BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN PHONG THƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ Y TẾ XÃ VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA TRẠM Y TẾ XÃ,
HUYỆN THÁP MƯỜI,
TỈNH ĐỒNG THÁP, NĂM 2016
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
HÀ NỘI - 2016
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN PHONG THƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ Y TẾ XÃ VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA TRẠM Y TẾ XÃ,
HUYỆN THÁP MƯỜI,
TỈNH ĐỒNG THÁP, NĂM 2016
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .........................................................................4
1.1. Tổng quan về YTCS.........................................................................................4
1.2. Thực trạng tổ chức mạng lưới và cung ứng dịch vụ YTCS .............................8
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện bộ tiêu chí quốc gia ................12
1.4. Các nghiên cứu và đánh giá thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã ..........17
1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu ...................................................................22
1.6. Các văn bản pháp lý liên quan đến việc thực hiện các tiêu chí quốc gia về y
tế xã. ......................................................................................................................23
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................................................26
2.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................26
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................26
2.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................26
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu................................................................26
2.5. Phương pháp thu thập số liệu .........................................................................27
2.6. Các biến số nghiên cứu ..................................................................................28
2.7. Xử lý số liệu ...................................................................................................29
2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ...............................................29
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ..................................................................29
2.9. Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục ....................................30
Chương 3: KẾT QUẢ ...............................................................................................31
ii
3.1. Kết quả việc thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã của huyện Tháp Mười,
tỉnh Đồng Tháp, 6 tháng đầu năm 2016. ...............................................................31
Ban chỉ đạo
BHYT
Bảo hiểm Y tế
BKLN
Bệnh không lây nhiễm
BS
Bác sĩ
CBDS
Cán bộ dân số
CBYT
Cán bộ Y tế
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
CSSKBĐ
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Giáo dục sức khỏe
HGĐ
Hộ gia đình
KCB
Khám chữa bệnh
KHHGĐ
Kế hoạch hóa Gia đình
NHS
Nữ hộ sinh
NVYT
Nhân viên Y tế
PHCN
Phục hồi chức năng
PKĐK
Phòng khám đa khoa
Trung tâm Y tế
TYT
Trạm Y tế
UBND
Ủy ban nhân dân
VSATTP
Vệ sinh an toàn thực phẩm
VSMT
Vệ sinh môi trường
YHCT
Y học cổ truyền
YSSN
Y sĩ sản nhi
YS
Y sĩ
Bảng 3. 17. Đánh giá của NVYT về TTB .................................................................47
Bảng 3. 18. Đánh giá của NVYT về thông tin y tế ...................................................48
Bảng 3. 19. Đánh giá của CBYT xã về mức độ ảnh hưởng của chính sách – qui định
đến hoạt động TYT ...................................................................................................49
Bảng 3. 20. Đánh giá của NVYT về đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội liên quan
CSSK .........................................................................................................................50
vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Để tiếp tục phát triển Y tế tuyến xã, năm 2014 Bộ Y tế đã ban hành quyết định
sửa đổi Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2011-2020. Qua hơn 2 năm thực
hiện huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cũng gặp không ít khó khăn. Do đó, nghiên
cứu “Đánh giá kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã và một số yếu tố
ảnh hưởng đến hoạt động của trạm y tế xã, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng
Tháp, năm 2016” được tiến hành nhằm mô tả kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc
gia về y tế xã và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kểt quả hoạt động của trạm
y tế (TYT). Kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp từng bước tiếp tục cải thiện hoạt động
của TYT xã huyện Tháp Mười phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân
(CSSKND).
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định
tính. Số liệu định lượng được thu thập qua bảng kiểm và khảo sát ý kiến của toàn bộ
107 cán bộ của 13 TYT của huyện Tháp Mười. Số liệu được nhập bằng phần mềm
Epi Data 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Số liệu định tính thu thập qua
phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với lãnh đạo UBND huyện; UBND xã, Phòng y tế,
TTYT, và nhân viên TYT, tổng số 45 người, thông tin thu thập được gỡ băng và mã
hóa theo chủ đề
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi tổng hợp điểm chung của tất cả 10 tiêu chí 13
TYT đều đạt chuẩn quốc gia, với số điểm thấp nhất là 90/100 và cao nhất là 94/100
Chính phủ đã nêu rõ: “Y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân,
nằm trong hệ thống Y tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật
chăm sóc sức khỏe (CSSK), phát hiện dịch sớm, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông
thường, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình
(KHHGĐ), vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khỏe”, đó là mục tiêu và cũng là
chiến lược trong công tác CSSKND của Đảng và Nhà nước ta.
