TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TÔ THỊ LIỄU
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
THƠ LÝ BẠCH
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, 2011
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nói đến văn hóa nhân loại thì không thể bỏ qua nền văn hóa Trung Quốc vì
được coi là “cái nôi của văn minh phương Đông” và là nơi chứa đựng những gì tinh
túy nhất. Trong đó văn học đóng một vai trò hết sức to lớn trong nền văn hóa Trung
Hoa. Niềm tự hào của văn học Trung Quốc cho đến nay vẫn là thơ Đường. Giai đoạn
(618-907) đây là thời kì cực thịnh của văn học với những thành tựu thơ ca tạo nên thời
đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ ca trong xã hội phong kiến.
Giai đoạn xã hội này gắn với tên tuổi của một số nhà thơ lớn: Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị, Vương Xương Linh đặc biệt là “ Thi tiên” Lý Bạch, một ngôi sao sáng trên bầu trời
thi ca đời Đường. Ông đã để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ với thành công về nội dung
Đặc sắc nhất của thơ Đường là nội dung vô cùng phong phú, phản ánh rộng rãi
các mặt hoạt động của đời sống xã hội, điều này có vẻ tiến bộ hơn thơ ca của Lục
triều, nó phần lớn chỉ viết về đối tượng vua chúa, quan lại, kể lại những cuộc ăn chơi
xa xỉ của giai cấp trên. Chỉ có một vài cá nhân như: Tả Tư, Đào Tiềm, Bảo Chiếu, là
người đã miêu tả khá chân thực những hiện thực đen tối của xã hội, đó là do họ xuất
thân từ tầng lớp nghèo khổ nên thơ họ cũng là tiếng nói chung cho những số phận,
những tầng lớp dưới. Đến đời Đường, ngoài một số ít nhà thơ con nhà thế tộc, phần
đông các nhà thơ là con cái của những người bị áp bức, cho nên lực lượng sáng tác
cũng vô cùng phong phú, tác phẩm cũng đề cập được nhiều vấn đề trong cuộc sống.
Nhưng cho dù ở thời kì nào, tầng lớp nào các nhà thơ đều lấy nguồn cảm hứng sáng
tác từ hiện thực xã hội. Bên cạnh những chủ đề về thiên nhiên như sông, núi, tuyết,
trăng, hoa …, thì những đề tài về cuộc đời, con người là một mảng không thể bỏ qua.
Thi nhân viết nhiều về con người thời đại, họ luôn có xu hướng đi, phát hiện và ca
ngợi cái đẹp của con người đó là giá trị nhân văn của thơ Đường, điều đó giúp ta hiểu
được tại sao phụ nữ trở thành một trong những nguồn cảm hứng sáng tác chính của thi
nhân đời Đường bởi họ chính là biểu tượng, là hiện thân của cái đẹp, của những gì tinh
túy nhất. Đối với thi nhân không chỉ đơn giản là họ có niềm rung cảm sâu sắc đới với
phụ nữ mà đa số họ muốn mượn hình ảnh người phụ nữ để nói lên tâm sự của chính
bản thân mình, bởi họ còn bị ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, ít coi trọng phụ nữ,
họ thiên về những cái riêng của bản thân hoặc viết về những đề tài có ý nghĩa to lớn,
có tính triết lý cao thể hiện chí khí, tài năng và hoài bảo của bản thân.
Đã có rất nhiều nhà thơ viết về đề tài người phụ nữ như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
Đỗ Mục…, người nào cũng khai thác gần như triệt để và thể hiện một cách khá toàn
diện các khía cạnh về đề tài này. Trong đó đáng chú ý hơn hết là phải nhắc đến “Thi
tiên” Lý Bạch, ông đã rất thành công với những trang thơ viết về người phụ nữ. Ông là
người có tư tưởng tự do, không chịu gò bó, thích cái đẹp, yêu đất nước, nguyện cống
hiến sức mình để giúp nước. Ông có tình yêu thương vô hạn với những người lao
Trang 3
Trang 4
Vấn đề người phụ nữ được miêu tả trong thơ Lý Bạch vừa mang yếu tố lãng mạn có cả
chất hiện thực, và chưa được các nhà nghiên cứu trình bày rõ.
