BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THANH NHÀN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÍ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
– MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Quốc Hồng
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.1.
1.2.
1.3.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC
TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật xử lí VPHC trong
lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
2.2. Thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam
hiện nay - những vướng mắc, bất cập
6
6
6
8
16
19
19
21
22
22
24
25
25
27
30
33
33
33
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB bảo
đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải
phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, văn hoá của nước ta
3.1.5. Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải đáp
ứng được yêu cầu của công tác phòng, chống VPHC trong lĩnh vực GTĐB
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực
GTĐB ở Việt Nam
3.2.1. Thể chế hóa kịp thời các yêu cầu của thực tiễn về xử lí VPHC
trong lĩnh vực GTĐB
3.2.2. Cần quy định việc kiểm soát các cơ quan, người có thẩm quyền
xử lí VPHC nói chung, xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng
3.2.3. Kết hợp các biện pháp xử phạt nghiêm minh với tuyên truyền,
giáo dục sâu sắc
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở
nước ta
65
65
65
66
66
67
68
68
68
69
70
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTĐB
Giao thông đường bộ
VPHC
Vi phạm hành chính
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông nói chung, trong
đó có GTĐB giữ vai trò hết sức quan trọng. Trong quá trình áp dụng pháp luật
để xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, các cơ quan chức năng đã đạt được
nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở
Việt Nam hiện nay diễn ra khá phổ biến. Số vụ tai nạn GTĐB gia tăng có thể
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ các hành vi
VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Với sự phát triển nhanh, mạnh của nền kinh tế
nước nhà thì tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta cũng đang diễn
biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con
người và xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước. Vì vậy, tăng cường công
Về mặt thực tiễn cho thấy việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật
xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đã có nhiều tác động tính cực như: bảo đảm
trật tự an toàn giao thông, bảo vệ tính mạng, tài sản, sức khỏe của người dân.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật cũng cho thấy
những bất cập của chúng so với đòi hỏi của cuộc sống, ý thức pháp luật của
người dân còn thấp… Vì vậy, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
chưa thật sự phát huy được vai trò là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời
những VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
Từ những lí do trên, nghiên cứu đề tài “Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh
vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lí luận, thực tiễn và phương
hướng hoàn thiện” là hết sức cần thiết và cấp bách. Việc nghiên cứu tập trung
vào cơ sở lí luận và thực tiễn về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB,
đánh giá những thành tựu, phân tích những bất cập và các nguyên nhân, trên
cơ sở đó kiến nghị phương hướng và các giải pháp xây dựng và hoàn thiện
pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đáp ứng các yêu cầu trong tình
hình hiện nay ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn VPHC và xử lí VPHC đã và
đang được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học. Các tác giả
đều xem xét vấn đề dưới các góc độ riêng của mình. Điển hình là các công
trình nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện các quy định pháp luật về hình
thức XPVPHC” của tác giả Nguyễn Trọng Bình (năm 2000). Trong luận văn
này, tác giả nêu các hình thức xử phạt VPHC được đề cập trong các văn bản
pháp luật; những ưu điểm và hạn chế của chúng khi áp dụng trong thực tiễn
và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
3
Luận văn thạc sỹ luật học “Thẩm quyền xử lí VPHC” của tác giả
văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lí luận cơ bản và những
nét khái quát, có tính điển hình về thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh
4
vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về lĩnh vực này.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách, pháp luật của
Đảng, Nhà nước.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê…
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tìm hiểu các quan
điểm, quy định của pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; khái quát
hoá, rút ra những đặc trưng về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
Từ đó, luận văn nêu các kết luận và kiến nghị phù hợp nhằm góp phần hoàn
thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để liệt kê hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB để có những đánh giá và
kết luận thích hợp về thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Dự trên cơ sở lí luận khoa học và thực tiễn, luận văn nhằm mục đích xác
định phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong
lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận cơ bản về pháp luật xử lí VPHC
trong lĩnh vực GTĐB như: khái niệm pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực
GTĐB; đặc điểm của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; vai trò của
pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; các tiêu chí đánh giá sự hoàn
6
Chương 1
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
1.1.1. Khái niệm GTĐB
Có thể nói rằng giao thông xuất hiện cùng với xã hội loài người, bởi lẽ
việc đi lại, di chuyển từ nơi này đến nơi khác là loại hoạt động cơ bản nhằm
thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của con người. Theo tiến trình phát triển
của xã hội, giao thông ngày càng văn minh, hiện đại hơn (và cũng phức tạp
hơn) đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, càng phong phú, đa dạng của xã hội.