Theo mô hình chung tổ chức bộ máy Y tế Việt Nam thì Y tế xã đóng vai trò rất
quan trọng, không thể thiếu được, là nơi triển khai thực hiện nhiều nội dung trong
công tác CSSK, quản lý sức khỏe (QLSK) người dân tại địa phương, giúp họ tự
CSSK tại gia đình, ngoài ra Y tế xã còn là nơi phối hợp trực tiếp với các ban ngành
đoàn thể tại địa phương để thực hiện công tác CSSKBĐ, truyền thông giáo dục sức
khỏe (TT-GDSK) rất hiệu quả. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, nhất là vùng
Đồng bằng sông Cửu Long nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, ở vùng nông thôn
người nông dân chiếm đa số, do đó đối tượng mà Y tế xã phục vụ nhiều nhất vẫn là
nông dân. Hiện nay các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã được Đảng và Nhà
nước quan tâm đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng, tuy nhiên so với thành thị thì nông
thôn vẫn còn nhiều khó khăn như: nước sạch, vệ sinh môi trường (VSMT), thiếu hệ
thống cung cấp thông tin… đó là những vấn đề có liên quan đến những hạn chế
trong công tác CSSKND tại địa phương, nâng cao trách nhiệm của Y tế xã hơn nữa
trong công tác CSSKBĐ trong thời gian tới.
Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010-2020 [32]; Bộ Y tế ban hành Quyết định 4667/QĐ-BYT ngày 07/11/2014 sửa
đổi Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2011-2020 để phát triển Y tế tuyến xã
trong thời gian tới phù hợp với nhu cầu CSSKND ở từng vùng miền, khu vực, đồng
thời đảm bảo hiệu quả nguồn lực Y tế [10].
2
sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm dịch bệnh, xử trí ban đầu và điều trị kịp thời
các bệnh thông thường; vận động nhân dân thực hiện công tác kế hoạch hoá gia
đình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khoẻ.
1.1.2. Khái niệm về YTCS
YTCS là mạng lưới bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã bao
gồm cả y tế công lập và y tế tư nhân. Đó là hệ thống các tổ chức, thiết chế y tế trên
địa bàn huyện, có sự kết nối hữu cơ giữa các cơ sở y tế tuyến xã với tuyến huyện, để
thực hiện CSSK dựa trên những nguyên tắc và giá trị của CSSKBĐ [14]
1.1.3. Phân vùng TYT
+ Vùng 1:
- Xã đồng bằng, trung du có khoảng cách từ TYT đến bệnh viện, TTYT hoặc
PKĐK khu vực gần nhất
- Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng (PHCN) theo phân tuyến
kỹ thuật và phạm vi hoạt động chuyên môn theo quy định của pháp luật;
- Kết hợp YHCT với y học hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh bằng các
phương pháp dùng thuốc và các phương pháp không dùng thuốc; ứng dụng, kế thừa
kinh nghiệm, bài thuốc, phương pháp điều trị hiệu quả, bảo tồn cây thuốc quý tại địa
phương trong CSSKND;
- Tham gia khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự.
Về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS):
- Triển khai các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về quản lý thai; hỗ trợ đẻ và đỡ
đẻ thường;
- Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em theo
phân tuyến kỹ thuật và phạm vi hoạt động chuyên môn theo quy định của pháp luật.
Về cung ứng thuốc thiết yếu:
- Quản lý các nguồn thuốc, vắc xin được giao theo quy định;
- Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả;
- Phát triển vườn thuốc nam mẫu phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.
Về QLSK cộng đồng:
- Triển khai việc QLSK HGĐ, người cao tuổi, các trường hợp mắc bệnh truyền
nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân, BKLN, bệnh mạn tính;
- Phối hợp thực hiện QLSK học đường.
