BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------
NGUYỄN QUỐC NAM
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH
KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------------
NGUYỄN QUỐC NAM
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH
KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG,
ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU........................................................................................2
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .........................................................2
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................... 2
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................... 2
1.5. KẾT CẤU LUẬN VĂN ..........................................................................................2
CHƯƠNG 2. KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGIỆP CỦA SINH VIÊN ............................4
2.1. LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP ...........................................................................4
2.1.1. Khởi nghiệp .................................................................................................................. 4
2.1.2. Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp.................................................... 5
2.1.3. Khởi nghiệp sinh viên................................................................................................... 7
2.1.4. Ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế ..................................... 8
2.2. MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI .................9
2.2.1. Mô hình sự kiện kinh doanh (The Entrepreneurial Event Model) của Shapero ........... 9
Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero ............................................... 10
2.2.2. Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) của
Fishbein ................................................................................................................................ 10
Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein. ........................................... 10
Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975. ......................................................................................... 10
2.2.3. Mô hình Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (The Theory of Planned Behavior – TPB)
của Ajzen .............................................................................................................................. 10
Sơ đồ 2.3: Mô hình Lý thuyết về hành vi theo kế hoạch của Ajzen..................................... 11
2.3. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN .......................................................................11
2.3.1. Nghiên cứu ngoài nước .............................................................................................. 11
2.3.2. Nghiên cứu trong nước ............................................................................................... 12
4.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân .................. 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ..............................................................................................38
CHƯƠNG 5 ...................................................................................................................39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH .............................................................39
5.1. KẾT LUẬN ............................................................................................................39
5.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH..........................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
DANH MỤC VIẾT TẮT
HSSV
Học sinh sinh viên
EFA
Phân tích nhân tố khám phá
ĐH
Đại học
CĐ
Cao đẳng
Sự đam mê
YDKN
Ý định khởi nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Tổng hợp thang đo
17
Bảng 4.1: Ngành theo học
28
Bảng 4.2: Năm đi học
29
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha
30
Bảng 4.4: Ma trận xoay nhân tố lần 1
32
Bảng 4.5: Kiểm định KMO and Bartlett lần 2
Bảng 4.13: Phân tích phương sai ANOVA trong phân tích hồi quy
37
Bảng 4.14: Kết quả hồi quy
37
Bảng 4.15: Mô tả các biến
38
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero
9
Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein
10
Sơ đồ 2.3: Mô hình Lý thuyết về hành vi theo kế hoạch của Ajzen
11
Hình 3.1 : Mô hình nghiên cứu
15
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui, phân tích mối
liên hệ giữa các nhân tố độc lập với nhân tố phụ thuộc. Qua kết quả nghiên cứu ở phần
trên chúng ta thấy rằng có 06 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của HSSV
các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thì trong đó có 04 nhân tố
được xác định là có ảnh hưởng lớn nhất, đó là: sự đam mê, môi trường giáo dục, hỗ trợ
khởi nghiệp và nguồn vốn. Trong đó, nhân tố sự đam mê và môi trường giáo dục có tác
động mạnh nhất ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của HSSV tại các trường
này.
Vì vậy, nhằm đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp trong HSSV trong thời gian tới,
nhà nước và nhà trường cần có những chính sách cụ thể để tạo môi trường khởi nghiệp
phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu.
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm vừa qua, kinh tế nước ta đã phải đối mặt với nhiều thách thức
lớn của lạm phát và khủng hoảng kinh tế thế giới. Kinh tế suy thoái có ảnh hưởng
không ít đến vấn đề việc làm và khởi nghiệp của tư nhân nói chung và của thanh niên
nói riêng. Gần đây, vấn đề cần quan tâm giải quyết hàng đầu của kinh tế Việt Nam
chính là tình trạng thất nghiệp, mất việc làm, thu nhập của người dân giảm sút. Khi
ngày càng nhiều sinh viên ra trường không có việc làm, thì khởi nghiệp là sự lựa chọn
duy nhất cho những ai muốn thay đổi hoàn cảnh, tìm đến sự tự do trong công việc.