Tóm lại, đề tài “ Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch” vẫn còn nhiều
chỗ chưa khai thác hết và người viết bước đầu sẽ đề cặp đến. Thơ Lý Bạch đã phần
nào phản ánh được lịch sử Trung Quốc gắn liền với số phận người phụ nữ. Nghiên cứu
về hình tượng người phụ nữ trong thơ Lý Bạch là một hướng mới, nhưng cũng có
những tài liệu trích dẫn một vài bài thơ của Lý Bạch viết về người phụ nữ, đó cũng là
nguồn tài liệu chính.
3. Mục đích nghiên cứu
Có thể nói cả cuộc đời Lý Bạch cống hiến cho cuộc sống, cho sự nghiệp sáng
tác, cho sự phát triển của văn học Trung Quốc nói riêng và văn chương nhân loại nói
chung. Ông đã để lại những bài thơ có thể nói là xuyên thế hệ làm xao động lòng
người. Những sáng tác của ông một phần mang yếu tố lãng mạn nhưng đó cũng là hiện
thực mà Lý Bạch muốn phản ánh. Tìm hiểu đề tài để làm rõ hình tượng người phụ nữ
thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, với những nét đáng quí, những nỗi đau riêng và cũng
giúp ta hiểu thêm về Lý Bạch, về cuộc đời cũng như sáng tác của ông. Đề tài này cũng
là minh chứng cho tài năng thơ ca của Lý Bạch thể hiện qua cách xây dựng hình tượng
người phụ nữ và có cái nhìn toàn diện hơn về người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc
đời Đường.
Và một mục đích khác nữa khi người thực hiện đề tài này là muốn hoàn thiện
hơn vốn kiến thức về văn học cũng như về lịch sử Trung Quốc, để phục vụ cho việc
học trong thực tại và tương lai sau này.
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đây là giai đoạn văn học phát triển cao nhất trong lịch sử Trung Quốc. Các tác
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái niệm “ Hình tượng nghệ thuật”
Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có hệ thống hình tượng nghệ thuật riêng. Thông
qua hệ thống hình tượng, người đọc dễ dàng nhận ra phong cách tác giả, nhận ra sự
khác biệt giữa tác giả với tác giả, tác giả với thời đại.
Về vấn đề hình tượng nghệ thuật, có những ý kiến khác nhau. Theo GS Hoàng
Ngọc Hiến: “Nghệ thuật nhận thức sự vật bằng hình tượng cụ thể- cảm giác, chúng
không có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật, chúng tiếp cận tính cách của sự
vật”.
Theo TS Đỗ Văn Khang: “Hình tượng nghệ thuật rất phong phú, khi thì ước lệ,
khi thì tả thực, khi thì huyền ảo chứ không thể lúc nào cũng cụ thể- cảm giác, nghệ
thuật phải có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật”.
Có những ý kiến tiếp theo tranh luận về vấn đề hình tượng nghệ thuật, đa số họ
đồng tình với cách nói của GS Hoàng Ngọc Hiến. Bởi nó mang tính cấp tiến hơn, và
đây cũng là quan niệm về hình tượng nghệ thuật mà các tác giả hiện đại đang vận dụng
và đã được các nhà lý luận nổi tiếng giải thích. Nó khác quan niệm cũ xem hình tượng
nghệ thuật là bức tranh vừa khái quát- cụ thể, vừa lý tính- cảm tính … Quan niệm
đương đại hình tượng nghệ thuật thiên về cái cảm giác, cụ thể, khước từ lý tính, trừu
tượng, tuy nó được thể hiện bằng nhiều hình thức tổng hợp thẩm mĩ từ cụ thể- lịch sử,
tượng trưng- ước lệ, đến huyền ảo- vô thức, sắc thái có khác nhưng đều có tính chất
chung là trực tiếp, cụ thể, đánh mạnh vào cảm giác, vào nhận thức trực tiếp cảm tính,
coi trọng sự biểu hiện ấn tượng, cảm xúc, hơn là sự tái hiện thực tại.
