BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN TRONG VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI - 2011
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô giáo
trường Đại học Luật Hà Nội đã trang bị cho em những kiến thức cần thiết trong suốt
quá trình học tập dưới mái trường này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy giáo - TS. Bùi Ngọc
Cường - giảng viên khoa Pháp luật Kinh tế - trường Đại học Luật Hà Nội. Thầy là
người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian em hoàn thành bản
3
NTD
Người tiêu dùng
4
LHQ
Liên hợp quốc
5
Thương nhân
Tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
6
VINASTAS
7
EU
8
OECD
1.2.1. Khái quát chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ....................................... 14
1.2.2. Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ..................................................... 17
1.3.Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý BVNTD đối
với Việt Nam ............................................................................................................... 20
1.3.1. Vài nét về tình hình BVNTD trên thế giới ....................................................... 20
1.3.2. Những nỗ lực quốc tế BVNTD ........................................................................ 23
1.3.2.1. Tổ chức Quốc tế NTD CI ......................................................................................... 23
1.3.2.2. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về BVNTD ........................................................... 24
1.3.3. Kinh nghiệm xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý BVNTD ở một số nước trên
thế giới ......................................................................................................................... 25
1.3.3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ......................................................................................... 25
1.3.3.2. Kinh nghiệm của Pháp .............................................................................................. 25
1.3.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam............................................................ 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM
CỦA THƯƠNG NHÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU
DÙNG............................................................................................................................ 29
2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của thương
nhân trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ............................................................... 29
2.1.1. Trách nhiệm của thương nhân đối với việc cung cấp thông tin trung thực về hàng
hóa, dịch vụ cho NTD ................................................................................................. 29
2.1.2. Trách nhiệm của thương nhân trong việc đảm bảo chất lượng, số lượng hàng
hóa, dịch vụ ................................................................................................................. 34
2.1.2.1. Trách nhiệm đảm bảo chất lượng hàng hóa, dịch vụ ............................................. 34
2.1.2.2. Trách nhiệm đảm bảo số lượng hàng hóa, dịch vụ ................................................ 36
2.1.3. Trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo đảm trung thực về giá cả hàng hóa,
dịch vụ ......................................................................................................................... 37
2.1.4. Trách nhiệm của thương nhân trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của NTD đối
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của thương nhân, nâng cao
hiệu quả hoạt động BVNTD ở Việt Nam............................................................... 72
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành .................................................. 72
3.2.1.1. Quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin .................................................. 72
3.2.1.2. Quy định về ghi nhãn hàng hóa................................................................................ 73
3.2.1.3. Quy định về trách nhiệm đảm bảo chất lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ ....... 74
3.2.1.4. Quy định về trách nhiệm quảng cáo trung thực, chính xác ......................... 74
3.2.1.5. Quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung .......................... 74
3.2.1.6. Quy định về trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện ....................... 76
3.2.1.7. Quy định về trách nhiệm sản phẩm của thương nhân ........................................... 76
3.2.2. Hoàn thiện thiết chế thực thi pháp luật BVNTD ............................................... 83
3.2.3. Nâng cao trách nhiệm xã hội của thương nhân ................................................. 85
3.2.4. Xây dựng cơ chế tự vệ cho NTD....................................................................... 86
3.2.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD bằng
biện pháp hành chính ................................................................................................... 88
3.2.6. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD bằng
biện pháp dân sự .......................................................................................................... 88
KẾT LUẬN................................................................................................................... 90
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thời đại nào cũng vậy, con người luôn là chủ thể xây dựng và là khách thể
được quan tâm bảo vệ nhất của hệ thống pháp luật. Với mong muốn xây dựng một xã
hội công dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” thì ngoài việc tạo ra một khung pháp lý cho sự tự do cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, pháp luật còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo vệ quyền lợi
minh bạch.
Trong bối cảnh đó, với việc lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm của thương nhân
trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay” tác giả luận văn muốn
khẳng định ý nghĩa to lớn của công tác bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện kinh tế
thị trường; nâng cao trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của giới thương nhân trong
công tác bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NTD; góp phần thực thi có hiệu quả
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BVNTD, pháp luật BVNTD và đặc biệt là trách nhiệm của thương nhân trong
công tác BVNTD là những nội dung nghiên cứu khá mới mẻ ở Việt Nam. Có thể
thấy, gần đây để phục vụ cho việc xây dựng dự thảo Luật BVNTD thì các vấn đề này
càng được xã hội và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm.