Tỷ lệ khởi nghiệp trong tổng dân số Việt Nam chỉ khoảng 2%, thấp hơn nhiều
so với tỷ lệ trung bình của thế giới là 12%. Khởi nghiệp tại Việt Nam dựa chủ yếu vào
vốn của mình, vốn vay bạn bè, các tổ chức tín dụng. Ở các nước phát triển, khi người
ta có ý tưởng, các quỹ đầu tư tài chính sẽ thẩm định và phân tích, sau đó dành khoản
phát huy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Đề xuất các chính sách giúp các trường CĐ, ĐH và DN hỗ trợ cho sinh viên phát
huy tinh thần, sáng tạo khởi nghiệp.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường CĐ, ĐH
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay?
Mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các
trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang như thế nào?
Chính sách gì giúp các trường CĐ, ĐH và DN hỗ trợ cho sinh viên phát huy tinh
thần, sáng tạo khởi nghiệp?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: được thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo của các trường CĐ, ĐH và báo
cáo của UBND tỉnh Kiên Giang năm 2016.
Dữ liệu sơ cấp: thu thập từ các phiếu khảo sát sinh viên. Thời gian thực hiện:
tháng 12 năm 2016.
Entrepreneurship (hay startup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa
là sự đảm đương.
Định nghĩa khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà
nghiên cứu khác nhau. Theo Richard (1734), khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh
nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào. Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được
hoàn thiện hơn và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và
người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Cole (1949) định nghĩa
khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm
xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp. Penrose (1959) hay Stevenson và Jarillo
(1990) đều cho rằng, hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp là một quá trình mà cá nhân
khởi nghiệp xác định rõ và biết theo đuổi, nắm lấy những cơ hội trong nền kinh tế.
Trong khi đó Drucker (1985) khẳng định hoạt động này bao hàm ba yếu tố cơ bản như
sự cải tiến, sự chấp nhận rủi ro và sự chủ động. Theo Stevenson (1989), khởi nghiệp là
"quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển
ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện
việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp". Rabboir (1995) - trích trong Schnurr
và Newing (1997) đã liệt kê ra 20 định nghĩa cho khởi nghiệp từ các nghiên cứu khác
nhau về đề tài này. Khởi nghiệp trẻ, theo Schnurr và Newing (1997), được định nghĩa
là "ứng dụng thực tế các phẩm chất của doanh nhân, ví dụ như sáng kiến, đổi mới,
sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc (hoặc tự khởi nghiệp việc làm hoặc
việc làm trong các công ty nhỏ mới thành lập), sử dụng các kỹ năng thích hợp để thành
công trong môi trường làm việc.
5
Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng
được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt
động kinh tế bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và/hoặc sự cải tiến
trong một tổ chức mới đang tồn tại” - theo Ủy ban cộng đồng Châu Âu (2003). Oviatt
lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị
công việc kinh doanh có tính rủi ro.
Theo nghiên cứu gần đây của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp luôn cố
gắng để phát hiện cơ hội đổi mới sản phẩm hoặc cải tiến các sản phẩm hiện có để kiếm
được lợi nhuận. Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông
rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình.
Từ những định nghĩa nói trên có thể thấy rõ phần lớn các nhà nghiên cứu đều
cho rằng người khởi nghiệp bao hàm những đặc trưng sau đây: sáng tạo, có xu hướng
tìm đến sự cải tiến, nhạy bén trong việc nắm bắt những cơ hội kinh doanh và biết chấp
nhận rủi ro. Người khởi nghiệp thay vì làm thuê cho một doanh nghiệp, họ thích tự
làm chủ công việc kinh doanh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hưởng mọi lợi nhuận
thu được. Họ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế bởi những kĩ năng và sáng
kiến cùng sự sáng tạo của họ. Tuy nhiên, một người có sẵn tố chất khởi nghiệp cũng
chưa đủ để thành công mà cần phải có một chính sách kinh tế phù hợp và thuận lợi,
một chiến lược ổn định và sáng suốt. Khởi nghiệp gắn liền với việc tạo ra của cải vật
chất cho xã hội là công việc có ý nghĩa đối với người thích thách thức và là cơ hội phát
huy tính sáng tạo.
Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh là những người biết nắm bắt
các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích thách thức,
chấp nhận sự rủi ro và mạo hiểm. Krueger và Brazeal (1994) cho rằng các doanh nhân
tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động khi họ thấy
tín hiệu của cơ hội kinh doanh. Theo Begley và Tan (2001) những cá nhân có tiềm
năng khởi nghiệp là những người chưa từng khởi nghiệp và họ khao khát và có niềm
tin vào khả năng thành công khi khởi nghiệp.
Tuy các định nghĩa trên khác nhau nhưng đều thống nhất rằng khởi nghiệp cần
có sự chuẩn bị từ trước chứ không hoàn toàn là bẩm sinh. Một cá nhân có tố chất khởi
nghiệp chưa chắc đã thành công trong việc khởi nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Theo các nhà nghiên cứu, cá nhân có tiềm năng
khởi nghiệp là những cá nhân sở hữu các đặc điểm tính cách riêng (sáng tạo, mạo
hiểm, chấp nhận rủi ro). Với những tính cách đặc điểm khác nhau sẽ có tiềm năng khởi
Khởi nghiệp của sinh viên có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, đối tượng khởi nghiệp có sức trẻ, sức khỏe, có trí sáng tạo và ham
muốn khởi nghiệp. Đây là đặc điểm chung giữa khởi nghiệp của sinh viên với khởi
nghiệp của giới trẻ.
8
Thứ hai, sinh viên là những người được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên
sâu về ngành mình chọn và được rèn luyện những kĩ năng cần thiết ở đại học.
Thứ ba, sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc bởi họ là những người
trẻ tuổi, chưa được va chạm và trải nghiệm nhiều cuộc sống kinh doanh.
Thứ tư, hầu hết các sinh viên tham gia khởi nghiệp là muốn thể hiện mình, thử
sức mà chưa nghĩ kĩ về ngành nghề kinh doanh cũng như định hướng phát triển trong
tương lai.
Thứ năm, sinh viên thường thiếu sót trong việc nghiên cứu thị trường. Phần
lớn, sinh viên khởi nghiệp thường chọn mặt hàng kinh doanh rồi mới nghiên cứu thị
trường. Vì vậy có thể mặt hàng họ chọn không phù hợp với thị hiếu của khách hàng
dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh.
Thứ sáu, sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung đều gặp phải khó khăn khi
khởi nghiệp là nguồn vốn còn hạn chế; tiếp cận với khởi nghiệp như một sự thử sức
chứ chưa có định hướng, kế hoạch rõ ràng; phản ứng trước sự thay đổi của thị trường
và những khó khăn vướng mắc trong quá trình kinh doanh còn kém.
2.1.4. Ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế
Tạo việc làm cho người lao động và tăng chất lượng cuộc sống: mức độ sử
dụng lao động tăng có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có dân số đông,
chịu sức ép của dân số và vấn đề việc làm dẫn đến hiện tượng di cư vào đô thị. Các
doanh nghiệp thu hút nhiều việc làm, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường, thu hút
người lao động nhàn rỗi nhất là ở nông thôn. Từ giải quyết vấn đề việc làm, nhiều
doanh nghiệp nhỏ xuất hiện sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm thiểu đói
2.2. MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI
2.2.1. Mô hình sự kiện kinh doanh (The Entrepreneurial Event Model) của
Shapero
Mô hình này xem xét việc kinh doanh là một sự kiện có thể được giải thích
bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và rủi ro.
Theo mô hình này, ý định kinh doanh phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) sự ham muốn kinh
doanh, (2) xu hướng hành động, và (3) sự sẵn sàng kinh doanh.
10
Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero
Nguồn: Krueger và Carsrud, 1993; Summers 1998; Krueger và ctg 2000 và Fayolle,
2000.
2.2.2. Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)
của Fishbein
Mô hình TRA được áp dụng cho các nghiên cứu thái độ và hành vi, mô hình
này cho thấy được ý định hành vi là yếu tố tốt nhất để xác định được hành vi. Theo
Fishbein (1967), yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý
định hành vi. Ý định của con người nhằm thực hiện hành vi bị tác động bởi thái độ và
quy chuẩn chủ quan. Thái độ đối với một hành động là bạn cảm thấy như thế nào khi
làm một việc gì đó. Quy chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn
làm việc đó (gia đình, bạn bè,…). Lý thuyết cho rằng các yếu tố ngoại vi có thể ảnh
hưởng gián tiếp đến ý định thông qua hai yếu tố chính trên.
Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein.
Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975
11
viên trong gia đình, đặc điểm cá nhân là các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh
của sinh viên kinh tế ở Maylaysia.
Abdullah Azhar và ctg (2010) nghiên cứu chủ đề “Entrepreneurial Intentions
among Business Students in Pakistan”, Journal of Business Systems, Governance and
Ethics, Vol. 5, No. 2. Nghiên cứu tập trung chính vào việc đo lường các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế ở Pakistan. Dữ liệu được thu thập
thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert, phương pháp chọn mẫu phân tầng, cỡ
mẫu là 376, đối tượng mục tiêu là sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh và những
doanh nhân mới. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy
thang đo Cronbach’s Alpha, sử dụng hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy để
xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các yếu tố nhân khẩu học như giới tính,
tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục và công việc của gia đình; các yếu tố hành vi
như sự thu hút chuyên nghiệp (Professional Attraction), năng lực kinh doanh, đánh giá
xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến
ý định kinh doanh. Trong đó, sự thu hút chuyên nghiệp có tác động mạnh mẽ nhất đến
ý định kinh doanh.
Wenjun Wang và ctg (2011) với nghiên cứu “Determinants of Entrepreneurial
Intention among College Students in China and USA”, Journal of Global
Entrepreneurship Research, Winter & Spring, 2011, Vol. 1, No. 1, pp.35-44. Mục tiêu
của nghiên cứu là tập trung so sánh các yếu tố quyết định ý định kinh doanh của sinh
viên Trung Quốc và Mỹ. Thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi sử dụng thang đo
Likert 5 điểm đối với 399 sinh viên của 3 trường ĐH ở Trung Quốc, 4 trường ở Mỹ và
sử dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha,
các công cụ kiểm định để xử lý số liệu. Kết quả phân tích cho thấy sự ham muốn kinh
doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý
định kinh doanh ở cả hai nước. Ngoài ra, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức
kinh doanh (entrepreneurial personality) cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định kinh
doanh. Tuy nhiên, nếu như ở Trung Quốc kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp
cũng như gián tiếp tới ý định kinh doanh thì ở Mỹ nhân tố này không có ảnh hưởng.
thuyết nghiên cứu; phân tích mô tả được dùng để mô tả, giải thích các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng
đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA là: đặc điểm cá nhân, nguồn vốn cho
khởi nghiệp, động cơ đẩy, hỗ trợ từ gia đình, động cơ kéo và rào cản gia đình; trong đó
tác động mạnh nhất là yếu tố đặc điểm cá nhân. Đây là điểm mà các nhà hoạch định
chính sách chính phủ, các tổ chức xã hội và các cá nhân quan tâm để đề ra các đường
lối đúng đắn trong việc thúc đẩy khởi nghiệp từ một nguồn lực là các nữ học viên
14
MBA, gia tăng lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát triển kinh tế quốc
gia.
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng
đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các
trường đại học/cao đẳng trên địa bàn Thành phố Cần Thơ”. Dữ liệu nghiên cứu thu
thập từ 400 sinh viên ngành QTKD tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành
phố. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 7 nhân tố tác động đến ý định KSDN bao gồm
giáo dục, quy chuẩn chủ quan, kinh nghiệm làm việc, thái độ, nguồn vốn, sẵn sàng
kinh doanh và sự đam mê kinh doanh. Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha,
phương pháp phân tích nhân tố khám khá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử
dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 nhân tố tác động đến
ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD bao gồm thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng
kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục. Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có
tác động mạnh đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD.
Các nghiên cứu trên ban đầu đã xác định được ý định khởi nghiệp của sinh
viên. Tuy nhiên, vẫn còn phạm vi hẹp ở một khối ngành nhất định. Tác giả chưa tìm
thấy các nghiên cứu đến vấn đề phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của sinh
viên trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Sự đam mê
Nguồn vốn
Nhu cầu thành đạt
Hỗ trợ khởi nghiệp
Sơ đồ 3.1 : Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Theo đề xuất của tác giả, 2016