ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG M&A CÁC TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa
Bảng 1.1:
Các hợp đồng M&A lớn trong lĩnh vực ngân hàng ở
MỸ
26
Hình 1.1:
Giá trị giao dịch M&A trên toàn cầu (2005-quí I năm 2008
26
Bảng 1.2:
Các hợp đồng M&A lớn trong năm 2007
29
Bảng 1.3:
Các hợp đồng M&A lớn trong những tháng cuối năm
2008 (tính đến thời điểm tháng 9)
30
Bảng 1.4:
Diễn biến tình hình hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam
33
Bảng 1.5:
Một số thương vụ M&A giữa ngân hàng nông thôn và
ngân hàng lớn ở đô thị tại Việt Nam giai đoạn 1999 – 2004
80
Bảng 1.6:
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG “MUA LẠI, SÁP
NHẬP DOANH NGHIỆP” (MERGERS AND
ACQUISITIONS – M&A) 5
1.1.
Tổng quan về hoạt động M&A
5
1.2.
Thực trạng của hoạt đông M&A
23
1.2.1
Diễn biến hoạt động M&A trên thế giới
23
1.2.2.
Diễn biến của thị trường M&A ở Việt Nam
31
1.2.3.
Những đặc điểm chính của thị trường mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp Việt N
39
1.2.4.
Những tác động tiêu cực tiềm ẩn trong hoạt động mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
2.2.
Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động sáp
nhập, mua lại
112
2.3.
Khuôn khổ pháp lý cho M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
tạinViệt Nam
128
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT
ĐỘNG SÁP NHẬP, MUA LẠI CÁC TỔ CHỨC TÀI
CHÍNH Ở VIỆT NAM 133
3.1.
Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ điều chỉnh
hoạt động sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam
133
3.2.
Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ điều chỉnh
hoạt động sáp nhập, mua lại các tổ chức trong ngành tài chính ở
việt Nam 137
3.3
Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh
hoật động M&A các tổ chức tài chính ở Việt Nam
Mục tiêu các hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng có
thể là để tối đa hóa lợi nhuận, đa dạng hóa và giảm rủi ro cho chủ sở hữu, hoặc
gia tăng các lợi ích cho các nhà quản trị, cũng như có thể xuất phát từ mục tiêu
của chính phủ nhằm tái cơ cấu lại hệ thống trong các cuộc khủng hoảng. Thực
tế hoạt động của các TCTD ngân hàng và phi ngân hàng tại Việt Nam cho
thấy, hoạt động M&A đã từng được thực hiện vào những năm đầu của thập
niên 90 của thế kỉ XX sau cuộc đổ bể của các Hợp tác xã tín dụng.
Được đánh giá là đất nước có nền kinh tế phát triển nhanh, nền chính trị
ổn định, Việt Nam trở thành điểm thu hút đầu tư hấp dẫn và được trông đợi sẽ
là một con rồng Châu Á trong tương lai. Chính vì thế, hoạt động M&A ở Việt
Nam ngày càng trở nên hấp dẫn và hứa hẹn sẽ gia tăng nhanh chóng trong
những năm tới. Các chuyên gia kinh tế nhận định rằng thị trường M&A ở Việt
Nam đang trở thành một thị trường tiềm năng, với tốc độ phát triển lên tới 30-
40%/năm.
Như một xu hướng tất yếu, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng
vào nền kinh tế toàn cầu và sự mở cửa thị trường theo cam kết gia nhập WTO
của Việt Nam, hoạt động M&A sẽ ngày càng sôi động. Đây được nhận định là 2
một xu hướng tốt lành cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, với điều kiện, thị
trường này phải hoạt động lành mạnh theo những quy định của luật pháp.