Về truyền thông, giáo dục sức khoẻ:
- Thực hiện cung cấp các thông tin liên quan đến bệnh, dịch; tiêm chủng; các vấn
đề có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và tuyên truyền biện pháp phòng,
chống;
- Tổ chức tuyên truyền, tư vấn, vận động quần chúng cùng tham gia thực hiện
công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân; công tác dân số - kế
hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ).
Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế (NVYT)
thôn, bản:
Thực hiện kết hợp quân – dân y theo tình hình thực tế ở địa phương.
Chịu trách nhiệm quản lý nhân lực, tài chính, tài sản của đơn vị theo phân công,
phân cấp và theo quy định của pháp luật.
Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật.
8
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc TTYT huyện và Chủ tịch Ủy ban
nhân dân (UBND) cấp xã giao [12]
1.2. Thực trạng tổ chức mạng lưới và cung ứng dịch vụ YTCS
+ Về tổ chức mạng lưới YTCS
Mạng lưới YTCS bao phủ rộng khắp với 460 trên tổng số 693 huyện, quận có mô
hình chia tách riêng BVĐK huyện và TTYT huyện chỉ thực hiện chức năng YTDP
và quản lý trực tiếp TYT xã. Có 233 TTYT huyện ở 19 tỉnh, thành phố thực hiện 2
chức năng YTDP và KCB. 668/693 huyện ở 62/63 tỉnh có Trung tâm DS-KHHGĐ,
chiếm 96,4%; 24/693 huyện ở 4/63 tỉnh đã thành lập chi cục VSATTP, chiếm 3,5%.
Trên toàn quốc, có 99% xã, phường, thị trấn đã có nhà trạm; 78% TYT xã có bác sĩ
làm việc (bao gồm cả các xã có bác sĩ làm việc từ 3 ngày/ tuần trở lên); 96% TYT
xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 78% thôn, bản, tổ dân phố trong cả nước đã có
NVYT hoạt động, trong đó tỉ lệ này là 95,9% số thôn, bản ở khu vực nông thôn,
miền núi
+ Về đầu tư phát triển cơ sở vật chất (CSVC) cho mạng lưới YTCS
Một số TYT xã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới từ nguồn ngân sách địa
phương, viện trợ (WB, ADB, EC, AP...) và gần đây là Chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng nông thôn mới. Cho đến nay, đã có 80% xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế
xã giai đoạn 2001 – 2010 và các địa phương đang tiếp tục thực hiện Bộ Tiêu chí
quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020 trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới và đã có 55% xã đạt tiêu chí này [11]
+ Nhân lực cho mạng lưới YTCS
tăng cường công tác trợ giúp người khuyết tật) đã góp phần nâng cao năng lực
tuyến YTCS và tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế của người dân ở những
vùng khó khăn. Giai đoạn từ 2004 đến nay, trong số trên 41 dự án ODA do Bộ Y tế
quản lý thì có 14 chương trình, dự án (3 dự án đã kết thúc) có các hoạt động đầu tư,
hỗ trợ lớn cho y tế tuyến cơ sở với tổng số kinh phí khoảng 329 triệu đô la Mỹ
(tương đương 6580 tỷ đồng). Trong số đó, có 5 dự án viện trợ không hoàn lại do
EC, Quỹ Toàn cầu và GAVI tài trợ, 9 dự án ODA vay WB và ADB. Các dự án tập
trung hỗ trợ cho các tỉnh thuộc các vùng kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đầu tư cho
YTCS còn yếu kém.
Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện bao phủ BHYT toàn dân trong đó
có việc hỗ trợ mua BHYT cho nhiều nhóm đối tượng góp phần đạt được tỉ lệ bao
phủ BHYT trên toàn quốc là 71% vào năm 2014, ước đạt 75,3% cuối năm 2015;
10
trong đó nhóm người nghèo, cận nghèo có BHYT chiếm tỉ lệ 26% tổng số người
tham gia BHYT [11].
Theo Quyết định số 797/2012/QĐ-TTg và Quyết định số 705/2013/QĐ-TTg,
mức hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc gia đình cận nghèo từ 50% được nâng lên
70% và người cận nghèo thuộc nhóm mới thoát nghèo trong 5 năm, người cận
nghèo sinh sống ở các huyện nghèo và huyện được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT.