Còn ý kiến của Đỗ Văn Khang cũng từng được chấp nhận một thời, có lúc
người ta cho rằng: Hình tượng nghệ thuật là cái phương tiện mà khi phản ánh thế giới
người nghệ sĩ hư cấu nên, ở nó có sự thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ
quan, giữa cái chung và cái riêng, giữa cảm tính và lý tính. Tuy nhiên các định nghĩa
trên đã có nhiều thay đổi theo thời gian, các yếu tố lý tính, khái quát giảm dần, nhường
cho các yếu tố trực giác, cảm tính và cái nhiệm vụ “phản ánh thế giới” cũng chẳng còn
Trang 7
sáng tạo hay người thưởng thức, tuy nhiên ở đây nó cũng không gắn liền với quá trình
tâm lí của tác giả như trong quá trình sáng tạo gọi là “tinh thần” bởi tinh thần là một
cấp phản ánh đặc biệt của ý thức con người.
Trang 8
Nếu cảm giác, tri giác, khái niệm, phán đoán là những hình thức nhận thức phản
ánh từng mặt của khách thể thì cái tinh thần là một hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan.
Tóm lại: Hình tượng nghệ thuật là khách thể tinh thần, mọi phương tiện biểu
hiện chỉ có ý nghĩa khi nào làm sống lại các khách thể đó và người đọc tác phẩm chỉ
khi nào thâm nhập được vào thế giới tinh thần đó mới nảy sinh được sự thưởng thức
đồng cảm. Nó là sự đặc trưng hóa một cách hoàn chỉnh và trọn vẹn những hiện tượng
cuộc sống và nó miêu tả dưới hiện thực cảm tính cụ thể, cá biệt, có ý nghĩa thẩm mỹ
và khái quát hóa, được nhà văn thể hiện bằng ngòi bút của mình.
1.2. Khái quát về thơ Đường
1.2.1 Những đặc điểm cơ bản
“Thơ Đường chính là hoa thơm trái ngọt trong cái cây thi ca Trung Hoa kể từ
sau Kinh Thi” [20; tr.15]. Có thể nói thơ Đường là một hiện tượng thơ ca đặc biệt ảnh
hưởng lớn đến đời sống văn hóa, xã hội Trung Quốc từ xưa đến nay. Mặc dù thể thơ
này chỉ tồn tại trong khoảng thời gian (618-903 sau CN) nhưng số lượng thì vô cùng
đồ sộ với khoảng 2300 bài thơ và xuất hiện một số nhà thơ tài ba như Đỗ Phủ, Bạch
Cư Dị, Lý Bạch… Về đề tài thì rất phong phú, bao gồm tất cả các mặt trong xã hội đời
Đường.
Thơ Đường được kết tinh, chắc lọc những gì hay nhất, đẹp nhất, tinh túy, ý vị
nhất vì thế hầu như thi nhân mọi thời đại đều đánh giá cao thơ Đường, chỉ trong một
thời gian mà thơ Đường đã đạt được những thành tựu đáng kể. Khi nói đến thơ Đường
là nói đến đỉnh cao của thi ca Trung Hoa và là “thời đại hoàng kim của thơ ca phương
Đông” [20; tr.15]. Sự phát triển của thơ ca Đường có thể chia làm bốn giai đoạn theo
- Trung Đường (766- 835)
Lúc này thơ ca không còn phát triển như trước bởi những biến cố lịch sử. Xã
hội trải qua loạn (An- Sử), những mất mác, sự hoảng loạn trong tinh thần vẫn là vết
thương âm ỉ trong lòng mỗi người. Tuy nhiên cũng có một số tác giả và tác phẩm xuất
sắc như Bạch Cư Dị với “Trường hận ca” và “Tỳ bà hành”. Ngoài ra còn phải nhắc
đến Hạn Dũ và Liễu Tông Nguyên.