Đó là: Luận văn Thạc sỹ “Pháp luật về BVNTD ở Việt Nam hiện nay” của tác
giả Bùi Thị Long (2007); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Nghiên cứu vai
trò của Hội BVNTD trong việc BVNTD ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Vân Anh
làm chủ nhiệm đề tài (2011); Bài viết “Bảo vệ quyền lợi NTD trong pháp luật cạnh
tranh” của Thạc sỹ Ngô Vĩnh Bạch Dương, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
11/2000; Bài viết “Pháp luật và vấn đề BVNTD” của tác giả Đặng Vũ Huân đăng
trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng 1/2005;
Bài viết “Gian lận chuyện thực thi pháp luật BVNTD” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh
đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2007; Bài viết “NTD và pháp luật
BVNTD” của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn đăng trên Nghiên cứu lập pháp số 1/2009;
Tham luận “Pháp luật về các thiết chế BVNTD” của GS. TS. Lê Hồng Hạnh tại Hội
thảo khoa học của Viện Konrad Adenauer và Bộ Tư pháp Việt Nam (7/2010, tại TP
Hồ Chí Minh); Bài viết “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi
NTD” của PGS. TS. Nguyễn Như Phát đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
2/2010 v.v. Các bài viết nói trên chỉ dừng lại ở mức độ thông tin cho người đọc về
3
tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hoá để giải quyết nội dung
khoa học của đề tài. Đặc biệt, luận văn rất chú trọng phương pháp so sánh luật; kết
4
hợp giữa lý luận với thực tiễn, chứng minh, làm sáng tỏ luận điểm bằng các ví dụ
thực tế.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được viết trong thời điểm mà nhận thức của giới thương nhân về vai
trò, trách nhiệm trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD còn rất hạn chế, vi phạm
quyền lợi NTD xảy ra thường xuyên trong thực tế và không ngừng gia tăng cả về số
lượng, mức độ. Vì vậy, mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực trạng pháp luật về trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ
quyền lợi NTD; phân tích, đánh giá, chứng minh trách nhiệm của thương nhân khi
cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho NTD; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thực thi có
hiệu quả chế định trách nhiệm của thương nhân đối với NTD nói riêng và pháp luật BVNTD
nói chung.
Để thực hiện được những mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là:
- Làm rõ cơ sở xác định trách nhiệm của thương nhân đối với quyền lợi NTD;
- Phân tích vai trò của pháp luật về trách nhiệm của thương nhân đối với việc
bảo vệ quyền lợi NTD;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế
pháp lý BVNTD và bài học đối với Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về chế độ trách nhiệm
của thương nhân trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD;
- Từ những nghiên cứu, phân tích trên, đưa ra giải pháp nhằm thực thi có hiệu
quả chế định trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi NTD.
6. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo tương đối hệ thống về chế định trách nhiệm
Tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội, nhất là
trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay. Tiêu dùng gồm hai loại: tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng đời sống. Trong quá
trình sản xuất, con người cần phải tiêu dùng một số nguyên liệu nhất định và công cụ
sản xuất bị bào mòn. Đây chính là tiêu dùng sản xuất, loại này được tiến hành trong
lĩnh vực sản xuất, gồm có quá trình sản xuất và quá trình liên quan trực tiếp tới sản
xuất. Do vậy, người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh
doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật BVNTD. Tiêu dùng đời sống là
sự tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt bảo đảm cho con người tồn tại và phát triển.
Mác nói: “Trong quá trình ăn uống, một trong những hình thức tiêu dùng con người
sản xuất ra bản thân cơ thể của mình điều đó hoàn toàn đã rõ… nhưng điều đó cũng
có giá trị với mọi hình thức tiêu dùng khác, những hình thức tiêu dùng này về mặt
này hay mặt khác, mỗi hình thức một kiểu, đang góp phần vào việc sản xuất ra con
người” [36, tr.864]. Nghĩa là tư liệu tiêu dùng được sử dụng trong đời sống là cần
thiết để tái sản xuất và phát triển văn hóa của bản thân con người. Ngoài ra tiêu dùng
sản xuất không phải là mục đích cuối cùng của hoạt động kinh tế của loài người mà
chỉ là phương tiện làm cho tiêu dùng đời sống có thể liên tục phát triển. Với ý nghĩa
ấy, tiêu dùng sản xuất cần phải dựa vào tiêu dùng đời sống, phục vụ cho tiêu dùng
đời sống. Đương nhiên, không có sản xuất thì cũng không thể có tiêu dùng thực sự.