Giao thông là phạm trù rộng lớn, trong đó bao hàm cả các điều kiện, cơ sở vật
chất-kĩ thuật và các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại của người
dân. Xét về mặt xã hội, có thể quan niệm giao thông là tổng thể các quan hệ
xã hội (quan hệ giữa người với người) hình thành trên các lĩnh vực khác nhau
của giao thông như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, hàng hải, đường
thủy nội địa…
Trong lịch sử phát triển giao thông, GTĐB là lĩnh vực có truyền thống
lâu đời nhất. Đây được coi là lĩnh vực giao thông ra đời sớm nhất, nó gắn liền
với đời sống con người trải qua các giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay và sẽ
ngày càng phát triển. GTĐB là toàn bộ hệ thống các cơ sở, điều kiện vật chấtkĩ thuật cũng như các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại bằng
đường bộ (đường đi trên đất liền, dùng cho người đi bộ và cho xe cộ - nói
khái quát” [44, tr. 357] của người dân. Về mặt vật chất-kĩ thuật, “đường bộ”
là hệ thống giao thông gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà
đường bộ… được triển khai trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia (vùng đất
liền). Đường bộ là hệ thống giao thông thống nhất giữa các vùng, miền, các
tỉnh, thành phố (liên tỉnh) và trong nội bộ khu vực hành chính, dân cư (liên
huyện, quận, xã, phường, thôn, xóm…). Đường bộ có ba loại đường là đường
gia giao thông (người đi bộ, người điều khiển phương tiện giao thông, người
điều khiển dẫn dắt súc vật), người điều khiển giao thông (cảnh sát giao thông;
người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc
giao thông, ở bến phà, tại cầu đường bộ đi chung với đường sắt), hành khách
(người được chở trên phương tiện vận tải hành khách đường bộ, có trả tiền):
các yếu tố vật chất-kĩ thuật như các phương tiện tham gia giao thông (phương
tiện giao thông, xe máy chuyên dùng); hàng hoá, hành lí… Đó còn là các cơ
quan có thẩm quyền quản lí GTĐB như cơ quan thực hiện chức năng quản lí
nhà nước chuyên ngành thuộc Bộ giao thông vận tải; cơ quan chuyên môn
8
thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn. Trong các hoạt động kinh tế-xã hội liên quan đến GTĐB thì vận tải
đường bộ (sử dụng phương tiện giao thông để vận chuyển người, hàng hoá) là
hoạt động quan trọng nhất, nó đóng vai trò ngày càng quan trọng, phục vụ đắc
lực cho tiến trình phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân.
Từ góc độ xã hội có thể thấy GTĐB bao gồm tổng thể các quan hệ xã hội
liên quan đến việc thực hiện các hoạt động giao thông trên đường bộ. Đó là
các quan hệ xã hội phát sinh trong những quá trình và hoạt động sau:
- Xác định và thực hiện các quy tắc giao thông;
- Đảm bảo kết cấu hạ tầng giao thông;
- Sự tham gia giao thông của người và phương tiện;
- Hoạt động vận tải đường bộ;
- Hoạt động quản lí nhà nước về GTĐB.