- Vãn Đường (835-907)
Đây có thể coi là buổi chiều tà của thơ Đường. Càng về sau xã hội càng trở nên
suy thoái. Nhiều nhà thơ vẫn mang nỗi buồn thời thế. Thế nhưng vẫn có một số tài
năng thơ ca xuất hiện như Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Lý Hạ …, cũng
tạo nên nét mới lạ, đặc sắc riêng cho thời kỳ này.
Trang 10
1.2.2. Chủ đề người phụ nữ trong thơ Đường
Thơ ca Trung quốc phát triển nhất vào đời Đường, trong đó thời kì thịnh Đường
được gọi là thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc. Các nhà thơ Đường đã phản
ánh hiện thực xã hội với nhiều chủ đề khác nhau như thiên nhiên, đất nước, thời thế,
con người…, trong đó các nhà thơ cũng dành một dung lượng không nhỏ để nói về chủ
đề người phụ nữ. Các nhà thơ đã phản ánh hiện thực cuộc sống sinh hoạt của người
phụ nữ trong xã hội một cách sinh động, sáng tạo. Thi nhân không chỉ nhận thức được
vẻ đẹp về ngoại hình bên ngoài mà còn thấy được phẩm chất bên trong của họ, đặc biệt
là nhận thấy được nỗi đau và những nguyên nhân sâu xa đã vùi dập cuộc đời họ. Bên
cạnh đó nhà thơ đã thấy được vai trò quan trọng của người phụ nữ, họ là lực lượng sản
xuất quan trọng trong bất kì xã hội nào, trong lịch sử cách mạng Trung Quốc nếu
không có sự tham gia của phụ nữ thì khó có thể thành công được. Thế nhưng người
phụ nữ lại phải sống trong thảm kịch, bị áp bức về mọi mặt và bằng nhiều hình thức
khác nhau. Ngoài sự áp bức của giai cấp họ còn chịu nỗi đau của những quan niệm
thần quyền, phụ mẫu quyền, nam quyền… Người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn
Dạ thâm tiền điện oán ca thanh
Hồng nhan vị lão ân tiên đoạn,
Tà ỷ huân lung tọa đáo minh”.
(Đêm khuya không ngủ lệ thấm đầy
Tiếng đàn đã tắt gió mành bay
Nhan sắc chưa phai mà ghẻ lạnh
Tựa gối đầu nghiên tới rạng ngày)
(Hậu cung từ- Bạch Cư Dị)
Thi nhân đã viết về họ với cả một sự cảm thông. Họ chính là nạn nhân của chế
độ vua chúa. Tuy nhiên họ còn có được chút hạnh phúc là đã từng được vua yêu
thương, bên cạnh những con người đáng thương này còn có những số phận còn bi
thảm hơn, những bản cáo trạng gay gắt hơn đó là tình cảnh của những cô cung nữ bị
đưa vào cung, chôn vùi cả tuổi thanh xuân, cả cuộc đời nơi cung cấm nhưng chưa một
lần được gặp mặt vua. Đây là một hiện trạng có thật trong xã hội phong kiến. Dưới
thời Đường Minh Hoàng có rất nhiều cô gái trẻ, đẹp được đưa vào kinh đô Lạc Dương
và Trường An để làm cung tỳ. Và Bạch Cư Dị đã thể hiện lòng thương tiếc cho phận
hồng nhan, tố cáo chế độ tàn bạo qua bài “ Thượng dương bạch phát nhân”, lúc nàng
mới vào cung thì: “Kiểm tự phù dung hung tụ ngọc” (Mặt tựa phù dung thân tựa ngọc),
nhưng sau bao lần trăng không thâý mặt Hoàng Đế đâu mà chỉ thấy ánh trăng vẫn vô
tình xuất hiện rồi biến mất theo tuần hoàn của tự nhiên, và bây giờ thì : “Hồng nhan
Trang 12
ám lão bạch phát tân” (Má hồng phai nhạt tóc sương nhuốm màu). Tàn nhẫn hơn đó là
việc trói chặt cuộc đời của những cô gái với những cái lăng tẩm, với người chết.
