i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các
số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng.
Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong
luận văn này.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành
luận văn tôi xin cam đoan đều đã được cảm ơn đầy đủ
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017
Học viên Lê
Xuân Tùng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng
nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Mai Anh
Khoa với cương vị giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Cảm ơn Phòng Đào tạo sau Đại học - Đại học Thái Nguyên; Bộ phận
quản lý sau Đại học; Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên; Viện chăn nuôi đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp, các em sinh viên đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước............................................19
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới........................................................19
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước..........................................................20
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................24
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................24
4
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu..........................................................24
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu............................................................................. 24
2.2.2. Thời gian nghiên cứu............................................................................ 24
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................. 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 24
2.4.1. Nội dung 1............................................................................................. 24
2.4.2. Nội dung 2............................................................................................. 25
2.4.3. Nội dung 3.............................................................................................27
2.5. Các chỉ tiêu theo dõi................................................................................. 28
2.6 . Phương pháp xử lý số liệu....................................................................... 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................29
3.1. Tình hình chăn nuôi, sử dụng cỏ Alfalfa cho bò sữa tại huyện Mộc
Châu - Sơn La.........................................................................................29
3.1.1. Tình hình chăn nuôi bò sữa của huyện Mộc Châu................................ 29
3.1.2. Quy mô chăn nuôi bò sữa của huyện Mộc Châu Sơn La....................... 32
3.1.3. Tình hình sử dụng cỏ alfalfa tại Mộc Châu - Sơn La..............................33
3.2. Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa và
khả năng tiêu hóa in vitro gas production.............................................34
KP: Khẩu phần
ME (Metabolisable Energy): Năng lượng trao đổi
ND: Nghị định
NDF (Neutral Detergent Fibre): Xơ không tan trong dung môi trung tính
NLTĐ: Năng lượng trao đổi
OMD (Organic Matter Digestability): Chất hữu cơ tiêu hoá
QĐ: Quyết định
SEM (Standard error of the mean): Sai số tiêu chuẩn của giá trị trung bình
TA: Thức ăn
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND: Ủy ban Nhân dân VCK:
Vật chất khô
VSV: Vi sinh vật
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng bò sữa của huyện qua các năm........................................29
Bảng 3.2. Quy mô chăn nuôi của huyện..........................................................32
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng cỏ Alfalfa tại Mộc Châu- Sơn La.........................33
Bảng 3.4. Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa. . .36
Bảng 3.5. Lượng khí tích lũy khi lên men in vitro gas production tại các
thời điểm khác nhau (ml)..............................................................39
Bảng 3.6. Đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production của các
khẩu phần cỏ Alfalfa......................................................................42
Bảng 3.7. Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi của các khẩu
phần cỏ..........................................................................................43
Bảng 3.8. Năng suất sữa của bò trước thí nghiệm (kg/con)............................45
Bảng 3.9. Năng suất sữa bò trong thời gian thí nghiệm..................................46
Bảng 3.10. Một số thành phần chất lượng sữa của bò trong thời gian thí nghiệm
... 49 Bảng 3.11. Tiêu thụ VCK qua các giai đoạn...........................................52
9
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay phát triển chăn nuôi bò sữa đang được ưu tiên trong chiến
lược phát triển chăn nuôi của Việt Nam, điều này được thể hiện rõ ở nghị định
167/NĐ-CP của Chính phủ; tuy nhiên để phát triển chăn nuôi bò sữa một cách
hệ thống và bền vững phải có nguồn thức ăn thô chất lượng cao, nguồn thức
ăn này ở nước ta còn rất nhiều hạn chế. Việc tìm kiếm nguồn thức ăn thô có
chất lượng cao để bổ sung vào khẩu phần (KP) ăn cho bò sữa, nhất là bò sữa
cao sản là một trong những yêu cầu cần thiết đối với các nước trong khu vực
châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sơn La là tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, độ cao trung bình từ
600 - 700m so với mặt nước biển. Khí hậu Sơn La mang đặc trưng của khí
hậu nhiệt đới gió mùa; mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh và khô
hanh. Có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi như có nhiều
đồng bãi chăn thả, tổng diện tích đồng cỏ gieo trồng lớn, hiện có 2.505 ha cỏ
trồng, kế hoạch phát triển giai đoạn 2015 - 2020 đạt 7.000 ha, là tiềm năng
lớn để phát triển các loại gia súc ăn cỏ như: trâu, bò, dê... Đàn vật nuôi của
tỉnh có quy mô lớn về số lượng, đa dạng về chủng loại theo vùng sinh thái và
có nhiều giống có giá trị kinh tế cao như: Bò sữa, bò thịt chất lượng cao, gà
đen, nhím... là tiềm năng, lợi thế để đầu tư có hiệu quả các dự án phát triển
10
chăn nuôi. Tỉnh Sơn La có 12 huyện thị phát triển ngành chăn nuôi gia súc
theo hướng bền vững an toàn. Trong đó có huyện Mộc Châu là một trong
những vùng đất có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thời tiết khí hậu phù hợp cho
phát triển chăn nuôi bò sữa. Đàn bò sữa giống Holstein Friesian (HF) được
nuôi tại đây có nguồn gốc từ đàn bò Hà Lan – Cu Ba, trải qua nhiều thế hệ,
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ðề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết, không những có ý nghĩa
về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
- Cỏ Alfalfa được biết đến như là một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa cao
sản với đặc tính nổi trội là hàm lượng protein cao (19 - 22%) và hàm
lượng xơ đặc biệt dễ tiêu hóa, thông qua đó cung cấp cho người chăn
nuôi phương pháp sử dụng cỏ Alfalfa bổ sung trong khẩu phần nuôi bò sữa
nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
- Đề xuất áp dụng khẩu phần bổ xung nuôi bò sữa phù hợp với điều kiện kinh
tế kỹ thuật. Từ đó chuyển giao quy trình kỹ thuật trên địa bàn.
