TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN MÁC - LÊNIN
--------
LÊ THIÊN KIM
1711059
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG,
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG
Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
HÀ NỘI, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN MÁC - LÊNIN
--------
LÊ THIÊN KIM
1711059
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG,
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG
Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn:
1. TS. Vũ Văn Vinh
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2017
Học Viên
Lê Thiên Kim
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xưa ông cha ta đã biết sử dụng nguồn dược liệu quý giá của đất nước với
các phương pháp chế biến khác nhau và các dạng bào chế thích hợp dùng để phòng và
chữa bệnh cho nhân dân. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền đạt
cho thế hệ sau, đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên
những lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh, đồng thời còn dựa vào các hệ
thống triết học cổ phương Đông vận dụng vào y học cổ truyền, đặc biệt là học thuyết
Âm dương và học thuyết Ngũ hành,… tạo ra một hệ thống y lý phong phú, có sáng tạo
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam.
Học thuyết Âm dương và học thuyết Ngũ hành là hai học thuyết triết học
phương Đông điển hình, là vũ trụ quan của triết học Trung Quốc cổ đại về cách thức
vận động của mọi sự vật, mọi hiện tượng. Cả 2 học thuyết đều được vận dụng để giải
thích sự xuất hiện, sự tồn tại, chuyển hóa lặp đi lặp lại có tính chu kỳ của sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực tri thức và được vận dụng để lý
giải các vấn đề của tự nhiên, xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực Y dược học cổ truyền. Học
thuyết âm dương, học thuyết Ngũ hành là cơ sở lý luận để giải thích nguyên nhân, cơ
chế phát sinh bệnh tật, điều trị, phòng bệnh, bào chế thuốc của y dược học cổ truyền.
Qua chương trình Triết học dành cho học viên Cao học khóa 22 của trường Đại
học Dược Hà Nội, cùng sự quan tâm tới Y dược học dân tộc, tôi thực hiện tiểu luận
với chủ đề: “Học thuyết Âm dương, học thuyết Ngũ hành và việc vận dụng trong Y
Nam của cư dân trồng lúa nước. Đây là một triết lý hình thành rất sớm tại vùng nông
nghiệp Nam Á, từ khi chưa có chữ viết. Để chứng minh quan điểm này, các nhà khoa
học đã đưa ra các dẫn chứng cụ thể, như: Âm- Dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý
niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người;
triết lý Âm- Dương mang tính tổng hợp và biện chứng, nó chỉ có thể là sản phẩm tư
duy của loại hình văn hóa nông nghiệp trọng tĩnh...
Như vậy, hai quan điểm trên khác nhau cả về cơ sở, nguồn gốc hình thành của
học thuyết Âm – Dương, nhưng đều thống nhất rằng học thuyết Âm Dương có từ rất
sớm, được ghi chép trong các sách cổ Trung Hoa; trải qua hàng nghìn năm lịch sử, học
thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều quốc gia ở Đông Nam Á, trong đó có Việt
Nam, trở thành cơ sở lý luận chi phối thế giới quan và nhân sinh quan của người
phương Đông.
Học thuyết âm dương được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
như thiên văn học, nông học, toán học, hóa học, y học cổ truyền. Trong đó, y học cổ
7
truyền vận dụng thuyết âm dượng một cách nhuần nhuyễn và phong phú. Coi con
người là một vũ trụ thu nhỏ, đồng thời trên cơ sở của học thuyết này có thể giải thích
sự phát sinh phát triển của bệnh tật và các phương pháp chẩn trị lâm sàng.
1.2.2. Khái niệm âm - dương
Khái niệm về Âm- Dương là điều quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu; tùy theo
từng giai đoạn phát triển của lịch sử, tùy theo từng góc nhìn nghiên cứu lại có những
quan niệm, khái niệm khác nhau.
Âm và Dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể mà là thuộc
tính của mọi hiện tượng, sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi
tiết. Âm và Dương là hai mặt đối lập, mâu thẫu nhưng thống nhất. Trong Dương có
mầm mống của âm và ngược lại.