“Vũ lộ chi ân bất cập giả
Do văn bất cập tam thiên nhân
Tam thiên nhân, ngã nhĩ quân ân hà hậu bạc?
Nguyên lệnh luân chuyển trực lăng viên,
Trước kiệu cung nhân đeo
Ngựa trắng chuông vàng rung tiếng nhạc
Vươn mình bắn tên lên ngang mây
Một tên hai chim rơi cùng lúc)
(Ai giang đầu- Đỗ Phủ)
Thế nhưng cuối cùng nàng cũng trở thành vật hi sinh cho chế độ hậu cung độc
ác, đó là qui luật, là số phận không tránh khỏi của kiếp hồng nhan. Bên cạnh đó còn có
những cô gái tài sắc vẹn toàn cũng phải cùng chung số kiếp, đã trở thành vật hi sinh
cho những mưu đồ chính trị như Vương Chiêu Quân. Nhà thơ Lý Bạch đã mượn sự
tích về nàng để tố cáo xã hội phong kiến cướp đi hạnh phúc của người phụ nữ, đến
chết vẫn còn ôm nỗi hận lòng:
“ Sinh phạp hoàng kim uổng đồ họa
Tửu lưu thanh trủng sử nhân ta”
(Sống thiếu cân vàng tranh vẽ nhọ
Chết phơi nấm đất cỏ xanh rì)
(Vương Chiêu Quân- Lý Bạch)
Thi nhân còn dùng ngòi bút của mình để miêu tả tài nghệ của những ca nhi, vũ
nữ, họ là những người có tài nhưng lại bị xem thường do định kiến xã hội khắc khe.
Tài nghệ của họ chỉ để mua vui cho người khác và được đổi chác bằng tiền. Họ cũng
là nhũng người có nhan sắc phải chịu kiếp hồng nhan bạc phận, bị lưu lạc, cô đơn giũa
cuộc đời, phải lâm vào cảnh ngộ “Vành rượu bạc gãy tan nhịp gõ; Bức quần hồng
hoen úa rượu ơi” đó là cô gái trong bài “Tỳ bà hành”.
“Thiên hô vạn hóa thủy xuất lai,
Do lão tỳ bà bán gì diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh,
Vi hành khúc điệu thiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức thanh thanh tư
Tự tố sinh bình bất đắc chí”
Trang 15
Chương 2:
LÝ BẠCH VÀ THƠ ÔNG
2. 1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Bạch
Lý Bạch (701-762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê quán ở thành Kỷ,
Lũng Tây ( nay ở huyện Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc), tổ tiên vì mắc tội bị đày đến Tây
Vực.
Ông sinh ở Toái Diệp, trưởng thành ở làng Thanh Liên, huyện Chương Minh
thuộc Miên Châu (nay là huện Miên Dương, Tứ Xuyên). Còn trẻ đã thích múa kiếm,
khinh tài trọng nghĩa, thích làm hiệp khách, rất giỏi thơ phú.
Năm 20 tuổi ông đi du lịch khắp nơi như Thành Đô, núi Nga Mi …và lên núi để
đọc sách.
Năm 25 tuổi “đeo kiếm rời nước, tù biệt cha mẹ đi xa”, rời quê hương.
Năm 27 tuổi ông kết hôn cùng cháu gái quan tể tướng Hứa Vũ Sư ở An Lục
(Hồ Bắc) và từ An Lục ông chu du khắp nơi.
