BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----
-----
NGÔ VĂN CAY
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO ĐA CHIỀU
CỦA HỘ DÂN TẠI HUYỆN TÂN HIỆP
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----
-----
NGÔ VĂN CAY
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO ĐA CHIỀU
CỦA HỘ DÂN TẠI HUYỆN TÂN HIỆP
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã
số: 60340410
chiều chịu tác động bởi 09 yếu tố: (i) giới tính của chủ hộ, (ii) trình độ văn hóa, (iii) quy mô
hộ, (iv) số người phụ thuộc, (v) quy mô diện tích đất sản xuất, (vi) vay từ định chế chính thức,
trình độ văn hóa của chủ hộ, (vii) tuổi của chủ hộ, (viii) thành phần dân tộc của chủ hộ, (ix) nghề
nghiệp của chủ hộ.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng thông
qua khảo sát 270 hộ gia đình địa bàn Huyện Tân Hiệp, Kiên Giang (với tỷ lệ 50% là hộ nghèo
và 50% là hộ khác nghèo).
Kết quả đo lường số hộ nghèo theo phương pháp MPI cho thấy, trong 270 hộ gia đình
được khảo sát tại huyện Tân Hiệp có 198 hộ nghèo đa chiều, chiếm 73,3% và cao hơn tỷ lệ hộ
nghèo tính theo phương pháp đơn chiều (tiếp cận theo nghèo đơn chiều thì chỉ có 135 hộ
nghèo chiếm 50% tổng số hộ được khảo sát) là 23,3%. Có 63 trường hợp hộ khác nghèo được
đo lường ở phương pháp đơn chiều nhưng lại là hộ nghèo theo phương pháp đo lường đa
chiều. Trong 270 hộ được khảo sát thì có 124 hộ gia đình thiếu hụt về giáo dục, 38 hộ gia đình
thiếu hụt về
mức sống và 59 hộ thiếu hụt về y tế. Điều này chứng tỏ, có sự khác biệt lớn về kết quả giữa
đo lường nghèo đa chiều và đo lường nghèo đơn chiều.
Kết quả tổng quan lý thuyết cho thấy tình trạng nghèo của các hộ gia đình chịu tác
động bởi 09 yếu tố. Tuy nhiên, khi thực hiện khảo sát thực tế 270 hộ gia đình trên địa bàn
Huyện Tân Hiệp, Kiên Giang theo phương pháp lấy mẫu phân tầng thuận tiện thì kết quả phân
tích hồi quy Binary Logistic lại cho thấy: tình trạng nghèo của các hộ gia đình chỉ chịu tác
động bởi 06 yếu tố theo mức độ lần lượt là: (i) giới tính của chủ hộ, (ii) số người phụ thuộc
trong gia đình, (iii) diện tích đất sản xuất, (iv) vay từ định chế chính thức, (v) trình độ văn hóa
của chủ hộ và (vi) tuổi của chủ hộ.
Tuy nhiên, đề tài cũng có một số hạn chế nhất định: một là, do nguồn lực có hạn và
hạn chế về mặt thời gian nên dẫn đến hạn chế về số lượng hoặc tính chuẩn xác của mẫu quan
sát, đề tài đã áp dụng chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện, nên hạn chế đối với những kết
luận và đề nghị chính sách; và hai là, liên quan tới mô hình nghiên cứu, do khả năng có hạn, còn
nhiều yếu tố nữa ảnh hưởng đến nghèo đa chiều mà tác giả chưa tiếp cận được.