Thời gian qua, dù khung pháp lý của thị trường M&A đã được cải thiện,
Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư đều có những điều khoản
quy định về hoạt động M&A nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Các quy định liên
quan đến hoạt động M&A mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức
của hoạt động M&A, trong khi đó, các vấn đề về mặt nội dung cần phải được
quy định đầy đủ hơn nữa vì hoạt động này còn có nhiều nội dung liên quan
đến định giá Doanh nghiệp, giải quyết các vấn đề tài chính, cổ phần, cổ phiếu,
người lao động, thuế, phí của Doanh nghiệp trong và sau quá trình M&A.
cứu pháp luật quốc tế và các quy định của pháp luật Việt Nam về M&A các tổ
chức tài chính.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống
về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài mang ý nghĩa
lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với luật
pháp quốc tế.
Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực
cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích đảm
bảo một môi trường pháp lý cho hoạt động này được phát triển một cách có
định hướng.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sơ sở lý
luận của hoạt động M&A theo pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia
điển hình và pháp luật của Việt Nam.
Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về
pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia trong điểu chỉnh hoạt động này. Qua đó 4
nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện
pháp luật đối với lĩnh vực này
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định pháp
luật quốc tế và luật pháp của một số quốc gia, thu thập kinh nghiệm thực tiễn
của một số quốc gia trong việc điều chỉnh hoạt động M&A các tổ chức tài
chính mà trọng tâm là các ngân hàng từ đó rút ra những ưu điểm trong quy
định của pháp luật quốc tế và luật pháp của một số nước điển hình trên thế
giới về hoạt động M&A; xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để
hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc
điều chỉnh hoạt động M&A trong các tổ chức tài chính nhằm tạo một môi
hiểm là một loại hình Doanh nghiệp đặc biệt nên M&A các tổ chức tài chính
cũng có bản chất như M&A doanh nghiệp nói chung: rất đa dạng, được diễn ra
dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau:
1.1.1. Hoạt động mua lại tổ chức tài chính
1.1.1.1. Khái niệm
Mua lại là hình thức kết hợp mà một Tổ chức tài chính mua lại một
phần hoặc toàn bộ cổ phần của Tổ chức tài chính kia. Mục đích của hoạt động
này nhằm hướng đến việc thâu tóm thị trường, mạng lưới phân phối hoặc tận
dụng mạng lưới phân phối để đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới.
Các đối tượng thường được chú ý đến trong trường hợp này là những Tổ chức
tài chính đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có thị phần ổn định. Tuy
vậy, đôi khi hoạt động mua lại cũng gắn liền với việc mua bán nợ và các đối 6
tượng được nhắm tới là các Tổ chức tài chính đang trong tình trạng chuẩn bị
giải thể, phá sản, không có khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động này cũng có thể được gọi bằng cái tên khác là tái cấu trúc Tổ chức
tài chính.
1.1.1.2. Các hình thức của hoạt động mua lại tổ chức tài chính
Mua lại Tổ chức tài chính, về bản chất nó không là một hoạt động đưa
đến việc thành lâp Tổ chức tài chính mới để dẫn đến sự hình thành một Tổ
chức tài chính mới thay thế cho Tổ chức tài chính cũ. Mua lại Tổ chức tài
chính là việc một Tổ chức tài chính mua lại Tổ chức tài chính khác và cổ
phiếu của Tổ chức tài chính đi mua vẫn tồn tại trên thị trường, đối với Tổ chức
tài chính bị mua lại có thể vẫn còn hoặc biến mất tùy theo mục tiêu và ý muốn
của hai bên tham gia vào cuộc mua lại.
Nếu xét về tính chất của giao dịch mua lại Tổ chức tài chính thì
ta có thế phân hoạt động mua lại Tổ chức tài chính thành 2 loại:
- Mua lại Tổ chức tài chính mang tính chất thân thiện (friendly
đến việc thực hiện trách nhiệm pháp lý. Đây là một vấn đề rất quan trọng.
Những trách nhiệm pháp lý đó không chỉ bao gồm không những trách nhiệm
hiện tại và có thể có cả những thiệt hại cho tòa án ra quyết định trong tương lai
và tài sản không thể đảm bảo được.