Nhưng không có tiêu dùng đời sống của loài người thì sản xuất cũng mất hết ý nghĩa
và trở thành sản xuất không có mục đích, biến thành sản xuất dự trữ lãng phí đặc
biệt. Chính vì thế, sản xuất cần có tiêu dùng đời sống, đó là một quá trình mâu thuẫn,
tiêu dùng đời sống là một mặt đối lập với sản xuất đồng thời lại là sợi dây liên kết
giữa sản xuất và tiêu dùng [55, tr.8]. Điều đó cũng cho thấy mối quan hệ biện chứng,
7
không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng và trong mối quan hệ ấy thương nhân và
NTD đã xuất hiện.
"thương nhân" trong các đạo luật về BVNTD còn được hiểu bao gồm cả các tổ chức cung ứng dịch vụ có tính
nghề nghiệp như bệnh viện, cơ sở đào tạo v.v.
8
là quy định mặc nhiên, NTD không có cơ hội thảo luận, thay đổi các điều khoản này
(ngoài các điều khoản về giá cả và số lượng).
- Yếu thế về khả năng chi phối giá cả, các điều kiện kinh doanh, giao dịch trên
thị trường. Trong nhiều trường hợp, một số thị trường bị chi phối bởi chỉ một vài
(thậm chí là một) thương nhân tiến hành kinh doanh trên thị trường đó. Thị trường về
xăng dầu, điện, nước, gas, điện thoại, điện thoại di động, hàng không, đường thủy,
đường sắt, ngân hàng, bảo hiểm v.v. là các ví dụ điển hình. Trong trường hợp này,
với mong muốn tối đa hoá lợi nhuận, nếu không có sự can thiệp hợp lý của Nhà
nước, các thương nhân có thể có các hành động gây thiệt hại cho quyền lợi của NTD
bằng việc áp đặt cho NTD phải chịu những nghĩa vụ không hợp lý.
- Yếu thế về khả năng chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm. Do tiềm lực
tài chính có hạn, khi xảy ra các rủi ro (tai nạn) phát sinh trong quá trình sử dụng hàng hoá,
dịch vụ, NTD sẽ rơi vào tình trạng rất khó khăn khi phải tự mình trang trải các chi phí
khắc phục các loại rủi ro này. Trong khi đó, nếu gánh nặng chi phí ngăn ngừa, gánh chịu
rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm (mà NTD không có lỗi) được chuyển sang cho
nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, thì khả năng trang trải các chi phí này sẽ cao
hơn.
Ngoài ra, trong quan hệ mua bán, giao dịch với các thương nhân, NTD còn có
thể gặp các bất lợi khác như không nắm bắt được các thông tin về giá cả của các loại
hàng hoá, dịch vụ tương tự, chất lượng dịch vụ hậu mãi, hiểu biết pháp luật thấp, không
nắm bắt được các thông tin về uy tín của chính thương nhân trên thị trường, v.v.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thì “NTD là người
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia
đình, tổ chức”. Như vậy, quan hệ giữa NTD và người bán, người cung cấp hàng hóa,
vào đó, số lượng có hạn người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (trong sự so
sánh với số lượng NTD) cũng như việc sử dụng các hợp đồng được soạn thảo sẵn và
nghệ thuật quảng cáo của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng làm hạn
chế thêm cơ hội lựa chọn và chi phối, tác động đến ý thức của NTD khi quyết định
trong đàm phán, ký kết hợp đồng. Cũng cần phải nói thêm rằng với khối tài sản, vốn
kinh doanh, bộ máy giúp việc, các phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh
doanh, giới thương nhân có nhiều lợi thế hơn hẳn NTD về phương diện nguồn lực tài
chính, kỹ thuật, nhân sự. Trong quan hệ pháp luật với thương nhân, NTD là đối
tượng được điều chỉnh của pháp luật về quyền công dân và bảo vệ quyền công dân.