1.6.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI........................................................................................... 4
CHƯƠNG 2 .............................................................................................................................. 5
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ........................................................................................ 5
2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ............................................................................. 5
2.1.1. Khái niệm ................................................................................................................ 5
2.1.2. Phân loại nghèo: ..................................................................................................... 7
2.1.3. Thước đo nghèo ...................................................................................................... 7
2.1.4. Xu hướng chuyển đổi phương pháp tiếp cận nghèo – Nghèo đa chiều. ............ 8
2.2. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGHÈO .............................................................. 13
TÓM TẮT CHƯƠNG 2......................................................................................................... 20
CHƯƠNG 3 ............................................................................................................................ 21
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 21
3.1. CÁC TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ............................................................................... 21
3.2. PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG NGHÈO ĐA CHIỀU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN NGHÈO ĐA CHIỀU ................................................................................... 21
3.2.1. Nghèo đa chiều ..................................................................................................... 21
3.2.1.1. Lựa chọn đơn vị phân tích ............................................................................... 21
3.2.1.2. Chọn chiều phân tích và chỉ tiêu phân tích .................................................... 22
3.2.1.3 Định nghĩa các chiều và chỉ tiêu ....................................................................... 24
3.2.1.4 . Các bước xác định chỉ số nghèo đa chiều ....................................................... 26
3.2.2. Các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều............................................................. 27
3.3. NGUỒN DỮ LIỆU ...................................................................................................... 30
3.3.1. Số liệu thứ cấp ...................................................................................................... 30
3.3.2. Số liệu sơ cấp......................................................................................................... 30
Khác biệt trong khác biệt
OLS
Bình phương bé nhất
LĐTB&XH
Lao động thương binh và xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
QĐ-TTg
Quyết định Thủ tướng chính phủ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Thực trạng nghèo của các hộ dân trên địa bàn huyện Tân Hiệp
Bảng 4.3: Giới tính của chủ hộ Bảng
4.4: Dân tộc của chủ hộ Bảng 4.5:
Trình độ văn hóa chủ hộ Bảng 4.6:
Nghề nghiệp chủ hộ Bảng 4.7: Qui
mô hộ gia đình Bảng 4.8: Tỷ lệ phụ
thuộc
Bảng 4.9: Diện tích đất sản xuất
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.
BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người,
cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các dịch
vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v. và điều đó khiến cho họ
ít có cơ hội thoát nghèo. Do vậy, mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người
nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua
thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu
và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá
thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy nhiên,
chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế, nhiều
hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận
nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong
số đó tái nghèo.
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều. Trong cùng một
thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó
khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng
một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của
người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con
người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu
nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn
chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ
đa chiều từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội (Nguyễn Ngọc
Sơn, 2012).
3
Về câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu ở trên thì đề tài cần trả lời được những câu hỏi sau: Một là, Nghèo
đa chiều của các hộ dân tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên
Giang hiện nay chịu tác động bởi những nhân tố nào?
Hai là, Mức độ tác động của các nhân tố đó đối với tình trạng nghèo đa chiều của các
hộ dân tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang như thế nào?
Ba là, Các chính sách giúp các hộ dân tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang thoát
nghèo bền vững?
1.3.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều của các hộ
dân tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Đối tượng khảo sát: các hộ dân nghèo tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
1.4.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về phạm vi không gian: đề tài thực hiện nghiên cứu và khảo sát trên địa bàn huyện
Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Về phạm vi thời gian: đề tài thực hiện khảo sát các hộ dân tại huyện Tân Hiệp, Kiên
Giang từ tháng 11/2016 đến hết tháng 1/2017.
1.5.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết
nghiên cứu. Ngoài ra, thảo luận kết quả nghiên cứu cũng được tác giả trình bày trong chương
này.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
Trong chương này, tác giả trình bày một số hàm ý chính sách giúp hộ dân thoát nghèo
bền vững dựa trên kết quả nghiên cứu có được từ chương 4. Ngoài ra, chương này tác giả
cũng trình bày những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu những đề tài tiếp theo.
5
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO
2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO
2.1.1. Khái niệm
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen (Đan
Mạch) tháng 03/1995 cho rằng: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1
đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như mua đủ những sản phẩm thiết yếu
để tồn tại”.
Theo Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương (ESCAP, 1993) tổ chức tại Bangkok, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất
cao và cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
nhận”. Hội nghị đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương;
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Ngày 30 tháng 01 năm 2011, Quyết định Số 09/2011/QĐ-TTg ban hành chuẩn hộ
nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015:
-
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng
(từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
-
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng
(từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Bảng tổng hợp về chuẩn nghèo của Việt Nam được trình bày như bảng 2.1.
7
Bảng 2.1: Chuẩn nghèo của Chính phủ Việt Nam quy định
Đơn vị tính: đồng/người/tháng
Giai đoạn
Thành thị
Nông thôn
Bình Dương (ESCAP, 1993) tổ chức tại Bangkok, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất
cao và cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
nhận”. Hội nghị đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức
thu nhập của họ hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được
quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một thời gian nhất định (Đinh Phi
Hổ và cộng sự, 2006).
Nghèo tương đối: Là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm
người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định
(Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006).