Mọi sực vật hiện tượng là biến hóa không ngừng “Thái cực sinh lưỡng nghi,
dương hỗ căn: Hỗ căn là nương tựa vào nhau; hai mặt Âm- Dương tuy đối lập,
nhưng có tính nương tựa lẫn nhau, bắt rễ với nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau để tồn
tại. Âm và dương liên kết với nhau để tạo thành một thực thể, chúng không thể thiếu
nhau hoặc đứng một mình. Chính đặc tính này phản ảnh mối liên hệ mật thiết với
nhau của hai mặt Âm- Dương: trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Không có
sự vật hiện tượng nào tồn tại được mà chỉ có một mặt Âm hoặc Dương. Ví dụ: Khí và
Huyết, thì Khí thuộc Dương, Huyết thuộc Âm, Huyết sinh ra từ thức ăn uống nhờ
công năng của Khí, tuần hoàn khắp cơ thể nhờ sự thúc đẩy của Khí, tuy nhiên, Khí
được tạo ra từ những tinh chất của Huyết, nếu tinh chất của Huyết không đầy đủ thì
Khí cũng suy, Khí và Huyết có quan hệ khăng khít.
- Âm
dương bình hành – tiêu trưởng: Tiêu là mất đi, trưởng là phát triển. Âm dương tiêu
trưởng chỉ ra rằng trong mỗi sự vật hiện tượng đều hàm chứa Âm và Dương, nhưng tỷ
lệ của chúng không phải bất biến mà sẽ không ngừng tiêu trưởng. Tuy nhiên, sự vận
động này có tính giai đoạn, tới một mức nào đó thì sẽ chuyển hóa lẫn nhau: Âm
trưởng thì Dương tiêu, Dương trưởng thì Âm tiêu, Dương cực sinh Âm, Âm cực sinh
Dương, cứ như vậy chu trình vận động tạo thành vòng tròn khép kín. Bình hành là
thăng bằng, nghĩa là tồn tại sự thăng bằng giữa hai mặt Âm- Dương, Âm- Dương đối
luận chuyển động không ngừng nhưng chúng luôn lập lại thế cân bằng. Ví dụ như:
Thời tiết có bốn mùa: mùa Xuân (thuộc Dương), tới mùa Hạ (cực Dương), sang mùa
Thu (là Âm), rồi mùa Đông (cực Âm), cứ luân hồi Âm Dương như vậy.
9
- Âm
được các mối quan hệ mất thiết, hữu cơ giữa Ngũ hành với nhau thông qua một số quy
luật hoạt động của chúng. Đó là một minh chứng điển hình cho tư duy biện chứng của
10
triết học cổ đại phương Đông.
1.3.2. Nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành
Theo thuyết Ngũ hành, vạn vật được cấu tạo bởi 5 vật chất, 5 yếu tố cơ bản đó
là: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy:
- Mộc: là hình thái sinh trưởng (nghĩa hẹp là gỗ). Đặc tính của mộc là hướng
lên trên, hướng ra ngoài. Mộc đại diện cho công năng sinh trưởng không ngừng của
vạn vật.
- Hỏa: là sức nóng (nghĩa hẹp là lửa). Đựac tính của hỏa là bốc lên trên (thượng
thăng). Hỏa đại diện cho tính năng thăng hoa, chói lọi và ấm nóng. Tất cả các sự vật
và hiện tượng có tính năng hun đốt, bốc lên trên và ôn nhiệt đều thuộc Hỏa.
- Thổ: nghĩa hẹp là đất. Đặc tính hóa sinh, truyền tải và thu nạp… được coi là
mẹ của vạn vật. Thổ bao gồm sự sinh trưởng, là cội nguồn cho sự sinh tồn. Tất cả các
sự vật có tính năng sinh hóa, truyền tải, thu nạp đều quy nạp vào Thổ.
- Kim: nghĩa hẹp là kim loại. Đại biểu cho tính ngưng kết, tính thanh trừng, túc
giáng, thu liễm, sạch sẽ. Tất cả sự vật và hiện tượng sau khi sinh trưởng mà đạt được
trạng thái ngưng kết thì được quy vào Kim.
- Thủy: nghĩa hẹp là nước. Đặc tính là tư nhuận, hướng xuống dưới và bể tàng.
Tất cả các sự vật và hiện tượng có tính năng mát lạnh, tư nhuận, bể tàng, hướng xuống
dưới đều được quy nạp vào Thủy.