Sự nổi lên của vấn đề toàn cầu hóa đã làm cho các vụ mua lại Tổ chức
tài chính được thực hiện bởi các Tổ chức tài chính nước ngoài ngày càng gia
tăng nhanh chóng. Những thương vụ giao dịch đó được gọi là mua lại Tổ chức
tài chính xuyên quốc gia (transnational acquisitions) hoặc mua lại Tổ chức tài
chính chéo (cross-border acquisitions). Các vụ giao dịch này được thúc đẩy
bởi việc quan tâm đến sự đa dạng của chiến lược kinh doanh của Tổ chức tài
chính. Tuy nhiên, các vụ mua lại Tổ chức tài chính chéo diễn ra khá là phức
tạp hơn so với các vụ mua lại giữa các Tổ chức tài chính trong nước. Sự phức 8
tạp đó là do sự khác nhau về môi trường chính trị, kinh tế, cách thức tổ chức
Tổ chức tài chính, văn hóa, phong tục truyền thống, nguyên tắc thuế, kế toán
giữa các nước của Tổ chức tài chính đi mua và Tổ chức tài chính mục tiêu.
Các Tổ chức tài chính đi mua lại các Tổ chức tài chính khác cần phải quan
tâm đến những sự khác biệt đó bởi vì nó thường là nguyên nhân dẫn đến sự
thất bại cho Tổ chức tài chính đi mua sau khi hoạt động mua lại đã được tiến
hành.
1.1.2. Hoạt động sáp nhập tổ chức tài chính
1.1.2.1. Khái niệm
Sáp nhập Tổ chức tài chính là sự kết hợp của hai Tổ chức tài chính để
trở thành một Tổ chức tài chính mới có giá trị lớn hơn hai Tổ chức tài chính
đang hoạt động riêng lẻ. Hoạt động này đặc biệt hữu ích khi các Tổ chức tài
chính rơi vào những thời kỳ khó khăn cho cạnh tranh, tác động thị trường hay
bất kỳ yếu tố nào khác.
Hoạt động sáp nhập Tổ chức tài chính thường là hành vi mang tính chất
lực cụ thể do Tổ chức tài chính kiểm soát, đặc biệt là năng lực quản lý;
- Để sa thải đội ngũ quản lý hiện tại;
- Để sử dụng các lợi ích về thuế mà nếu không có sáp nhập sẽ không có
được;
- Để mua lại những tài sản với giá thấp hơn giá thị trường;
- Để tăng trưởng mà không phải trải qua thời kỳ chờ đợi .
Tổng hợp lại, chúng ta có thể thấy ba động cơ chính của hoạt động
M&A trên thế giới là: động cơ tài chính, động cơ đầu tư và động cơ chiến
lược.
1.1.2.2. Các hình thức của hoạt động sáp nhập Tổ chức tài chính
Sáp nhập được hiểu là việc kết hợp giữa hai hay nhiều Tổ chức tài chính
và cho ra đời một Tổ chức tài chính mới thay thế cho sự biến mất của các Tổ 10
chức tài chính cũ, thường nhằm để thực hiện mục tiêu đầu tiên là làm cho giá
trị của Tổ chức tài chính lớn hơn so với khi hoạt động riêng lẻ. Qua nghiên
cứu lịch sử của hoạt động sáp nhập Tổ chức tài chính của một số nước và khu
vực có nền kinh tế phát triển trên thế giới có thể thấy rằng, hoạt động sáp
nhập Tổ chức tài chính có rất nhiều hình thức khác nhau. Tùy theo khía cạnh
đang nghiên cứu về hoạt động sáp nhập Tổ chức tài chính mà chúng sẽ được
phân thành nhiều loại khác nhau:
Phân loại theo mối quan hệ giữa các Tổ chức tài chính tiến hành
sáp nhập:
- Sáp nhập chiều ngang (horizontal acquisition) còn được gọi là sáp
nhập cùng ngành, là hình thức sáp nhập giữa các Tổ chức tài chính cùng cạnh
tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- Sáp nhập Tổ chức tài chính theo chiều dọc (vertical mergers): Đây
là hình thức sáp nhập giữa Tổ chức tài chính khách hàng hoặc Tổ chức tài
chính là nhà cung cấp của Tổ chức tài chính lại với nhau.
một pháp nhân mới và một thương hiệu Tổ chức tài chính mới được hình
thành. Tài chính của hai Tổ chức tài chính sẽ được hợp nhất trong Tổ chức tài
chính mới.