2.1.3. Thước đo nghèo
Chỉ số nghèo (poverty index) là số người (tỷ lệ) hoặc số hộ (tỷ lệ) có thu nhập hoặc chi
tiêu không bảo đảm được mức sống tối thiểu.
8
Ip
H
(100)
N
Trong đó: Ip: chỉ số nghèo (%); H: số người/hộ nghèo; N: Tổng số người dân/hộ. Chỉ số
nghèo càng lớn, tình trạng nghèo càng nghiêm trọng.
sống (1/3)
3.3 Nước uống hợp vệ sinh (1/18)
3.4 Sàn nhà (1/18)
3.5 Nhiên liệu nấu ăn (1/18)
3.6 Sở hữu tài sản (1/18)
Nguồn: Báo cáo phát triển con người (UNDP, 2010)
9
Tổng điểm thiếu hụt của hộ gia đình:
TDTH
=
(1/6*GD1
+1/6*GD2)
+
(1/6*YTE1
+
1/6*YTE2)
+
dụng chỉ số nghèo đa chiều MPI bao gồm tám chiều đo lường và 21 chỉ báo với trọng số
ngang bằng nhau. Báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số
nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm các khía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước
sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được
xã hội bảo vệ.
Ngoài ra, UNDP (2011) đã công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm
2011 cho Việt Nam trong đó áp dụng so sánh ba phương pháp đo lường là nghèo tiền tệ, HPI
và MPI. Chỉ số nghèo đa chiều MPI được UNDP xây dựng dựa trên ba thước đo (chiều) là y
tế, giáo dục và mức sống, được đại diện bằng chín chỉ tiêu: 1) hộ phải bán tài sản, vay nợ để
trả phí chăm sóc y tế hoặc ngưng chữa trị; 2) thành viên hộ chưa hoàn thành bậc tiểu học; 3)
trẻ em trong độ tuổi đi học không đến trường; 4) sử dụng điện thắp sáng; 5) tiếp cận nước
uống sạch; 6) tiếp cận vệ sinh; 7) tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn; 8) sống ở nhà cố định; và 9)
có sở hữu tài sản lâu bền.
Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây dựng các
chỉ số đo lường nghèo đa chiều. Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là Chỉ số nghèo con người
(Human Poverty Index - HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người
(Human Development Index - HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và Chỉ số nghèo đa chiều
(Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên
phương pháp luận của Alkire và Foster (2007).
Tại Việt Nam, Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Chuẩn
nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì các tiêu chí tiếp cận đo lường
nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
11
Về các tiêu chí thu nhập
- Chuẩn
nghèo:
hụt của tất cả các chỉ số sẽ cộng thành điểm thiếu hụt chung của hộ gia đình. Nếu điểm thiếu
hụt chung này nhiều hơn ngưỡng thiếu hụt chung thì hộ sẽ bị coi là thiếu hụt các nhu cầu cơ
bản.
Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ
gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Chỉ số nghèo đa chiều toàn cầu (MPI) quy định ngưỡng thiếu hụt đối với một hộ gia đình là
thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên. Tại Việt Nam, cũng đã đề xuất ngưỡng thiếu hụt đối
với một hộ gia đình là thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là
mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt các
nhu cầu cơ bản. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều sẽ không thay đổi trong thời gian
12
nhất định (5 năm), không phụ thuộc khả năng ngân sách, không thay đổi khi thay đổi mục
tiêu hay khi tình hình thay đổi do tác động chính sách.