1.1.2. Khái niệm VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
1.1.2.1. Khái niệm VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Theo quan niệm hiện nay của các nhà luật học thì VPHC nói chung là
hành vi vi phạm các quy định của pháp luật quản lí nhà nước do cá nhân, tổ
những quy định của pháp luật GTĐB. VPHC trong lĩnh vực GTĐB gồm 6
nhóm vi phạm sau [28]:
+ Nhóm thứ nhất - Các vi phạm quy tắc GTĐB: Các quy tắc GTĐB bao
gồm tổng thể các quy tắc chung và các quy tắc về hệ thống báo hiệu đường
bộ, chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ; tốc độ xe và khoảng cách giữa các
xe; sử dụng làn đường; vượt xe; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược
chiều; dừng, đỗ xe trên đường bộ; dừng, đỗ xe trên đường phố; xếp hàng hoá
trên phương tiện GTĐB; quyền ưu tiên của một số loại xe; qua phà, qua cầu
phao; nhường đường tại nơi đường giao nhau; đi trên đoạn đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt, cầu đường bộ đi chung với đường sắt; giao
thông trên đường cao tốc, trong hầm đường bộ; tải trọng và khổ giới hạn của
đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc; người điều khiển, người ngồi trên xe
mô tô, xe gắn máy; người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, người điều
khiển xe thô sơ khác; người đi bộ; người khuyết tật, người già yếu tham gia
giao thông; người dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động văn hoá,
thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ; một số hành vi bị cấm như họp chợ,
tụ tập đông người trái phép, thả rông súc vật...; sử dụng đường phố và các
hoạt động khác trên đường phố...[12, Chương II]
+ Nhóm thứ hai - Các vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB: Quy
định về kết cấu hạ tầng GTĐB gồm các quy định về phân loại đường bộ; đặt
tên, số hiệu đường bộ; tiêu chuẩn kĩ thuật đường bộ; quỹ đất dành cho kết cấu
10
hạ tầng giao thông đường bộ; phạm vi đất dành cho đường bộ; bảo đảm yêu
cầu kĩ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ; công trình báo
hiệu đường bộ; đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường
bộ; thi công công trình trên đường bộ đang khai thác; quản lí, bảo trì đường
bộ; xây dựng đoạn đường giao nhau cùng mức giữa đường bộ với đường sắt;
bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí
+ Nhóm thứ sáu - Các vi phạm khác liên quan đến GTĐB: Những VPHC
này trái với các quy định của pháp luật có liên quan đến GTĐB hoặc xâm
phạm các điều cấm của pháp luật GTĐB. Đó là các hành vi như sản xuất, lắp
ráp trái phép phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; sản xuất, bán biển số
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trái phép; chủ phương tiện vi phạm
quy định liên quan đến GTĐB; nhân viên phục vụ trên xe buýt, xe vận chuyển
hành khách theo tuyến cố định, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng, xe
vận chuyển khách du lịch vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông;
hành khách đi xe vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông; người điều
khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả
xe ô tô chở hành khách); đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép; cản trở việc
thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ
người thi hành công vụ; điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
gắn biển số nước ngoài; điều khiển phương tiện đăng kí hoạt động trong khu
kinh tế thương mại đặc biệt; vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe; vi
phạm quy định về hoạt động kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường
xe cơ giới [28, Điều 32 - 42].
1.1.2.2. Khái niệm xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cộng
đồng, hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa các vi phạm pháp luật được
xác định thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Một trong những nhiệm vụ có ý
nghĩa quan trọng của Nhà nước là xử lí vi phạm pháp luật theo nguyên tắc
mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh.
Như chúng ta đều biết: xử lí vi phạm pháp luật là hoạt động áp dụng
pháp luật của Nhà nước, trong đó cơ quan, người có thẩm quyền xem xét vụ
việc vi phạm và các quy định có liên quan của pháp luật, đưa ra quyết định về
trách nhiệm pháp lí và chế tài nhằm giải quyết vụ việc vi phạm pháp luật.
Khác với hoạt động xử lí vi phạm pháp luật ở lĩnh vực tư pháp (xử lí tội phạm),
xử lí VPHC là hoạt động thuộc phạm trù quản lí nhà nước, được tiến hành chủ
yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan
quyết định. Theo phương án này, các tuyến trên đường vành đai 2 (thuộc các
quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh, Phú
Nhuận và một phần quận 2, 7, 12, Bình Tân, Thủ Đức) và toàn bộ các tuyến
đường bên trong vành đai, bao bọc bởi QL 1A (bắt đầu từ nút giao thông Thủ
Đức) - Nguyễn Văn Linh - đường dẫn vào cầu Phú Mỹ - cầu Phú Mỹ - vành đai
Đông - Nguyễn Thị Định - xa lộ Hà Nội - nút giao thông Thủ Đức sẽ được áp
dụng mức phạt theo khu vực nội thành. Đây được xem là lựa chọn tốt nhất để
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra xử phạt của lực lượng cảnh sát
giao thông. Cách phân ranh này cũng có sự kế thừa giới hạn khu vực nội đô để
hạn chế xe tải trước đây theo Quyết định 121/2007/QĐ-UBND được Uỷ ban
nhân dân TP.Hồ Chí Minh ban hành, quy định về việc hạn chế và cấp phép cho
xe ô tô vận tải lưu thông và mở rộng thêm một phần về phía bờ đông sông Sài
Gòn. Một ưu điểm nữa của phương án 3 là: phạm vi xử phạt nhỏ hơn so với hai
phương án kia vì thế thuận lợi hơn cho công tác tuần tra, xử phạt của lực lượng
chức năng trong giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, hạn chế của nó là phạm vi xử
phạt không bao gồm một số khu vực tương đối phức tạp như một số nơi thuộc
các quận 2, 7, Bình Tân, Thủ Đức và toàn bộ quận 9. Ngoài ra cũng bỏ sót một
số khu vực thuộc ranh địa lí hành chính của tỉnh Bình Dương, như phần Quốc lộ
1A đoạn từ Trường Đại học Nông lâm đến cầu vượt Sóng Thần [47].