1.1.3. Sự khác nhau giữa hoạt động “mua lại” và “sáp nhập” các tổ
chức tài chính
Mặc dù “mua lại” và “sáp nhập” thường được đề cập cùng nhau thành
một thuật ngữ "Mua lại, sáp nhập Tổ chức tài chính" nhưng đây là hai thuật
ngữ hoàn toàn khác biệt nhau về bản chất.
Khi một Tổ chức tài chính mua lại một Tổ chức tài chính khác và đặt
mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua lại. Về khía
cạnh pháp lý, Tổ chức tài chính bị mua lại – Tổ chức tài chính mục tiêu – 12
không còn tồn tại. Bên mua đã thôn tính bên bán và cổ phiếu của bên vẫn tiếp
tục tồn tại.
Khi hai Tổ chức tài chính đồng thuận gộp lại thành một Tổ chức tài
chính mới thay vì hoạt động đơn lẻ thì gọi là sáp nhập. Cổ phiếu của cả hai Tổ
chức tài chính sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của Tổ chức tài chính mới sẽ
được phát hành.
Tóm lại, trong một vụ sáp nhập, một Tổ chức tài chính mới sẽ được
hình thành thay cho cả hai Tổ chức tài chính đơn lẻ, ngược lại, trong một vụ
mua lại thì Tổ chức tài chính bị mua trở thành một chi nhánh của Tổ chức tài
chính đi mua. Nhưng cả hai đều cùng mong muốn đạt được lợi thế quy mô,
tăng hiệu quả kinh doanh và thị phần
Tuy nhiên có sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Bởi vì, trên thực tế
hình thức sáp nhập, đặc biệt là hình thức sáp nhập ngang – sự sáp nhập của hai
Tổ chức tài chính trong cùng ngành nghề có cùng quy mô – không thường
xuyên xảy ra do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là do việc truyền tải
thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả Tổ chức tài chính bị mua và Tổ chức
TTCK tạo một áp lực phát triển đối với Tổ chức tài chính bởi vì TTCK
là công cụ phản ảnh rất nhanh hoạt động của Tổ chức tài chính ra thị trường.
Ngoài ra TTCK tạo ra một môi trường minh bạch buộc các Tổ chức tài chính
phải tuân thủ theo những quy định của thị trường. Từ đó các Tổ chức tài chính
muốn tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh gây gắt thì Tổ
chức tài chính cần tận dụng mọi nguồn nội lực để đạt được mục tiêu đó. Tuy
nhiên, bản thân các Tổ chức tài chính đều bị giới hạn ở một số nguồn lực hoặc
Tổ chức tài chính đã sử dụng hết nguồn nội lực của mình. Tổ chức tài chính
cần huy động thêm để gia tăng các nguồn lực và khả năng cạnh tranh. Đây là
tiền đề dẫn đến sự ra đời và phát triển của thị trường M&A Tổ chức tài chính. 14
Tóm lại, sự phát triển của nền kinh tế là tiền đề cho sự phát triển của
TTCK, sự phát triển của TTCK lại hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế.
Đồng thời, sự phát triển của cả nền kinh tế và TTCK lại là tiền đề cho sự ra
đời và phát triển của thị trường M&A. Như vậy sự có mặt của thị trường
M&A là sự phát triển tất yếu, không thể từ chối sự có mặt của thị trường này
trong tiến trình phát triển kinh tế. Cách duy nhất là cần phải chuẩn bị để đón
nhận và kiểm soát hoạt động M&A để có thể phát huy được những mặt tích
cực cũng như là kiểm soát và hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường
M&A đến với Tổ chức tài chính, thị trường và xã hội.