Bảng 2.3. Tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam
Chiều nghèo
Chỉ số đo lường
Ngưỡng thiếu hụt
1.1. Trình độ giáo dục
của người lớn (10)
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15
tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt
nghiệp Trung học cơ sở và hiện không đi
học
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6
tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y
tế
Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên
3.1. Chất lượng nhà ở
(10)
cố hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4
cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà
thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)
3) Nhà ở
3.2. Diện tích nhà ở bình
quân đầu người (10)
Diện tích nhà ở bình quân đầu người của
hộ gia đình nhỏ hơn 8m2
4) Điều kiện
4.1 Nguồn nước
Hộ gia đình không được tiếp cận
13
sống
sinh hoạt (10)
2.2. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGHÈO
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Ayalneh Bogale và cộng sự (2005), Minot
và cộng sự (2006), Wang và cộng sự (2007), Đinh Phi Hổ và cộng sự (2007), Olorusanya và
Omotesho (2014) đã chỉ ra 09 yếu tố tác động đến nghèo. Cụ thể:
Nghèo đa chiều
Đối với cách tính nghèo đa chiều mà Bộ lao động thương binh và xã hội đang áp dụng
thí điểm ở Việt Nam dựa trên cơ sở 3 chiều y tế, giáo dục và mức sống mà Alkire and Santos
(2010) đã đề xuất và UNDP đã đề nghị ứng dụng rộng rãi trên thế giới từ năm (2013), nhưng
bộ Bộ lao động thương binh và xã hội đã chia chiều mức sống ra làm 3 chiều đó là: Nhà ở,
điều kiện sống và tiếp cận thông tin; 3 chiều này ứng với 6 chỉ tiêu. Để thống nhất cách tính
như trên thế giới, thì 3 chiều là phù hợp và các chỉ tiêu trong mỗi chiều có thể áp dụng của
VN để dễ dàng đo lường được phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, tác giả chọn khung phân
tích đo lường nghèo đa chiều áp dụng trong nghiên cứu của luận văn: 3 chiều và 10 chỉ tiêu.
14
Bảng 2.3. Chiều và chỉ tiêu của nghèo đa chiều
Chiều
Giáo dục
(1/3)
Y tế
(1/3)
Chỉ tiêu
Chuẩn nghèo
Trong hộ gia đình có bất kỳ trẻ em nào ở tuổi
đi học mà không đến trường (Lớp 1 - 8)
Tỷ trọng
trong
MPI
(1/3)(1/2)=
1/6
(1/3)(1/2)=
1/6
Trong hộ có bất kỳ trẻ em hay người lớn
nào bị suy dinh dưỡng
(1/3)(1/2)=
1/6
Trong hộ không có bất kỳ trẻ em hay người
lớn nào khám sức khỏe định kỳ
(1/3)(1/2)=
1/6
Hộ gia đình không có điện
Hộ gia đình không toilet hoặc toilet
chung
Hộ gia đình không tiếp cân được nguồn nước
sạch hoặc nguồn nước sạch xa hơn 30 phút đi
bộ (cả đi lẫn về)
đạp, xe máy, thuyền có động cơ
(1/3)(1/6)=
1/18
Tuổi của chủ hộ (Age of household head)
Nghiên cứu của tác giả Ayalneh Bogale và cộng sự (2005), Olorusanya và Omotesho
(2014) đều cho thấy: tuổi của người đứng đầu chủ hộ là một yếu tố
15
tác động đến tình trạng nghèo của hộ. Kết quả nghiên cứu của tác giả Ayalneh Bogale và cộng
sự (2005) cho thấy tuổi của chủ hộ là yếu tố có tác động ngược chiều với tình trạng nghèo của
các hộ. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Olorusanya và Omotesho (2014) lại cho kết quả trái
ngược, tức là tuổi của chủ hộ lại có tác động cùng chiều với tình trạng nghèo của hộ. Vì vậy,
tác giả đưa ra giả thuyết H1 như sau:
H1: Tuổi của người đứng đầu hộ có tác động đến tình trạng nghèo của hộ (kỳ vọng
+/-)
Trình độ văn hóa (Education)
Nghiên cứu của tác giả Ayalneh Bogale và cộng sự (2005), Minot và cộng sự (2006),
Đinh Phi Hổ và cộng sự (2007), Wang và cộng sự (2007), và Olorusanya và Omotesho (2014)
đều thống nhất cho rằng trình độ văn hóa của chủ hộ là yếu tố có tác động đến tình trạng
nghèo của các hộ. Đinh Phi Hổ (2012) cho rằng vì không đủ tiền cho việc trang trãi học phí
học tập nên các hộ gia đình thường có xu hướng cho con cái của họ bỏ học rất sớm, thậm chí
không đi học, thêm vào đó, người nghèo không những thiếu hiểu biết mà còn thiếu khả năng
tiếp thu kiến thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động kinh tế và hệ quả là rơi vào cái bẫy: ít
học – nghèo. Chính vì vậy, tác giả đưa ra giả thuyết H2 như sau:
H2: Trình độ văn hóa có tác động đến tình trạng nghèo của các hộ gia đình (kỳ vọng )
Quy mô hộ (Household size)
Nghiên cứu của tác giả Ayalneh Bogale và cộng sự (2005), Minot và cộng sự (2006),