Hoặc việc xác định nội hay ngoại thành đối với Hà Nội, địa phương có tới
29 quận, huyện thì đó là điều không hề đơn giản. Đến nay, tại các cửa ngõ dẫn
vào trung tâm Hà Nội không thấy có tấm biển nào được dựng lên để xác định
ranh giới nội, ngoại thành, trong khi đặc thù của các tuyến đường cửa ngõ là
kéo dài và đi qua địa phận nhiều quận, huyện. Đơn cử như cao tốc Thăng Long
- Nội Bài nối với đường Phạm Văn Đồng đi qua các huyện Mê Linh, Đông
Anh, Từ Liêm và quận Cầu Giấy. Khi mức phạt mới được áp dụng thì lực lượng
chức năng xử phạt vi phạm giao thông sẽ lí giải như thế nào với người dân nếu
họ bị áp mức xử phạt cao hơn khi vi phạm trên tuyến đường này? Một cán bộ
20.000 đồng. Tuy nhiên, ở khu vực nội thành đô thị đặc biệt, người đã thành
niên bị phạt gấp 2, nghĩa là 80.000 đồng, người chưa thành niên ở đây sẽ được
xác định theo mức nào? mức 20.000 đồng hay ½ của mức 80.000 đồng? Quy
định này sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất.
65
Chương 3
YÊU CẦU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM
3.1. YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG
LĨNH VỰC GTĐB
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
phải quán triệt quan điểm của Đảng về cải cách pháp luật trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì
vậy, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng cần được Nhà nước thể
chế hoá trong hệ thống pháp luật. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005
của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 có nêu rõ định hướng
“xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế
trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân”. Để bảo đảm định hướng
này, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước ta là phải “xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ
của công dân”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng
khẳng định cần phải “đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ
máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động” [3, tr. 253]. Những chủ
trương, chính sách quan trọng này của Đảng về pháp luật đòi hỏi phải được
năng quyền con người không được quy định đầy đủ, dẫn đến sự thiếu cơ sở
pháp lí để xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB, tiềm ẩn khả năng vi phạm
quyền công dân. Thực tế đó đòi hỏi phải xây dựng luật trong lĩnh vực này.
Vì vậy, chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hòi hoàn thiện
pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng phải nhằm bảo vệ quyền
con người như chúng ta đã cam kết và thừa nhận trong Hiến pháp. Nó cũng là
việc tôn trọng những điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã kí
kết và tham gia như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948;
Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966; Công ước quốc tế
về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966.
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB bảo
đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế
Ngày nay, Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng và đã là
thành viên của cộng đồng quốc tế, nhất là kể từ khi nước ta gia nhập WTO.
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng các chuẩn
67
mực quốc tế mà các hiệp định của WTO và các hiệp định song phương khác
Việt Nam đã kí kết và tham gia. Pháp luật về xử lí VPHC nói chung, xử lí
VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng cũng không phải là ngoại lệ. Trong
lĩnh vực xử lí VPHC, các cam kết theo các Hiệp định của WTO và Hiệp định
Thương mại Việt - Mỹ yêu cầu quy trình xử phạt VPHC phải minh bạch, công
bằng, có thể đoán trước và không mang tính lạm dụng. Tức là pháp luật về xử
phạt VPHC phải rõ ràng, công khai để mọi người dân được biết và nó được
áp dụng cho mọi chủ thể vi phạm, không biệt địa vi xã hội, dân tộc, tôn
giáo…; người dân có thể nhận biết được việc áp dụng dựa trên các chuẩn mực
của pháp luật nói chung. Nó không phải là những quy định có thể áp dụng tùy
tiện mang lại ưu thế, thuận lợi cho các cơ quan nhà nước mà đẩy phần khó
khăn cho dân, không phải dựa vào ưu thế nhà nước có quyền ban hành văn
đường sá tăng không đáng kể...