Năm yếu tố được vận dụng đầy đủ vào mọi mặt của đời sống từ vật chất, màu
sắc, mùi vị, phương, vị, khí, mùa,…
Bảng 1.1. Thuyết Ngũ hành về vật chất, màu sắc, vị, hóa sinh, khí, phương, mùa
Hiện tượng
Vật chất
Ngũ hành
Thổ
Đất
Vàng
Ngọt
Thơm
Lúa tẻ
Bò
Hóa
Thấp
Trung
11
Kim
Kim loại
Trắng
Cay
Hôi
Lúa nếp
Ngựa
Thu
Táo
Tây
Thủy
Nước
Đen
Mặn
Tương sinh
Tương khắc
Hình 1.2. Quy luật tương sinh, tương khắc trong thuyết Ngũ hành
Trong điều kiện khác thường: 5 vật chất, 5 yếu tố này tương tác theo hướng
hoặc tương thừa mà theo đó chúng lấn át nhau hoặc tương vũ mà theo đó chúng ức
chế ngược lẫn nhau. Quy luật tương thừa tức là hành đi khắc mạnh hơn hành được
khắc, ví dụ: Kim khắc mộc, kim mạnh hơn mộc. Quy luật tương vũ tức là hành bị
khắc mạnh hơn hành đến khắc, ví dụ: kim khắc mộc nhưng mộc mạnh hơn kim.
Quy luật chế hóa Ngũ hành: Thực tế các quy luật hoạt động của Ngũ hành rất
phúc tạp, đan xen vào nhau bị rằng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quy luật.
Mỗi hành đều bị ảnh hưởng tương sinh hoặc tương khắc của các hành khác và được
thể hiện ra ở quy luật tổng hợp gọi là quy luật chế hóa Ngũ hành.
12
Hình 1.3. Quy luật chế hóa Ngũ hành
Tóm lại, các quy luật vận hoạt động của Ngũ hành nói lên sự vận động, chuyển
hóa chế ước lẫn nhau. Một hành bị rằng buộc và quan hệ với bốn hành đứng cạnh.
Mỗi hành đều tự vận động bên cạnh sự hoạt hoạt động của bốn hành khác. Điều này
làm cho các hoạt động của Ngũ hành thêm phong phú và phức tạp.
13
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CỦA HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, HỌC THUYẾT
NGŨ HÀNH TRONG Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
Mặc dù hai học thuyết âm dương và Ngũ hành đã ra đời khá lâu, cách chúng ta
Âm
15
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại các cơ quan, mô của cơ thể theo âm dương
2.1.2. Ứng dụng học thuyết âm dương trong chức năng sinh lý
YHCT nhấn mạnh con người là một phần của thiên nhiên (tiểu vũ trụ), sống hài
hòa và cân bằng với thiên nhiên. Hoạt động sống là kết quả của sự tương tác của các
thành phần trong cơ thể một cách hài hòa và thống nhất.
Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương; Khí tạo ra
huyết và thúc đẩy lưu thông, mặc khác huyết mang và nuôi dưỡng khí; Tạng thuộc âm
do có chức năng tàng trữ, Phủ thuộc dương do có chức năng truyền tải, tiêu hóa và bài
tiết...
Nếu Âm dương cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, Âm Dương mất cân bằng thì cơ
thể sinh bệnh.
Ví dụ: Sốt cao gây phản ứng giãn mạnh, mở lỗ chân lông để thoát nhiệt, tuy
nhiên khi cơ thể không tự cân bằng được nữa thì sẽ phát sinh bệnh tật.
2.1.3. Ứng dụng học thuyết âm dương trong sinh lý bệnh
Học thuyết âm dương cho rằng bệnh là sự mất cân bằng âm dương dẫn đến tình
trạng thắng hoặc suy của âm, dương.
Sự xuất hiện và phát triển của bệnh tật còn liên quan đến chính khí (sức đề
kháng của cơ thể) và tà khí (các tác nhân gây bệnh).
Học thuyết âm dương có thể được sử dụng để khái quát hóa các mối quan hệ
tương tác giữa sức đề kháng của cơ thể và các tác nhân gây bệnh.
Các yếu tố gây bệnh được chia thành yếu gây bệnh mang thuộc tính dương hay
thuộc tính âm, trong khi chính khí cũng bao gồm 2 phần âm và dương: Các tác nhân
gây bệnh mang thuộc tính dương thường có khuynh hướng ảnh hưởng đến vật chất
dinh dưỡng (âm); Các tác nhân gây bệnh mang thuộc tính âm thường có khuynh
hướng ảnh hưởng đến công năng hoạt động (dương khí).
(trì)….
Hội chứng nội nhiệt (hư nhiệt): cơn nóng
phừng mặt, tay chân nóng, đổ mồ hôi về
đêm, khát nước, họng khô, táo bón,
mạch nhanh (sác) ….