1.1.5. Các nội dung của hoạt động mua lại, sáp nhập các tổ chức tài
chính
1.1.5.1. Xác định mục tiêu hoạt động mua lại, sáp nhập các tổ chức
tài chính
Việc ra quyết định thực hiện hay không thực hiện hoạt động M&A là
một sự tự chủ hoàn toàn của Tổ chức tài chính. Một Tổ chức tài chính quyết
định tham gia vào một thương vụ M&A, cho dù đứng ở vị thế nào trong
thương vụ này, đều hướng đến một mục tiêu nhất định. Những mục tiêu đằng
cũng chính là những mục tiêu mà hoạt động M&A cố gắng hướng đến.
Giảm áp lực cạnh tranh cho Tổ chức tài chính:
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, các Tổ chức tài chính phải
thường xuyên đối chọi với các đối thủ cạnh tranh một cách trực tiếp. Điều đó
luôn đặt Tổ chức tài chính dưới áp lực cạnh tranh gây gắt. Một phương thức
để giảm bớt áp lực cạnh tranh từ đối thủ của mình đó là các Tổ chức tài chính
sẽ thực hiện việc mua lại các đối thủ cạnh tranh đó. Việc mua lại này một mặt
góp phần làm giảm áp lực cạnh tranh đồng thời biến Tổ chức tài chính trở
thành một Tổ chức tài chính lớn hơn trong ngành nghề kinh doanh cũ, làm 16
tăng lợi thế cạnh tranh của Tổ chức tài chính mới với các đối thủ cạnh tranh
còn lại.
Mục tiêu này thường được các Tổ chức tài chính hoạt động trong các
ngành nghề kỹ thuật cao, đòi hỏi một khoảng chi phí lớn cho công tác nghiên
cứu và phát triển. Chẳng hạn như các Tổ chức tài chính sản xuất linh kiện điện
tử nhỏ bán lại Tổ chức tài chính cho những Tổ chức tài chính lớn hơn, có
doanh thu cao và có cơ sở, kinh phí để thực hiện công tác nghiên cứu và phát
triển tốt, nhằm hạn giảm bớt chi phí cho hoạt động nghiên cứu và tăng doanh
thu ròng của Tổ chức tài chính. Nếu mục tiêu này thành công sẽ góp phần làm
tăng giá chứng khoán của Tổ chức tài chính đi bán lại, còn đối với Tổ chức tài
chính đi mua họ kỳ vọng từ giao dịch mua lại Tổ chức tài chính này là sự gia
tăng dòng tiền mặt cho Tổ chức tài chính.
Mở rộng thị trường:
Một mục tiêu khác mà các nhà quản trị khi theo đuổi các thương vụ
M&A muốn đạt được có thể là sự mở rộng thị trường. Tổ chức tài chính có thể
tiến hành sáp nhập hay mua lại Tổ chức tài chính khác có lợi thế về khía cạnh
marketing hay những Tổ chức tài chính mục tiêu đang hoạt động ở những thị
thực hiện và đang muốn hướng đến là một phương thức đa dạng hóa dịch vụ
do Tổ chức tài chính cung ứng nhanh nhất. Trong trường hợp này thương vụ
M&A Tổ chức tài chính hướng đến mục tiêu đa dạng hóa dịch vụ.
Trước khi quyết định thực hiện hay không thực hiện hoạt động M&A
thì các nhà quản trị cấp cao của Tổ chức tài chính cần xác định cho rõ mục
tiêu mà họ muốn đạt được thông qua con đường M&A là gì? Bởi vì việc xác
định mục tiêu là cơ sở để ra quyết định thực hiện hay không thực hiện M&A
và nó là cơ sở cho các công việc tiếp theo trong tiến trình thực hiện hoạt động
này, chẳng hạn như xác định Tổ chức tài chính mục tiêu, thẩm định giá trị Tổ 18
chức tài chính,… Tuy nhiên, Tổ chức tài chính cần lưu ý rằng, đứng quá tham
lam khi đặt ra quá nhiều mục tiêu phải đạt được thông qua một thương vụ
M&A. Hoạt động M&A là một công việc vô cùng phức tạp, phải trải qua
nhiều công đoạn thực hiện khác nhau, cần huy động sự trợ giúp của nhiều đối
tượng khác nhau và cần giải quyết rất nhiều vấn đề vì thế việc đưa ra nhiều
mục tiêu phải đạt được trong một thương vụ sẽ làm cho công việc này càng trở
nên khó khăn hơn, nhất là trong khâu đàm phán thỏa thuận giao dịch và giai
đoạn hợp nhất sau khi thực hiện xong M&A. Điều đó, cũng làm cho Tổ chức
tài chính rất khó đưa ra một quyết định chính xác và vì thế rất dễ rơi vào
những cạm bẫy của hoạt động M&A.