CHƯƠNG 1 TỔNG
QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc tính của cây họ đậu
1.1.1.
Giới thiệu về cây họ đậu và đặc điểm của cỏ Alfalfa
Bộ Đậu (Fabales) là một bộ thực vật có hoa, nằm trong nhóm hoa hồng
(rosids) của thực vật hai lá mầm thật (eudicots). Trong nghiên cứu của
Magallón và cs, (1999) [44], Bộ Đậu chiếm khoảng 9,6% sự đa dạng của
thực vật hai lá mầm thật.
Trong bộ đậu, họ đậu (Fabaceae) là họ thực vật lớn thứ ba, với khoảng
730 chi và 19.400 loài. Các họ khác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong sự đa
dạng của bộ đậu (Judd và cs, 2002) [41].
Một đặc điểm nổi bật của các loài cây thuộc họ đậu là cây chủ cho nhiều
10% đến 20% trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ,
trứng có lòng đỏ to, màu đỏ đậm, tỉ lệ nở con cao hơn hẳn (Lê Văn An
và cs, 2008) [1].Trong nghiên cứu của Lê Công Quân (2006) [15], cho rằng
nhờ các chất ancaloid- enzim dồi dào trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn
loại cỏ này sẽ tiết sữa nhiều và chất lượng sữa tốt hơn.
Bột lá cỏ Alfalfa không những giàu protein, khoáng, vitamin mà còn
chứa hàm lượng xanthophyll tương đối cao. Theo Scott và cs (1982) [58] cho
biết, hàm lượng xanthophyll trong bột cỏ Alfalfa từ 400 đến 550mg/kg CK,
cao hơn khá nhiều so với một số bột lá các cây họ đậu khác. Kết quả phân tích
thành phần hóa học của bột cỏ Alfalfa sử dụng trong thức ăn cho gà
thí nghiệm của chúng tôi cho biết hàm lượng vật chất khô là 91,10%; hàm
lượng protein thô (14,70%); xơ thô (32,50%); lipit thô (1,01%); khoáng
tổng số (11,80%). Hàm lượng canxi và photpho tương ứng là 1,71% và
0,25%. Hàm lượng xanthophyll là 348,4 ppm/kg CK.
Người ta dùng cỏ Alfalfa làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi
quan trọng như: Bò đực giống, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh...
Do những tác dụng lớn đó, nên các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã
suy tôn cỏ Alfalfa là “Nữ hoàng” trong thức ăn chăn nuôi.
Lucerne Alfalfa chứa nhiều protein, calcium và các nhóm khoáng chất
có giá trị sinh trưởng cho các động vật kể cả con người, thêm vào đó các loại
vitamin A, các vitamin nhóm B, C, D, E và K cũng được tìm ra trong Alfalfa.
Song song với việc trồng Lucerne Alfalfa, người ta còn nuôi ong lấy
mật trên hoa cỏ Alfalfa tạo thêm nhiều nét đặc lợi trong mật ong làm
thực phẩm cho con người.
1.1.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá một số loại cây họ
đậu
Theo Norton và cs, (1995) [49] cây họ đậu được xác định là cây thức ăn
xanh tiềm năng bổ sung protein cho vật nuôi, vì chúng có chứa protein
Một số nghiên cứu khác cho thấy cây keo giậu tương đối giàu protein
thô (22 - 34%) và các axit amin thiết yếu, khoáng, carotenoit và vitamin
(Aletor và cs, 1994) [31]; (Munguti và cs, 2006) [48]; (D'Mello và cs, 1982)
[35]; (Dhar
và cs, 2007) [39]; (Onibi và cs, 2008) [52] ; (Atawodi và cs, 2008) [32].