Thiên Bảo năm đầu (742), Lý Bạch được Ngô Quân tiến cử lên vua Đường, vua
đòi ông về Trường An và được đường Minh Hoàng phong chức Cung phụng hàn lâm.
Ba năm sống ở kinh đô, ông nhận ra bộ mặt xấu xa thối nát của bọn quyền quý, mộng
trở thành người kinh ban tế thế không còn.
Năm Thiên Bảo thứ ba (744), ông từ quan, rời Trường An đến Lạc Dương tiếp
tục chu du khắp nơi, kết bạn với nhiều người như Đỗ Phủ, Cao Thích …
Trong loạn An Lộc sơn, Đường Huyền Tông chạy vào đất Thục. Lúc này Lý
Bạch ra giúp sức cho Vĩnh Vương Lí Lân ( con trai thứ 16 của Đường Minh Hoàng,
em Đường Túc Tông) để cứu nước. Nhưng Lí Lân bị nghi ngờ và bị quân đội của Túc
Tông đánh tan, Lí Lân bị giết, Lý Bạch bị bắt và bị đày đi Dạ Lang, trên đường đi gặp
kì đại xá nên trở về quê.
Năm 761 ông bị bệnh và mất một năm sau đó, tại nhà của chú họ là Lý Dương
Băng, huyện lệnh huyện Đương Đồ (An Huy).
bay bổng, phóng khoáng :
“Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ
Bạc đầu đọc sách có gì hay”.
Ông viết rất nhiều bài thơ ca ngợi thái độ sống, tinh thần của các hiệp sĩ bằng
thái độ ngợi ca, nể phục:
“Tề có ông phóng khoáng,
Lỗ Liên thật tuyệt vời,
Trăng sáng từ đáy biển,
Một sớm chiếu muôn nơi.
Tuyệt Tần nổi danh tiếng,
hậu thế còn sáng soi.
Trang 17
Coi thường nghìn vàng tặng,
Ngó nhìn Bình Nguyên cười.
Ta cũng người phóng đãng,
Phủi áo về mà chơi.”
(Cổ phong bài 10)
Luồng tư tưởng giận đời ghét tục, trở về với thiên nhiên của đạo gia kết hợp
với tinh thần du hiệp, lấy tinh thần phản nghịch đả kích trật tự và lễ giáo xã hội phong
kiến, lấy thái độ ngạo mạn mà kinh thường bọn quyền quý trong tập đoàn thống trị.
Tìm kiếm sự tự do cá nhân và giải phóng cá tính. Do cơ sở tư tưởng đó mà lí tưởng và
nguyện vọng đẹp đẽ thể hiện trong thơ ông thường phù hợp với yêu cầu của tầng lớp
trí thức tiến bộ đương thời và ở một mức độ nào đó nó cũng phù hợp với yêu cầu của
nhân dân nói chung, làm cho phần lớn thơ ông chan chứa một tinh thần lãng mạn tích
cực và sáng ngời như ngọn lửa chưa bao giờ tắt. Ông cũng đã lấy nền tảng tư tưởng đó
làm chuẩn mực cho hoạt động chính trị của mình, theo suy nghĩ “công thành thân
thoái”.
“ Mong được giúp chúa hiền
Đôi khi thiên nhiên hùng vĩ khiến người ta choáng ngợp, bất ngờ như bài:
“Vọng Lư sơn bộc bố, bài 2”.
“Nắng rọi Hương lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây”
Trong bài Tĩnh dạ tư, ông đã kết hợp yếu tố trữ tình và tự sự để miêu tả vẻ đẹp
của thiên nhiên:
“Đầu giường ánh trăng rọi
Mặt đất ngỡ là sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương”.
Những bài thơ miêu tả thiên nhiên của ông, dù trong sáng, siêu phàm hay hào
phóng, mạnh mẽ, đều có thể đưa lại cho chúng ta một sự hưởng thụ cái đẹp, hung đúc
tâm hồn chúng ta và khích lệ lòng yêu nước.
