài nghìn đến cả chục nghìn tỷ đồng, các nhà cung cấp
mạng vẫn thu đƣợc những khoản doanh thu, lợi nhuận khổng lồ. Hai "ngƣời khổng
lồ" trong thị trƣờng kinh doanh viễn thông di động Việt Nam là Mobi Fone và
Viettel đều liên tục 3 năm 2007- 2010 có tên trong danh sách 1.000 doanh nghiệp
rồi 10 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất của cả nƣớc. Thậm
chí, hãng Mobi Fone còn leo lên vị trí dẫn đầu với số thuế thu nhập đã nộp tới 6.000
tỷ đồng. Ngay cả những nhà cung cấp chƣa có tên tuổi, thuộc hàng "em út" nhƣ
EVN Telecom, doanh thu hằng tháng cũng đã vƣợt qua con số gần 200 tỷ đồng và
lƣợng khách thuê bao đã đạt trên 4,65 triệu [10].
b) Tác động tiêu cực:
- Đối với khách hàng: Các chƣơng trình khuyến mại phát triển ồ ạt song
mạng lƣới phát triển không kịp, dung lƣợng kết nối không đƣợc quy hoạch và gia
tăng kịp thời thì việc suy giảm chất lƣợng dịch vụ, không đảm bảo chất lƣợng dịch
vụ là tất yếu. Tình trạng nghẽn mạch, nhất là khi có những đợt khuyến mại lớn đã
gây không ít phiền toái cho khách hàng. Trong năm 2005, Viettel đã từng tung ra
chƣơng trình khuyến mại “gọi điện thoại đến cháy pin” với nội dung mỗi ngày miễn
phí cuộc gọi nội mạng đầu tiên cho khách hàng mà không bị giới hạn thời gian gọi.
Trái hẳn với cam kết của nhà cung cấp dịch vụ rằng chƣơng trình khuyến mãi sẽ
không ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ, tình trạng nghẽn mạch, tin nhắn đến chậm,
nhảy số của thuê bao Vietel đã liên tiếp xảy ra, khiến cho nhiều thuê bao không thể
thực hiện đƣợc các cuộc gọi từ mạng di động 098 đến mạng 091 và các thuê bao cố
hậu quả từ chính những hành vi chạy theo dịch vụ khuyến mại của mình.
- Đối với các doanh nghiệp: Hiện nay, mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng viễn
thông di động là rất cao. Cuộc đua về giá cƣớc, cạnh tranh trong các sản phẩm dịch
21
vụ gia tăng giữa các nhà mạng lớn đã, đang và sẽ diễn ra ngày một khốc liệt. Hằng
năm, các nhà mạng lớn đều tung ra những chƣơng trình ganh đua khuyến mãi, so kè
từng tỷ lệ tặng trong mỗi đợt phát triển thuê bao. Sự ganh đua giảm cƣớc này nói
chung chỉ đem lại lợi ích tức thì cho các nhà mạng lớn, với số lƣợng thuê bao cũ đã
tƣơng đối ổn định cũng nhƣ đã có hạ tầng mạnh. Còn các nhà mạng mới khó cạnh
tranh nổi với các nhà mạng lớn. Vì vậy “miếng bánh thị phần” của họ ngày càng
nhỏ đi. Bên cạnh đó, ngƣời tiêu dùng phần nhiều lại chỉ chạy theo hình thức “trả
trƣớc” để đƣợc hƣởng khuyến mại mà lãng quên việc sử dụng hình thức thuê bao
bền vững. Điều này sẽ ảnh hƣởng không nhỏ tới các nhà cung cấp dùng chung hạ
tầng mạng - những mạng ra đời nhằm vào những đối tƣợng khách hàng đặc trƣng,
và phải là thuê bao bền vững.
- Đối với sự phát triển của thị trƣờng viễn thông di động. Thực tế cho thấy,
không thể phủ nhận vai trò của khuyến mại trong việc giúp tăng trƣởng thuê bao
một cách ngoạn mục ở thị trƣờng viễn thông Việt Nam. Vào tháng 12/2006, cả nƣớc
chỉ có 18.892.480 thuê bao di động thì đến tháng 12/2009, con số này đã lên đến
98.223.980 thuê bao [16]. Cũng trong khoảng thời gian trên, số thuê bao điện thoại
cố định cũng tăng từ 8.567.520 lên đến 17.427.365 thuê bao [16]. Tuy nhiên, bên
cạnh đó, sự phát triển quá nóng của thị trƣờng do các chƣơng trình khuyến mại
mang lại, về lâu dài sẽ gây nên những hậu quả xấu khi mà số lƣợng thuê bao của
các mạng tăng mạnh nhƣng không phản ánh đúng số thuê bao thực tế. Trong năm
2006, MobiFone đã phát triển mới đƣợc 6 triệu thuê bao nhƣng trong số đó có tới
4,7 triệu thuê bao đã cắt và chỉ còn lại số thuê bao thực là 1,6 triệu thuê bao. Tính
đến quý I năm 2007, VinaPhone công bố tổng số thuê bao thực là 5,5 triệu thuê bao,