Dương khí suy Dương hư (dương
giảm
dưới
mức
bình
thường)
Tác nhân gây Dương
vượng,
bệnh
mang dương thịnh (dương
thuộc
tính trên mức giới hạn
dương
bình thường)
Dương khí + Âm Âm dương lưỡng hư
đều không đủ
Hội chứng ngoại hàn (hư hàn): tay chân
lạnh, dễ bị cảm lạnh, nhạy cảm với nhiệt
độ thấp, chân tay lạnh, mệt mỏi…
Hội chứng ngoại nhiệt : sốt, đổ mồ hôi,
tay chân nóng, đỏ mặt, mạch nhanh….
Thường gặp trong các vấn đề sức khỏe
kéo dài (bệnh mạn tính) với biểu hiện
Vấn
Ớn lạnh, không có cảm giác ngon
miệng, thích đồ nóng, cảm giác mệt
mỏi, tiểu trong dài, buồn ngủ, đau
không rõ ràng, diễn tiến bệnh chậm
và mạn tính…
Mạch trầm, trì, vô lực
Đau thiện án
Thiết
Sốt, thích uống đồ mát khi khát,
khô miệng, phân khô cứng, tiểu
ít, nước tiểu vàng, đau dữ dội,
bệnh nhanh và cấp tính…
Mạch phù sác hữu lực
Đau cự án
Sau khi thu thập được các dữ kiện từ vọng, văn, vấn, thiết, tiến hành phân loại
theo bát cương: Biểu – Lý; Hàn – Nhiệt; Hư – Thực; Âm –Dương. Tự sự phân loại
này xác định mối quan hệ giữa tác nhân gây bệnh, khu vực bị bệnh (biểu-lý), chính
khí của cơ thể (thực – hư), để xác định tính chất của bệnh (nhiệt – hàn). Trong đó âm –
dương là cơ bản và quan trọng nhất
2.1.5. Ứng dụng học thuyết âm dương trong điều trị
Thuyết âm dương được vận dụng vào trong điều trị bệnh hết sức phong phú.
Điều trị với mục tiêu là loại bỏ tác nhân gây bệnh, tái lập cân bằng âm dương của cơ
thể. Vì vậy, việc điều trị tuân theo các nguyên tắc điều trị cơ bản:
cần dùng các thuốc bổ dương, bổ tâm dương hoặc bổ khí để nâng phần dương trong
cơ thể lên.
Tình trạng âm dương lưỡng hư: Lúc này cảm phần âm và dương trong cơ thể bị
thiếu hụt, cần dùng các thuốc bổ âm bổ dương, bổ khí bổ huyết để nâng âm dương
trong cơ thể lên.
2.1.6. Ứng dụng học thuyết âm dương trong phòng bệnh
Tùy trình trạng thời tiết theo mùa, học thuyết âm dương ứng dụng đưa ra các cách
phòng bệnh. Mùa đông, khí hậu thường lạnh, thuộc âm. Do đó, cơ thể dễ nhiễm bệnh
cảm mạo phong hàn, bệnh hàn thấp. Cần phòng bệnh bằng cách mặc ấm, ăn các thức
ăn có vị cay nóng, hoặc uống các thuốc có vị tân ôn nhưu sinh khương, đinh hương,
quế nhục.
Mùa hè, khí hậu thường nóng lực, thuộc dương. Theo đó, cơ thể dễ nhiễm bệnh chứng
thử hay cảm nhiệt. Cần phòng bệnh bằng các mặc quần áo thoáng mát, ăn uống đồ
mát như uống nước rau má phòng say nắng.
2.1.7. Ứng dụng học thuyết âm dương trong dược học (đông dược)
Tính vị của thuốc theo âm dương
Thuốc đông dược đặc trưng bởi tính vị: vị là phạm trù hữu hình thuộc âm, khí
(tính) là phạm trù công năng thuộc dương. Trong vị lại co âm dương: vị cay ngọt
thuộc dương, vị đắng mặn thuộc âm, vị chua mang tính chất lưỡng tính. Trong khí có
âm dương: khí hàn lương thuộc âm, khí ôn nhiệt thuộc dương. Điều này thể hiện rõ
tính chất trong âm có dương, trong dương có âm của học thuyết âm dương.