Cây keo củi được nhập và trồng ở một số địa phương của Việt Nam.
Keo củi có hàm lượng protein khá cao, khoảng 22 - 24,5% tính theo CK
(Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995) [9]; (Nguyễn Thị Mùi, 2004) [16]. Hàm lượng
các chất dinh dưỡng trong cây keo củi trồng tại Cần Thơ từ 27,54 - 31,95%
CK, 22,12 - 27,84% protein thô (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2010) [17].
Ở miền núi khu vực phía Bắc cây họ đậu được trồng kết hợp chống xói
mòn với làm thức ăn chăn nuôi. Theo Từ Quang Hiển và cs (2008) [13] cho
biết thành phần hóa học của bột lá và lá tươi của 2 giống họ đậu trồng tại
Thái Nguyên như sau:
D. rensoni chứa 4,7%; 15,6% protein; 0,5%; 1,7% lipid tương ứng lá
tươi và bột lá, đậu công (F. Congesta) chứa 4,1%; 19,6% protein; 0,7%; 3,4%
lipit tương ứng lá tươi và bột lá.
Cây họ đậu không chỉ giàu protein mà còn chứa đầy đủ các axit amin
thiết yếu. Trong nghiên cứu của D'Mello và cs, (1989) [36] nhận xét bột lá keo
giậu cùng dòng và giống nhưng được trồng ở các địa điểm khác nhau thì cũng
có sự khác biệt về tỷ lệ các axit amin. Sự khác biệt đáng chú ý là arginine,
lysine, phenylalanine, leucine, tyrosine, methionine cysteine, glycine và
threonine trong bột lá keo giậu ở Malawi có chứa hàm lượng các axit amin
cao hơn bột lá keo giậu ở Thái Lan.
D'Mello (1995) [38] khuyến cáo rằng hàm lượng lysine trong bột lá họ
đậu cao hơn so với các hạt ngũ cốc và một số các sản phẩm như bột dầu
dừa. Tuy nhiên, hàm lượng lysine trong bột đậu tương và bột cá cao hơn
đáng kể so với các bột lá họ đậu. Vì vậy để thay thế một lượng lớn bột lá họ
nhiều axit amin bất thường. Nhiều trường hợp ngộ độc trên vật nuôi do ăn
phải hạt một số cây họ đậu nhiệt đới có axit amin độc hại như hạt cây đậu
chàm (Indigofera spicata) hoặc hạt cây Lathryus cicera.
Chất kháng dinh dưỡng, nói chung là không gây chết. Nó làm giảm khả
năng sinh trưởng nhưng cũng có thể gây độc tính trong giai đoạn thiếu
thức ăn hoặc cho ăn với số lượng lớn các cây giàu chất này. Theo Cheeke
và cs (1985) [34] chúng ức chế trypsin, gây ảnh hưởng bất lợi cho động vật
dạ dày đơn, nhưng không ảnh hưởng bất lợi ở động vật nhai lại vì chúng bị
phá hủy trong dạ cỏ.
Các chất kháng dinh dưỡng có thể được chia thành hai loại chính: Thứ
nhất là protein (các lectin và chất ức chế protease) - rất nhạy cảm với nhiệt
độ. Thứ hai là các chất khác như hợp chất polyphenolic (chủ yếu là
ngưng tụ tannin), các axit amin không protein. Các chất kháng dinh dưỡng
có hại cho sức khỏe của người và động vật nếu tiêu thụ quá lượng cho
phép.
Mimosine
Nhiều cây họ đậu chứa các hợp chất hóa học tự nhiên có khả năng
gây tác động tiêu cực. Trong số các axit amin độc hại có trong cây họ
đậu, mimosine là nhiều nhất. Mimosine được tìm thấy trong thân và hạt
giống của gia đình Mimosaceae và tất cả các chi Leucaena. Nồng độ của
mimosine
trong lá Leucaena là 2,5% trong chất khô (D'Mello, 1982) [35]; 3,36%
(Pakyavivat và cs, 1985) [54]; và 3,08% (Sriwatavorachai, 1989) [61]. Theo .
Chaiyanukulkit và cs, (1991) [33] báo cáo rằng mimosine trong cỏ Lucerne
là 0,29% và 0,18% chất khô tương ứng. Mối quan tâm đối với L.
leucocephala, là mức độ mimosine trong lá khoảng 2 - 6% và thay đổi theo
bị giảm sinh trưởng. Khi thí nghiệm trên gia súc người ta nhận thấy trong
chế phẩm này có chất ức chế sinh trưởng đối với gà, lợn và bê. Trong
dịch ép cỏ Alfalfa cũng có chất ức chế enzyme tiêu hoá protein
(antiproteinase).