Cơ sở để Tổ chức tài chính đưa ra các mục tiêu cần đạt được thông qua
một thương vụ M&A đó là nguồn lực cơ bản hiện tại của Tổ chức tài chính.
Theo quan điểm của lý thuyết “nguồn lực cơ bản” thì hoạt động mua lại Tổ
chức tài chính là sự tìm kiếm các nguồn lực và khả năng bổ sung các nguồn
lực mới để tác động đến những nguồn lực cơ bản của Tổ chức tài chính nhằm
giành lấy những lợi thế cạnh tranh cho cả hai bên chủ thể tham gia vào hoạt
động M&A. Việc xác định được chính xác được các nguồn lực cơ bản hiện tại
của Tổ chức tài chính là một công việc cũng rất khó. Để làm được điều này Tổ
chức tài chính cần phải tiến hành lựa chọn Tổ chức tài chính mục tiêu trong
tổng số nhiều Tổ chức tài chính mà đã được sàng lọc trước đó.
1.1.5.3. Định giá Tổ chức tài chính
Vấn đề tiếp theo mà Tổ chức tài chính, cả bên mua lẫn bên bán và cả
các bên tiến hành sáp nhập, phải quan tâm đó là việc định giá Tổ chức tài
chính. Mặc dù hoạt động M&A được hầu như được thực hiện trên cơ sở tự
quyết định của Tổ chức tài chính, mọi vấn đề trong quá trình giao dịch được
giải quyết trên nguyên tắc đàm phán và thỏa thuận giữa hai bên, kể cả giá cả
của thương vụ. Việc xác định mức giá giao dịch, là mức giá mua hoặc mức giá 20
bán, sẽ ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của thương vụ. Trả giá quá
cao thì thiệt hại cho bên mua, mức giá thấp thì gây tổn hại của bên bán. Như
vậy, mức giá trong giao dịch M&A là mức giá thuận mua, vừa bán. Công tác
định giá trong hoạt động M&A không phải nhằm tìm ra mức giá giao dịch như
trong việc tiến hành CPH các DNNN. Trong quá trình tiến hành CPH DNNN,
công tác định giá doanh nghiệp nhằm đánh giá giá trị doanh nghiệp tại thời
điểm tiến hành CPH, làm cơ sở xác định mức giá tối thiểu của cổ phiếu doanh
nghiệp trong buổi đấu giá đầu tiên cổ phiếu doanh nghiệp và thu hồi lại bớt
hoặc toàn bộ vốn của Nhà nước đã bỏ ra đầu tư trước đó. Trong hoạt động
M&A mức giá của hợp đồng là mức giá thỏa thuận.
Công tác định giá giá trị Tổ chức tài chính trong hoạt động M&A là một
công việc nhằm xác định mức giá cơ sở để cho các Tổ chức tài chính tiến hành
thỏa thuận. Hay nói một cách khác, định giá Tổ chức tài chính là cái nền cho
sự thỏa thuận của các Tổ chức tài chính về mức giá giao dịch. Vì vậy, công tác
định giá giá trị Tổ chức tài chính trong M&A đều cần thiết đối với cả hai bên
tham gia. Bên mua định giá Tổ chức tài chính mục tiêu để có cơ sở xác định
giá chào mua. Bên bán định giá chính mình để có cơ sở đưa ra giá chào bán.
Chính vì thế mà việc định giá Tổ chức tài chính đáp ứng yêu cầu CPH Tổ