Phân loại thuốc đông dược theo âm dương
19
Những vị thuốc được gọi là âm dược có thể dùng để điều trị những chứng
thuộc dương chứng (áp dụng âm dương đối lập). Dương chứng có thể là cảm nóng, sốt
cao nhiễm trùng, sốt kéo dài… Các vị âm dược thường có vị chua, đắng, mặn có tính
lương hoặc hàn, có công năng giải biểu, thanh nhiệt, bổ âm, phần lớn mang tính ức
tác dụng hành huyết
Bài thuốc Thận khí hoàn có tác dụng bổ Thận dương, trong đó có các vị thuốc
có tác dụng bổ Thận âm.
2.1.8. Ứng dụng học thuyết âm dương trong chế biến thuốc cổ truyền
Học thuyết âm dương cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự chế biến thuốc YHCT.
Mục đích của việc chế biến là làm thay đổi tính vị của thuốc, nhằm mục đích tăng sự
quy kinh của thuốc hoặc giảm tác dụng phụ (tính háo, tính nhiệt, tính độc).
Chế biến làm giảm tính dương (nhiệt) của thuốc: Phụ tử ngâm với đảm ba
(magie clorid) hoặc nước ót (nước sau khi còn lại của việc kết tinh muối ăn). Hà thủ ô
đỏ, xương bồ ngâm nước vo gạo.
Chế biến làm tăng tính dương của thuốc bằng cách dùng các phụ liệu gừng, sa
nhân, mật ong, rượu, những phục liệu mang tính ôn nhiệt để trích tẩm với thuốc như
cát cánh, nhân sâm trích gừng, cam thảo trích mật ong, dâm dương hoắc trích mỡ dê,
…
Chế biến làm tăng tính âm cho vị thuốc: Sài hồ trích miết huyết (máu ba ba),
diên trích giấm thanh.
2.2. Vận dụng học thuyết Ngũ hành trong Y dược học cổ truyền
2.2.1. Ứng dụng học thuyết Ngũ hành trong cấu trúc cơ thể con người và các
chức năng sinh lý.
Ứng dụng Ngũ hành vào sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ hành,
dựa vào đặc tính sinh lý của ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành. Dựa theo học
thuyết Ngũ hành, các bộ phận (tạng, phủ, giác quan), các biểu hiện các xúc của con
người được phân theo Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy như bảng sau (Bảng 2.3):
Bảng 2.3. Bộ phận, hiện tượng của con người phân theo Ngũ hành
Bộ phận,
hiện tượng
Tạng
Phủ
Ngũ thể
Phế
Đại trường
Da, lông
Mũi
Buồn
Khóc
2.2.2. Ứng dụng học thuyết Ngũ hành trong sinh lý bệnh
21
Thủy
Thận
Bàng quang
Xương, tủy
Tai
Sợ
Tiếng rên
Ngũ tạng bên ngoài ứng với ngũ thời. Tùy thời tiết từng mùa mà có bệnh tương
ứng liên quan các bộ phận của cơ thể: Can dễ bị tổn thương vào mùa xuân, dễ bị
nhiễm phong tà…
Một tạng phủ bị bệnh có thể do các cơ chế:
Hư tà (Mẫu bệnh cập tử): bệnh do từ tạng đứng sau truyền đến tạng đứng trước:
Thận âm hư dẫn đến Can âm hư, làm Can Thận âm hư.
Thực tà (Tử bệnh phạm mẫu): bệnh do từ tạng đứng trước truyền đến tạng đứ
sau: Tâm huyết bất túc dẫn đến Can huyết bất túc.
Tặc tà: bệnh do tạng đi khắc truyền đến tạng bị khắc: từ Can mộc quá mạnh
khắc Tỳ thổ dẫn tới Can uất Tỳ hư.
khi, huyết thư bổ huyết, khí huyết lưỡng hư dùng thuốc bổ khí bổ huyết).
- Bệnh thực chứng phải dùng phương tả, thuốc mang tính tả.
Quy luật “hư thì bổ, thực thì tả” cũng được vận dùng trong châm cứu, xoa bóp:
- Châm
bổ: Đối với bệnh thuộc chứng hư, người già yếu, … khi châm, ít vê
kim, số lần vê thấp, rút kim ra ấn vào huyệt;
- Châm tả: Đối với bệnh thuộc thực chứng, khi châm, tần số về kim nhiều,
cường độ vê lớn, khi rút kim ra không cần ấn vào huyệt, đôi khi còn thích
huyết.