Alkaloide
Alkaloide là những hợp chất hữu cơ có chứa Nitơ và có tính kiềm nhẹ,
đa số có nguồn gốc từ thảo mộc, chỉ với một liều thật nhỏ cũng tạo ra
tác dụng sinh học rất mạnh trên cơ thể. Hiện nay, người ta tìm thấy có trên
3000 chất alkaloide khác nhau và có khoảng 30 trong số này đã được sử
dụng rộng rãi trong y học và được người ta nghiên cứu kỹ.
Trong thực tiễn trên đồng cỏ chăn nuôi có một số loài thực vật họ
đậu như cỏ ngôi sao (Lupinus) là loại cây họ đậu hoa trắng (Lupinus albus),
hoặc hoa vàng (Lupinus luteus) có một loại chất độc gây bệnh cho gia
súc trên đồng cỏ xứ ôn đới, trước đây người ta gọi tên bệnh do loại cỏ này
gây ra là lupinozis. Sau này người ta xác định trong cây cỏ Lupin có chứa
nhiều loại alkaloide mà trong đó có chất kinolizidin là rất độc gây hại cho
gan, làm thoái hoá và mỡ hoá gan. Alkaloid gây ra rối loạn tiêu hóa và
thần kinh (Aletor, 1993) [30]. Alkaloide trong loại cỏ này không bị phá hủy
bởi quá trình phơi và sấy, do đó sự ngộ độc trên gia súc thường xảy ra khi
cho bò ăn cỏ Lupin khô. Sự ngộ độc do loại cỏ này xảy ra ở bò sữa mang
thai kỳ cuối hoặc mới đẻ còn gây ra bệnh ketosis cho bò.
Trong một số cỏ họ đậu thuộc giống Medicago sativa sau một thời gian
dài trồng để lấy hạt cỏ già tích lũy chất độc được biết là chất latirin cũng là
loại alkaloide gây ngộ độc cho gia súc ăn nhiều. Triệu chứng bệnh xuất hiện
trên hệ thần kinh dẫn đến bại liệt người ta gọi là bệnh latirizmus.
Một số chất kháng dinh dưỡng khác
Chất ức chế trypsin và chymotrypsin là các protein phân phối rộng rãi
trong thực vật. Nó làm giảm tiêu hóa protein và giảm sự sẵn có của các axit
3 – 5 lít axit butyric.. Đối với bò sữa, tỷ lệ axit axetic/axit propionic thích
hợp là 3:1, đối với bò thịt là 2:1.
Tỷ lệ axit axetic/axit propionic hoàn toàn phụ thuộc vào cấu trúc khẩu
phần ăn của gia súc. Nếu khẩu phần giàu xơ thì sẽ xuất hiện nhiều axit axetic
và axit propionic, tỷ lệ axit axetic/axit propionic có thể đạt tới mức 4:1. Điều
này dẫn tới pH dạ cỏ cao, tỷ lệ tiêu hóa thức ăn giảm, hàm lượng mỡ sữa
cao còn năng suất sữa thì thấp. Đây là khẩu phần ăn của bò sữa được cho ăn
nhiều cỏ khô già và rơm.
Nếu khẩu phần ăn của bò sữa giàu tinh bột thì tỷ lệ axit
axetic/axit propionic sẽ tiến tới 2:1. Trong trường hợp này, mỡ sữa sẽ
giảm, pH dạ cỏ giảm thấp và có nguy cơ bị axit dạ cỏ. Tỷ lệ xơ thích hợp
trong khẩu phần ăn của bò sữa nên nằm trong khoảng 18 - 22% (tính theo
VCK của khẩu phần). Đối với bò thịt, tỷ lệ này nên là 16%. Trong đó, 2/3
lượng xơ trong khẩu phần là “Có cấu trúc” (tức là thức ăn không được băm
chặt quá nhỏ hoặc nghiền nhỏ).
1.2.2. Tỷ lệ gluxit dễ tiêu hóa
Các khẩu phần của loài nhai lại thường có một lượng gluxit dễ tiêu hóa
nhất định, lượng gluxit này biến động nhiều tùy theo sự lựa chọn thức
ăn.. Thức ăn tinh ngũ cốc không những giàu tinh bột mà còn giàu cả đường,
trong lúc đó cỏ khô hòa thảo lại có nhiều đường. Các thức ăn như củ, quả,
ngũ cốc, cỏ khô hòa thảo, nước mật, rỉ mật, cỏ tươi họ hòa thảo,... đều là
những nguồn đường. Trong khẩu phần thiếu gluxit cũng như thừa đều
làm rối loạn hoạt động sống của hệ VSV dạ cỏ, làm giảm sự tiêu hóa thức
ăn và sự đồng hóa các chất nitơ.