Tinh thần yêu nước của Lý Bạch ngoài cách gởi gắm tâm tình, cách miêu tả đối
với thiên nhiên, còn được thể hiện ở nỗi đau xót khi đất nước gặp nguy, xót thương
cho người dân vô tội phải chụi nhiều mất mát trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, mà bản
thân thì không thể xoay chuyển tình thế.
Trang 19
“Tháng ba Lạc Dương bụi Hồ bay,
Trong thành Lạc dương oán hận đầy.
Thiên Tân nước chảy sóng như máu.
Xương trắng ngỗn ngang tũa đống cây”.
(Mãnh hổ hành)
Cho nên lòng ông lúc này:
dung và phong cách thơ ấy chính là phản ánh lối sống, tính cách và tư tưởng của ông,
cho nên muốn tìm hiểu ở chỗ đó. Lý Bạch là con người cuồn phóng, không chịu sự trói
buộc nào.
Thơ Lý Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng rất đặc biệt. Phong
cách gắn liền với nội dung tư tưởng các bài thơ mà cũng gắn liền với nhân cách của
nhà thơ. Lời thơ không sắp đặt, không trau chuốt, đẹp một cách tự nhiên” [10; tr.137] .
2.3. Nghệ thuật thơ Lý Bạch:
Lý Bạch chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực trong Kinh thi, ảnh hưởng sâu
sắc nhất vẫn là những tác phẩm của Khuất Nguyên trong Sở từ. Lý Bạch đã kế thừa và
phát huy truyền thống lãng mạn tích cực của Khuất Nguyên, tuy nhiên có sự phát triển
thêm. Về nội dung có phần rộng hơn, thơ ông luôn chan chứa tình yêu quê hương, đất
nước, thể hiện sự đồng cảm đối với những số phận khổ đau bị áp bức, nỗi phẫn uất
trước xã hội đen tối, tỏ ra căm gét bọn thống trị phong kiến thể hiện qua những vần thơ
có tính phản kháng mãnh liệt. Về bút pháp, ông hấp thụ thủ pháp khoa trương của thơ
ca nhân gian nhưng có sự sáng tạo riêng nhờ vào trí tưởng tượng bay bổng của mình:
“Khách từ Trường an đến,
Lại trở về Trường An.
Lòng ta cơn gió cuốn,
Trèo lên cây Tần quan.
Tình này khôn xiết kể,
Bao giờ lại gặp nhau?
Nhìn xa nào có thấy,
Mây mù khuất núi ngàn.”
(Kim Hương tống Vĩ Bát chi Tây Kinh- Lý Bạch)
Ông đã dùng sức tưởng tượng để nói lên sự quyến luyến của mình với Trường
An. Ông là người yêu thiên nhiên, tất cả những hình ảnh về thiên nhiên hiện lên trong
thơ ông hết sứ kì ảo, khác thường, như một con người đó là do thủ pháp nhân cách
hóa. Khi nói đến ánh trăng thì không phải đơn thuần là ánh trăng bình thường mà ông
còn kết hợp việc sử dụng thủ pháp nhân cách hóa để thể hiện một ánh trăng nó không
chỉ đẹp mà còn là người bạn tri âm của thi nhân:
“Tý dạ ngô ca” và “Trường can hành”, không chỉ ngôn ngữ sinh động, tự nhiên như
dân ca, mà đã đạt được mức độ “tình sâu lời rõ” :
“Trường An trăng một mảnh,
Đập vải rộn muôn nhà.
Gió thu thổi không ngớt,
ải ngọc tình bao la.
Trang 22
Bao giờ dẹp yên giặc,
Cho chàng khỏi xông pha.”
(Tý dạ ngô ca)
“Tóc em mới kín trán,
Trước của bẻ hoa đùa.
Chàng cưỡi ngựa trúc lại,
Quanh ghế tung mơ chua.