Điều trị vận dụng theo Ngũ hành tương khắc:
Điều trị tuân theo nguyên tắc: Ức mộc phù thổ, Ôn Thận kiện Tỳ, Tư âm giáng
hỏa.
Thuốc dùng với tính chất bổ thận thủy song lại ức chế can hỏa vượng như
hoàng tinh, thục địa hoặc phương lục vị, ….
Điều trị vận dụng Ngũ hành tương thừa, tương vũ
Trường hợp tương thừa, hành đi khắc mạnh hơn hành bị khắc: ví dụ thồ lấn át
thủy, tạng tỳ mạnh hơn tạng thận, tỳ khí mạnh hơn thận khí gây ù tai, đau lưng, di
tinh, … Sử dụng các thuốc quy trình tỳ vị (hành thổ) song có đủ sức mạnh để tác động
vào thận khí giúp cho thận khí mạnh lên, điều trị các chứng sa giáng của thận.
Trường hợp tương vũ, hành bị khắc mạnh hơn hành đi khắc: can mộc mạnh
hơn phế kim, có thể chống lại phế kim gây phế bị bệnh như ho, xuất huyết. Sử dụng
thuốc mang tính tương vũ, quy kinh can xong lại có tá dụng ở tạng phế như hoàng
cầm chữa phế ung, địa cốt bì thanh phế nhiệt, …
2.2.5. Ứng dụng học thuyết Ngũ hành trong quy kinh và chế biến thuốc
Quy kinh là nói lên phần tạng phủ kinh lạc trong cơ thể mà một vị thuốc có tác
dụng, đó cũng chính là phạm vi chỉ định điều trị của vị thuốc đó.
Nhận biết quy kinh của thuốc dựa vào màu sắc, mùi vị.
BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
- Về học thuyết âm dương
Là học thuyết triết học duy vật biện chứng song ở mức độ thô sơ. Duy vật ở
chỗ đề cập đến sự vật, sự việc cụ thể, nói tới bản chất của sự vật. Đó là thuộc tính
khách quan và tương đối đã được vận dùng vào nhiều lĩnh vực.
Âm dương là hai mặt đối lập hợp nhất trong mọi sự vật. Sự đấu tranh giữa âm
và dương làm cho vũ trụ phát triển không ngừng. Thái cực, theo cách nói của triết học
phương Tây chính là mâu thuẫn, là sự hợp nhất của hai mặt đối lập. Hai mặt Âm
Dương không bao giờ tồn tại riêng rẽ, Dương phát triển đến cực thịnh thì chuyển
thành Âm, Âm phát triển cực thịnh thì chuyển thành Dương, điều này tương tự như
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong triết học hiện đại.
Học thuyết âm dương có sức sống mãnh liệt qua thời gian hàng ngàn năm. Học
thuyết này được vận dụng một cách nhuần nhuyễn vào mọi phương diện từ phòng
bệnh, chuẩn đoán bệnh, điều trị, chế biến, ….
Tuy nhiên, sự vận dụng học thuyết âm dương đôi khi còn máy móc, nhất là khi
vận dùng giải thích tính âm dương của một số tạng phủ. Dù vậy, thuyết âm dương vấn
là học thuyết có ý nghĩa sâu sắc đối với Y Dược học cổ truyền đến tận ngày nay.
- Về học thuyết ngũ hành:
Học thuyết Ngũ hành là học thuyết duy vật biện chứng ở mức độ thô sơ. Học
thuyết Ngũ hành đã bổ sung cho thuyết âm dương, bổ sung cho kho tàng lý luận triết
học nói chung và lý luận triết học nói riêng, đặc biệt là quy luật Tương sinh – tương
khắc, tương thừa – tươn vũ. Học thuyết Ngũ hành đã được vận dụng sâu trong y dược
học cổ truyền: về tổ chức sinh lý, bệnh lý; Khai thác các quy luật Ngũ hành áp dụng
cho điều trị, cho chế biến thuốc cổ truyền, ….
Tuy nhiên, học thuyết Ngũ hành cũng còn thể hiện sự máy móc, cứng nhắc do
sự quy định phạm vi hoạt động của thuyết còn hẹp (5 hành). Điều này dẫn đến hạn chế
trong vận dụng, đặc biệt về mặt triệu chứng, phương pháp điều trị của y học cổ truyền.
Theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: “Nghề làm thuốc đâu thể vượt ra
ngoài nguyên lý của Âm dương – Ngũ hành mà cứu chữa đưuọc những bệnh nguy