+ Cung ứng dịch vụ trong mạng lưới YTCS
- Dịch vụ YTDP
Các dịch vụ CSSKBĐ được mở rộng tại các cơ sở y tế tuyến xã và huyện. Các
chương trình YTDP và các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai và
đạt những kết quả nhất định. Cụ thể là:
Chương trình phòng chống các dịch, bệnh lây nhiễm đã duy trì và kiểm soát tốt
các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, không để các vụ dịch bệnh lớn xảy ra. Đã đạt
được tất cả các chỉ tiêu chuyên môn về phòng chống lao theo kế hoạch đề ra; giảm
đạt mức kế hoạch đề ra vào thời điểm năm 2014 bao gồm tỉ lệ phụ nữ có thai được
quản lý thai là 96,4%; tỉ lệ phụ nữ đẻ được khám thai ≥ 3 lần trong 3 thời kỳ là
89,6%; tỉ lệ phụ nữ đẻ được tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván là 95,7%; tỉ lệ phụ
nữ đẻ do cán bộ được đào tạo hỗ trợ là 97,5%; tỉ lệ bà mẹ/trẻ sơ sinh được chăm sóc
sau sinh là 89,9%; tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể cân nặng/tuổi là
15,0%.
Công tác VSMT và nâng cao sức khỏe cũng đã được đưa vào các Chương trình
mục tiêu quốc gia như Chương trình nước sạch và VSMT nông thôn giai đoạn 2012
– 2015; Chương trình Quốc gia và Kế hoạch chương trình quốc gia về an toàn vệ
sinh lao động giai đoạn 2011 – 2015; Dự án vệ sinh nông thôn thuộc Chương trình
mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn giai đoạn 2012 – 2015.
- Dịch vụ khám chữa bệnh (KCB)
Người dân đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơn dịch vụ KCB tại mạng lưới YTCS,
nhờ việc thực hiện một số giải pháp nâng cấp và cải thiện về CSVC, TTB, tài chính.
Một số dịch vụ kỹ thuật, thuốc thuộc tuyến trên cũng đã dần được triển khai tới tận
tuyến huyện, xã. Kết quả là có sự gia tăng đáng kể việc sử dụng dịch vụ KCB tại
bệnh viện đa khoa huyện, PKĐK khu vực và TYT xã. Theo kết quả khảo sát mức
sống dân cư qua các năm, tỉ lệ lượt người sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú tại bệnh
viện đa khoa huyện năm 2010 là 17,6%, cao hơn so với tỉ lệ 11,9% vào năm 2004;
số lượt điều trị nội trú tại các bệnh viện đa khoa huyện đã gia tăng đạt tỉ lệ 38,2%
12
vào năm 2010, so với 35,4% vào năm 2004. Tuy nhiên, tại TYT xã, tỉ lệ lượt KCB
ngoại trú lại giảm từ 26% vào năm 2008 xuống 23,8% vào năm 2012
Tính đến năm 2014, đã triển khai KCB BHYT tại 80% tổng số TYT xã, tỉ lệ thẻ
BHYT đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh viện huyện chiếm
45% tổng số thẻ đăng ký KCB ban đầu [13]
Hoạt động KCB bằng YHCT tiếp tục phát triển. Năm 2014, các cơ sở KCB tuyến
Tổ chức cung ứng dịch vụ bị phân mảnh, chưa thực hiện tốt chăm sóc lồng ghép,
toàn diện và liên tục: thiếu liên kết và phối hợp giữa YTDP và KCB, giữa các tuyến
trong điều trị, giữa cơ sở y tế nhà nước và tư nhân. Thiếu cơ chế lồng ghép giữa các
chương trình mục tiêu y tế quốc gia, đặc biệt là các chương trình phòng chống các
BKLN. Việc thực hiện các hoạt động phòng chống BKLN được thực hiện theo
chương trình dọc và quản lý bởi các đầu mối khác nhau, không thống nhất ở các địa
phương, thiếu gắn kết giữa các cơ sở YTDP và cơ sở KCB, giữa các tuyến trong
phát hiện người bệnh, điều trị và quản lý người bệnh. Các BKLN chính có chung
các yếu tố nguy cơ, có chung nhiều giải pháp can thiệp để kiểm soát yếu tố nguy cơ
nhưng không có sự phối hợp, lồng ghép giữa các chương trình.