Thói quen, tập quán lạc hậu còn tồn tại nhiều, như: thói quen đi lại tự do,
tùy tiện khá phổ biến; thói quen buôn bán nhỏ, bám mặt đường, chiếm dụng
lòng đường vỉa hè còn nhiều.
Sự tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian qua đã kéo theo sự bùng nổ
phương tiện cơ giới đường bộ; không phân làn lưu thông cho từng loại
phương tiện, giao thông hỗn hợp gây ra nhiều tai nạn giao thông" [2, tr. 25].
Vì vậy, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải tính đến đầy đủ các
đặc điểm kinh tế- xã hội và văn hoá của đất nước để có những quy định phù
hợp. Pháp luật không nên lạc hậu hay đi trước qua xa so với sự phát triển kinh
tế- xã hội của quốc gia và ý thức, văn hoá pháp luật của người dân. Nếu
không, nó sẽ không được áp dụng hiệu quả trên thực tế.
3.1.5. Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải
đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng, chống VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có mục đích ngăn chặn, phòng ngừa
VPHC, giáo dục nhằm bảo đảm giao thông an toàn, thông suốt. Vì vậy, pháp
luật xử lí VPHC trong lĩnh vực này phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của công
tác phòng, chống VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Pháp luật xử lí VPHC trong
lĩnh vực GTĐB không thể để sót hành vi vi phạm, tạo ra những “lỗ hổng” cho
người vi phạm có thể “lách luật”, “nhờn luật”. Nó phải là những quy định
tường minh, không rắc rối để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào
đó mà áp dụng một cách đúng đắn, hạn chế trùng dẫm chức năng, nhiệm vụ
giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt VPHC khác nhau. Đó phải
là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lí lĩnh vực GTĐB bằng pháp luật.
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC
TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM
3.2.1. Thể chế hoá kịp thời các yêu cầu của thực tiễn về xử lí VPHC
69
cơ chế để buộc các cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật, đặc biệt là pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực
GTĐB khi VPHC trong lĩnh vực này diễn ra tương đối phổ biến như hiện nay.
70
3.2.3. Kết hợp các biện pháp xử phạt nghiêm minh và tuyên truyền,
giáo dục
Ở nước ta, VPHC trong lĩnh vực GTĐB diễn ra khá phổ biến. Vì vậy,
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải quan tâm tới việc xử phạt nghiêm
minh đối với các vi phạm này mới có tác dụng giáo dục, thuyết phục, răn đe
để tạo ý thức tôn trọng pháp luật của người dân. Việc xử phạt nghiêm thể hiện
ở việc không bỏ lọt hành vi vi phạm, mọi hành vi vi phạm pháp luật GTĐB
đều phải chịu chế tài nhất định, không phân biệt người vi phạm có địa vị, tầng
lớp, tôn giáo, dân tộc khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh
vực GTĐB không nhằm mục đích trừng trị mà nhằm giáo dục người vi phạm
và mọi người dân có ý thức chấp hành pháp luật, bảo đảm GTĐB trật tự, an
toàn, thông suốt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và
Nhà nước. Pháp luật nói chung, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
nói riêng phải được xây dựng trên cơ sở của sự tôn trọng và tự giác thực hiện
của người dân chứ không phải dựa trên tâm trạng sợ hãi các hình thức xử phạt
vi phạm. Không phải cứ tăng mức phạt tiền thật cao thì VPHC sẽ giảm mà có
khi ngược lại: gia tăng VPHC và nạn tham nhũng. Điều quan trọng là pháp
luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải tác động đúng đắn đến những yếu
tố liên quan đến hành vi của con người.
3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG
LĨNH VỰC GTĐB Ở NƯỚC TA
3.3.1. Xác định rõ các khái niệm có liên quan
Cần quy định rõ khái niệm VPHC, xử phạt VPHC, xử lí VPHC trong
Luật xử lí VPHC. Điều đó giúp Luật xử lí VPHC dễ hiểu hơn. Đối với Luật