Cùng ở xóm Trường Can,
Đôi trẻ vui tha hồ.”
(Trường can hành)
Ngay cả những bài ông tự đặt đề mà làm, những bài ngũ ngôn, thất ngôn tuyệt
cú đều chứa đựng phong cách dân ca:
“Hái sen, gái nhược gia,
Thấy khách lướt thuyền qua.
Cười lẫn trong sen mất,
Giả thẹn chẳng quay ra.”
(Việt nữ từ, bài 3)
Lối sử dụng đề tài này phù hợp với phong cách lãng mạn. Về phương diện ngôn
ngữ, thơ ông có đặc điểm chất phác, tinh luyện và sáng đẹp, ngôn ngữ giàu hình ảnh
âm thanh nhạc điệu. Ông có sử dụng điển cố đã trở thành quen thuộc, ít có điển cố cầu
kì khó hiểu.
những đưa thơ Đường đến chổ phồn vinh mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát
triển thơ Đường sau này. Một số nhà thơ về sau đã tạo nên những kiệt tác nhờ học theo
lối sáng tác của Lý Bạch cùng với sự sáng tạo của bản thân như Bạch Cư Dị, Trương
Tịch, Vương Kiến …, đó là những nhà thơ nối bước theo thể nhạc phủ của Lý Bạch.
Tài năng của Lý không chỉ ở thể thơ này mà ở những lối sáng tác khác thì ông cũng
khiến người ta ái mộ, đặc biệt phải nói đến tuyệt cú, chính nó đã tạo nên vị trí độc tôn
cho thi nhân. Tuyệt cú của ông có thể nói là xuất quỷ nhập thần. Người viết đã sưu tầm
được một vài nhận định của một số học giả về tuyệt cú của ông. Hồ Chấn Hanh dẫn lời
cổ nhân nhấn mạnh :"Thái Bạch với tuyệt cú ngũ thất ngôn, ba trăm năm đời Đường
thực chỉ có một người" ("Thái Bạch ngũ thất ngôn tuyệt cú thực Đường tam bách niên
nhất nhân"). Bản thân ông cũng ca ngợi: "Ngũ thất ngôn tuyệt cú, Thái Bạch quả là
thần!"… Sau này, các tài liệu hiện đại nghiên cứu thơ Lý Bạch hay thơ tứ tuyệt đời
Đường nếu có nhắc tới Lý Bạch cũng cùng chung nhận xét đó. Giáo sư Dịch Quân Tả
trong cuốn "Văn học sử Trung Quốc" [5; tr.383] cũng cho rằng tuyệt cú của Lý Bạch
"thật cao diệu" và "thơ tuyệt cú của Đỗ lại thua Lý" [5; tr.399]...., những nhận định
trên đều cùng một quan điểm là công nhận địa vị bậc nhất của Lý Bạch về tứ tuyệt
trong thi đàn tứ tuyệt thời Đường.
Trang 24
Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài nào cũng được đánh giá rất
cao. Có được thành tựu như vậy ngoài việc người ta khâm phục tính cách phóng
khoáng và tư tưởng tiến bộ của ông bên cạnh đó như ta đã nói, trong những trang thơ
ông thể hiện những lí tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ thường phù hợp với yêu cầu của
tầng lớp trí thức tiến bộ đương thời và ở một mức độ nào đó nó cũng phù hợp với yêu
cầu của nhân dân nên thơ Lý được nhiều tầng lớp, giai cấp chấp nhận. Ông đã vận
dụng thiên tài thi ca của bản thân, sự tu dưỡng nghệ thuật rộng lớn và tinh tế của mình,
tình yêu đối với tổ quốc và nhân dân, cũng như sự nhận thức và lí giải sâu sắc của
mình đối với cuộc sông hiện tại cùng sự trải nghiệm của chính bản thân mình trong
suốt cuộc đời đầy thăng trầm, việc vận dụng những phương pháp sáng tác khác nhau,