- Về nhân lực
Thiếu nhân lực và nhân lực chưa được đào tạo đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là đào
tạo trong lĩnh vực phòng chống và kiểm soát các BKLN. Các bệnh viện huyện và
TTYT thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn chuyên khoa sâu. Tỉ lệ NVYT thôn
bản được đào tạo theo quy định mới chỉ đạt ở mức khoảng 69%; số lượng cô đỡ
thôn bản mới đáp ứng được khoảng 1/5 nhu cầu thực tế tại các vùng khó khăn [35]
Mất cân đối trong phân bố nhân lực y tế giữa thành thị và nông thôn. Khu vực
nông thôn chiếm 72,6% tổng dân số, nhưng chỉ chiếm 41% số bác sĩ và 18% số
dược sĩ.
- Về tài chính
Thiếu hụt và mất cân đối trong phân bổ nguồn tài chính giữa tuyến trên và
YTCS. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ KCB BHYT tại tuyến xã, huyện là 72% nhưng tỷ
trọng sử dụng quỹ BHYT chỉ là 32%; trong khi con số tương ứng ở tuyến tỉnh và
trung ương là 28% và 68%. Ngân sách nhà nước không đủ để phân bổ theo định
mức và không phân bổ theo nhu cầu CSSK của người dân, mà phân bổ theo đầu vào
(Ngân sách cấp chỉ đáp ứng 82% tổng chi cho con người tại bệnh viện huyện; gần
30% TYT xã không được cấp đủ mức chi thường xuyên tối thiểu theo quy định).
Trong khi đó, định mức chi thường xuyên cho TYT xã theo Thông tư số
v.v…
15
Phương thức chi trả không khuyến khích năng suất và hiệu quả (từ nguồn ngân
sách cũng như từ BHYT): Việc áp dụng các phương thức chi trả tại tuyến YTCS
chưa phù hợp trong đó có những bất cập từ phương thức chi trả theo định suất, mức
chi trả cho cùng dịch vụ thuộc danh mục BHYT khác nhau giữa các tuyến. Phương
thức cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của các đơn vị y tế ở tuyến YTCS
chưa dựa trên nhu cầu CSSK và năng lực thực tế mà vẫn dựa trên số giường bệnh
(với bệnh viện) và số lượng nhân lực y tế (với YTDP).
Việc theo dõi, đánh giá tính chi phí hiệu quả chưa được thực hiện khi đầu tư các
TTB hoặc kỹ thuật mới tại các đơn vị tuyến YTCS nơi đang được xác định là tuyến
cung cấp chủ yếu các dịch vụ CSSKBĐ. Hiện nay, việc mở rộng đầu tư các TTB
đắt tiền như CT-Scanner, siêu âm màu 4D tại các BV huyện; máy siêu âm, điện tim
và xét nghiệm tự động tại các TYT xã đang được triển khai thực hiện ở nhiều địa
phương qua các chương trình dự án nhưng chưa thực hiện đánh giá về tính chi phí
hiệu quả, về các điều kiện và khả năng sử dụng có hiệu quả các TTBYT đó tại tuyến
YTCS là nơi phải ưu tiên cho các dịch vụ CSSKBĐ, phòng bệnh và nâng cao sức
khỏe.
- Về thuốc, TTB
Nhiều TYT không có đủ thuốc điều trị theo danh mục quy định. Nghiên cứu của
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế năm 2011 cho thấy TYT chỉ có được 30% số
thuốc thuộc nhóm thuốc cho CSSKSS. Việc cung ứng thuốc cho các TYT xã ở một
số tỉnh miền núi có nhiều bất cập, danh mục thuốc không bảo đảm, đặc biệt là các
thuốc, hóa chất cho phòng chống dịch. Có tới 44,9% TYT xã luôn thiếu thuốc trong
danh mục quy định, số thuốc thiếu trung bình là 5 loại thuốc.
TTB y tế tại nhiều TYT không đáp ứng nhu cầu CSSK. Theo báo cáo của Cục
Quản lý KCB (năm 2011), có tới 45,8% TYT thiếu TTB hoặc TTB cũ, hỏng không