Trong quan hệ mua bán, trao đổi, NTD có các quyền phát sinh trên cơ sở hợp đồng
ký kết giữa họ với người bán, người kinh doanh. Quyền phát sinh trên cơ sở hợp
10
đồng là quyền thứ phát, là cấp độ thể hiện thứ hai của quyền công dân và được tạo ra
trên cơ sở năng lực pháp luật và từ sự thể hiện năng lực hành vi của công dân. Ở đây,
quyền lợi của NTD trong quan hệ với người bán, người cung cấp dịch vụ được bảo
vệ theo các nguyên tắc của hợp đồng, luật Dân sự, luật Chất lượng sản phẩm, hàng
hóa… Và tranh chấp, thiệt hại phát sinh từ quan hệ đó được giải quyết theo các
nguyên tắc và thủ tục của pháp luật Tố tụng dân sự hoặc luật Trọng tài. Sự tồn tại
của Pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD bên cạnh pháp luật về quyền công dân và bảo vệ
quyền công dân như Hiến pháp, luật Dân sự, luật Tố tụng dân sự… chính là một trong
những hiện tượng cho thấy sự bảo vệ của Nhà nước đối với NTD trong quan hệ giữa họ
với người bán, người cung cấp dịch vụ.
1.1.2. Thói quen tiêu dùng và năng lực tự bảo vệ của NTD Việt Nam khi tham
gia vào các giao dịch tiêu dùng
Qua quá trình nghiên cứu có thể rút ra một số đặc điểm của NTD Việt Nam
hiện nay như sau:
Thứ nhất, tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế giúp cho mức sống
tẩy chay hàng tiêu dùng khi vi phạm đã bị phát hiện, không quan tâm thực hiện
những nghĩa vụ của NTD như trong quy định của Pháp lệnh BVNTD 1999. Điều này
cũng xuất phát một phần từ tư tưởng “cá nhân”, “cục bộ”.
Thứ năm, theo cơ chế hiện nay, khi có vi phạm, NTD phải có trách nhiệm
chứng minh, do vậy, NTD phải tự bỏ tiền để đi giám định, kiểm nghiệm. Điều này đã
dẫn đến tâm lý không muốn tốn thêm công sức, tiền bạc của mình nữa nên dễ cho
qua, không khiếu kiện nữa.
Thứ sáu, theo đánh giá chung, tâm lý của NTD Việt Nam là ngại va chạm, ngại
tham gia các thủ tục hành chính. Mặc dù thực trạng vi phạm xảy ra nhiều nhưng các cơ
quan quản lý nhà nước ít nhận được khiếu nại của NTD. Lý do cơ bản là tâm lý của
NTD từ trước đến nay bị chi phối bởi quan điểm là mình “được” mua hàng hóa; nhiều
trường hợp không dám khiếu kiện vì nghĩ là không thể thắng; thói quen của NTD
trong việc không giữ hóa đơn hoặc cố tình không lấy hoá đơn để có thể trốn thuế VAT
cũng làm cho việc khiếu nại của NTD khó khăn hơn bởi không có chứng cứ. Bên cạnh
đó, thực tế có nhiều khiếu nại không thể xử lý được; bản thân nhận thức của NTD
cũng còn yếu (theo đánh giá chủ quan của các cán bộ được khảo sát thì chỉ khoảng
60% NTD khi mua hàng thực phẩm có biết thông tin quan trọng nhất cần quan tâm là
hạn sử dụng).
12
1.1.3. Nhu cầu bảo vệ quyền lợi NTD
Sản xuất và tiêu dùng là hai mặt thiết yếu của bất cứ nền kinh tế và xã hội
nào. Muốn có tiêu dùng thì phải có sản xuất nhưng sản xuất là để tiêu dùng. Chính vì
thế, ngay từ thủa bình minh của lịch sử, NTD đã tồn tại. “NTD” với tư cách là một
khái niệm pháp lý, được coi là đối tượng quan tâm bảo vệ đặc biệt của pháp luật chỉ
mới xuất hiện vào khoảng những năm 1950-1960 của thế kỷ trước khi các đạo luật
BVNTD ra đời [64]. Điều này cho thấy, nhu cầu BVNTD bằng pháp luật chỉ mới
xuất hiện một cách cấp thiết vài chục năm trước ở các quốc gia công nghiệp phát
xuất giản đơn nữa.
Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế tri thức, sự tác động ngày càng sâu của
cuộc cách mạng công nghệ (cách mạng công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ
vật liệu mới, công nghệ sinh học v.v.), toàn cầu hoá và sự phát triển thương mại điện
tử đang càng làm cho quá trình chuyên môn hoá có những bước nhảy vọt hơn nữa về
chất, khoảng cách giữa nhà sản xuất và NTD ngày càng xa nhau, sự chênh lệch giữa
hiểu biết của nhà sản xuất về sản phẩm với kiến thức mà NTD biết về sản phẩm ngày
càng lớn, quy mô kinh tế giữa thương nhân với NTD càng có sự chênh lệch. Điều đó
càng làm cho nhà sản xuất với NTD có độ chênh lệch lớn về vị thế thực tế. Trong bối
cảnh ấy, nếu NTD không có các công cụ hỗ trợ, việc NTD bị nhà sản xuất, phân phối
lạm dụng là hoàn toàn có khả năng xảy ra. Nếu chỉ trông chờ vào khả năng tự bảo vệ
của mình, NTD sẽ khó có thể phòng ngừa và khắc phục được những rủi ro trong quá
trình tham gia giao dịch với nhà sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ cũng như
trong quá trình sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó. Điều này đã được thực tiễn của không
chỉ ở các quốc gia công nghiệp phát triển mà còn ở chính Việt Nam chứng minh.
Đó chính là lý do vì sao, sự hiện diện của Nhà nước, sự can thiệp của Nhà
nước bằng pháp luật là cần thiết để quan hệ giữa thương nhân với NTD trở nên lành
mạnh, công bằng hơn. Khi xã hội càng phát triển, lĩnh vực pháp luật BVNTD sẽ
càng cần thiết và càng cần được quan tâm.
Kinh tế thị trường càng phát triển thì vấn đề BVNTD càng trở nên bức thiết.
Sự can thiệp của Nhà nước sẽ góp phần đảm bảo sự vận hành lành mạnh của thị
trường hàng hoá, dịch vụ, đảm bảo công bằng xã hội [56]. Đây cũng là quan điểm
được các chuyên gia quốc tế thừa nhận. Từ kinh nghiệm BVNTD ở Canada, ông
Yvan Turcotte, Chủ tịch Văn phòng BVNTD bang Québec (Canada) cho rằng: Lý do
của sự can thiệp bằng pháp luật là nhằm đảm bảo cho nhà sản xuất, phân phối không
lợi dụng sự bất bình đẳng về vị thế của mình với NTD để có hành vi lạm dụng, hiện
thực hoá tính bình đẳng trong giao dịch đồng thời tái thiết niềm tin của NTD vào thị
14
bình đẳng của NTD trong quan hệ với nhà cung cấp để quan hệ dân sự có thể trở lại với
đúng nguyên tắc của nó.
15
Trên tinh thần đó, pháp luật BVNTD là loại pháp luật mang tính can thiệp vào
quyền tự do (do không nhận thức được quy luật) của các nhà cung cấp sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ và như thế, không có sự tự do và bình đẳng trong quan hệ pháp luật về
BVNTD.
Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật khác như luật Cạnh tranh, luật An
toàn thực phẩm, luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và rộng ra là cả pháp luật Dân sự,
Hình sự đều có thêm mục đích là BVNTD. Tuy nhiên, nếu như những lĩnh vực pháp
luật này BVNTD theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh
doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thông qua những hạn chế hoặc cấm đoán
hành vi thì pháp luật BVNTD (với tính cách là một chế định pháp luật độc lập) lại xuất
hiện ở phía NTD. Theo đó, pháp luật BVNTD sẽ tạo cho NTD những khả năng và cơ
hội thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh của pháp luật quan hệ mua bán (theo Luật Dân
sự) mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được.
Có thể định nghĩa khái quát, pháp luật BVNTD là tổng thể các quy phạm pháp
luật có mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NTD khi mua hoặc sử dụng hàng hoá,
dịch vụ. Theo quan niệm này, pháp luật BVNTD gồm quy phạm thuộc nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, miễn có chung mục đích bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NTD.
Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD liên quan đến hầu hết các lĩnh vực trong đời
sống - kinh tế xã hội. Do đó, một văn bản pháp luật không thể bao trùm hết tất cả các
lĩnh vực. Hay nói cách khác, để bảo vệ quyền lợi NTD phải sử dụng một hệ thống
quy phạm pháp luật điều chỉnh. Pháp luật BVNTD của hầu hết các nước trên thế giới
cũng cho thấy điều đó, ví dụ: tại Nhật Bản, ngoài Luật Bảo vệ quyền lợi NTD còn
gần 30 Luật chuyên ngành khác liên quan đến hoạt động BVNTD như: Luật hợp
quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá; Nghị định số
126/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo
lường, và chất lượng sản phẩm, hàng hoá (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
95/2007/NĐ-CP); Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thương mại, v.v.).
- Các quy định về một số tội liên quan đến NTD trong Bộ luật Hình sự năm
1999 (chẳng hạn: tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 156, Điều 157 và Điều
158; tội lừa dối khách hàng tại Điều 162; tội quảng cáo gian dối tại Điều 168; tội vi
phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Điều 244 v.v.).
- Các quy phạm pháp luật về BVNTD còn được quy định rải rác trong nhiều văn
bản pháp luật quan trọng khác trong đó phải kể đến Luật Dược năm 2005; Luật Tiêu
chuẩn năm 2006; Pháp lệnh Đo lường năm 1999; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
17
năm 2007; Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (có nội dung liên quan đến hoạt động
thương mại điện tử); Pháp lệnh Thú y năm 2004; Pháp lệnh Giá năm 2002; Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Luật sư năm 2006, v.v. và các văn bản hướng dẫn thi
hành.
Đứng trước thực tế quyền và lợi ích hợp pháp của NTD bị xâm phạm một
cách nghiêm trọng, trước đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế thị trường, ngày
17/11/2010 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật
Bảo vệ quyền lợi NTD. Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2011. Luật Bảo vệ
quyền lợi NTD sẽ là một đạo luật quan trọng có giá trị pháp lý cao trong hệ thống
pháp luật BVNTD. Nó sẽ là văn bản xương sống quy định trực tiếp các vấn đề quan
trọng để NTD dựa vào đó có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình. Luật này được xây
dựng xuất phát từ quan điểm coi NTD là trung tâm, có vị trí yếu thế trong quan hệ
với thương nhân. Bên cạnh Luật Bảo vệ quyền lợi NTD còn có rất nhiều văn bản liên
quan đến việc BVNTD. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD không quy định
trong việc lựa chọn sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, quyền được thông tin trung thực về
chất lượng, giá cả, được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng. Đồng thời
pháp luật cũng nghiêm cấm các chủ thể sản xuất kinh doanh có những hành vi gian
lận, sản xuất hàng giả, hàng nhái, những sản phẩm có thể gây nguy hại trực tiếp đến
tính mạng, sức khỏe con người, các hành vi lừa dối NTD, có những thông tin, quảng
cáo thiếu chính xác, sai sự thật về hàng hóa, dịch vụ gây phương hại đến lợi ích NTD
và lợi ích xã hội. Tuy nhiên, pháp luật cũng yêu cầu bản thân NTD phải có trách
nhiệm tự bảo vệ lợi ích chính đáng của mình khi mua bán, sử dụng các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. NTD cần đề cao trách nhiệm trong việc phát hiện,
tố cáo các hành vi gian lận về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa,
giá cả và những hành vi lừa dối khác của các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ đã và có thể gây phương hại cho bản thân mình và cộng đồng.
BVNTD là vấn đề bức thiết, vì thế ngay trong Hiến pháp 1992 đã nêu rõ, Nhà
nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của NTD. Điều 623 Bộ luật Dân sự quy định về
bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi NTD. Pháp lệnh BVNTD 1999 và mới đây
là Luật Bảo vệ quyền lợi NTD là những công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ
quyền lợi NTD, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước trong thời đại mới. Các văn bản pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nhằm tạo
ra một hành lang pháp lý cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD;
bảo vệ sự ổn định và cải thiện đời sống nhân dân bằng cách định ra trách nhiệm của
Nhà nước, của chính quyền địa phương và của thương nhân; định ra các biện pháp
đồng bộ để bảo vệ và đề cao quyền lợi của NTD. Việc thực hiện pháp luật BVNTD
19
còn góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát
triển kinh tế.
Pháp luật BVNTD có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NTD; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của