Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ từ 6 24 tháng tuổi tại phòng khám dinh dưỡng bệnh viên nhi trung ương - Pdf 31

1

B GIO DC O TO
TRNG I HC Y H NI

B Y T

CHU TH PHNG MAI

ĐáNH GIá TìNH TRạNG DINH DƯỡNG Và
MộT Số YếU Tố ảNH HƯởNG ĐếN DINH DƯỡNG CủA TRẻ
Từ 6-24 THáNG TUổI TạI PHòNG KHáM DINH DƯỡNG
BệNH VIệN NHI TRUNG ƯƠNG

KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
Khúa: 2008 2014

Ngi hng dn khoa hc:
T.S NGUYN TH VIT H

H NI - 2014


2

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự
chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự động viên cổ vũ của gia đình và sự giúp
đỡ nhiệt tình của bạn bè. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi
lời cảm ơn tới:
-

Chu Thị Phương Mai


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
thu thập, kết quả nghiên cứu trong luận văn được tính toán trung thực, chính
xác và chưa được công bố trong bất kỳ công trình tài liệu nào khác.
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Chu Thị Phương Mai


4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC/T:

chiều cao/tuổi

CN/CC:

cân nặng/chiều cao

CN/T:

cân nặng/tuổi

CNSS:



UNICEF:

United Nations Children’s Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)

WHO:

World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)


5

MỤC LỤC


6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ


7

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể con người, đặc biệt
đối với trẻ em – một cơ thể đang lớn và phát triển. Dinh dưỡng không đầy đủ
sẽ dẫn đến hậu quả trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD). SDD là tình trạng cơ thể
thiếu protein – năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường gặp nhiều
nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở các mức độ khác nhau. Hậu quả là ảnh

giai đoạn hết sức quan trọng vì ở giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng của trẻ nhanh
nên nhu cầu dinh dưỡng cao, hơn nữa trẻ chuyển từ giai đoạn được nuôi hoàn
toàn bằng sữa mẹ sang ăn thức ăn bổ sung và dần thay thế các thức ăn giống như
người lớn, nên trẻ rất dễ mắc bệnh về dinh dưỡng. Nếu để trẻ bị SDD trong
những năm đầu đời này, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển trí tuệ và thể chất
của trẻ về sau. Tuy nhiên, những nghiên cứu về lứa tuổi 6 đến 24 tháng nói
chung và SDD ở lứa tuổi này nói riêng cho tới nay vẫn chưa nhiều.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài
"Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến dinh
dưỡng của trẻ từ 6 -24 tháng tuổi tại phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh
viên Nhi Trung ương" với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 - 24 tháng tuổi tại phòng
khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương.
2.

Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD ở trẻ từ 6 - 24
tháng tuổi.


9

Chương 1

TỔNG QUAN
1.1. Đại cương SDD
1.1.1. Khái niệm SDD:
SDD: Là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh
dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau,
nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và vận động của trẻ [40].
Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà SDD thể hiện các thể, mức

-

Năm 1927 Procter gọi là đứa trẻ đỏ (Enfant rouge), cho đến đầu những
năm 1930 Cicely Williams đã dùng thuật ngữ “Kwashiokor” để mô tả hội

-

chứng mà trước đó thường nhầm với bệnh Pellagra.
Năm 1959, Jellife đề nghị tên gọi “SDD protein – năng lượng” (Protein
Energy Malnutrition – PEM) vì thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa thể
phù và thể teo đét. Từ đó SDD protein - năng lượng được thay thế cho các
thuật ngữ trước.

1.1.3. Tình hình SDD trên thế giới và ở Việt Nam:
1.1.3.1. Tình hình SDD trên thế giới
Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực trong những năm gần đây
nhưng SDD vẫn là một trong những vấn đề y tế công cộng hàng đầu ở các
nước đang phát triển. Trên toàn thế giới SDD thấp còi vẫn tăng, ảnh hưởng
hơn 186 triệu trẻ dưới 5 tuổi [63]. Hơn 70% trẻ SDD sống ở châu Á, 26%
sống ở châu Phi, 4% sống ở châu Mỹ La Tinh và Caribê (WHO 2000) [70].
Mặc dù tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu giảm từ 25% năm 1990 đến
18% năm 2005, nhưng quá trình giảm không đồng đều. Ở một số nước, tỷ lệ
hiện mắc SDD đang tăng. Tại Bangladesk tỷ lệ SDD thể nhẹ cân năm 19912007 giảm từ 64% đến 41,3%, thể thấp còi từ 76,7% đến 43,2%. Tại
Indonesia trong giai đoạn 1990-2007 tỷ lệ SDD nhẹ cân giảm từ 31%-19,6%.
Thể thấp còi từ 42,4%-28,6% vào năm 2004 và tăng lên đến 40,1% vào năm
2007 [70]. Tại Trung Quốc từ năm 1992-2002 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 15,3%
giảm đến 6,8%, thấp còi từ 37,6%-21,8% [70]. SDD ảnh hưởng tới tất cả các
nhóm tuổi, nhưng phổ biến ở nhóm người nghèo và những người không tiếp
cận được đầy đủ với giáo dục y tế, nước sạch và hệ thống xử lý chất thải tốt
[63]. Không bú mẹ hoàn toàn đã được ước tính chịu trách nhiệm cho 1-4 triệu


Thể thấp còi

Thể gày còm

(Tỷ lệ %)
36,7
33,8
31,9
30,1
28,4
26,6
25,5
18,9
17,5

(Tỷ lệ %)
38,7
36,5
34,8
33,0
32,0
30,7
29,6
31,9
29,3

(Tỷ lệ %)
9,8
8,6

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ SDD theo tình trạng kinh tế xã hội [47]
SDD có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân.
Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao hơn vùng thành
thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình thường (14%).
Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (28,9%) cao hơn
vùng thành thị(19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so với vùng không
nghèo (25,6%) [47].
SDD ở trẻ em xuất hiện sớm ngay sau khi sinh, tuy nhiên tỷ lệ SDD ở nhóm
trẻ dưới 6 tháng là thấp nhất. Sau đó, tỷ lệ SDD tăng nhanh vào lúc trẻ từ 6 đến 24
tháng tuổi, do vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung chưa hợp lý. SDD thể
nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và đạt tỷ lệ
cao nhất lúc trẻ được 36 - 41 tháng tuổi. SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6
tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 đến 23 tháng và gần như đi ngang, thậm
chí giảm đi vào 54-59 tháng tuổi, như vậy những can thiệp sớm, ngay từ khi đẻ tới
dưới 24 tháng tuổi - giai đoạn bú mẹ và ăn bổ sung là rất cần thiết để góp phần
giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi [47].


13

Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 2 tuổi [47]
1.2. Nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD
1.2.1. Nguyên nhân SDD
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến SDD. Nguyên nhân trực tiếp là thiếu
thức ăn về số lượng, chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Nguyên nhân
tiềm tàng của SDD là do sự bất hợp lý trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em,
vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo vệ
sinh. Nguyên nhân cơ bản của SDD là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về sự phát
triển nói chung bao gồm sự mất bình đẳng về kinh tế [70].
Thiếu ăn, hay nói rộng hơn là đói nghèo, là một trong những nguyên

kỳ 6 tháng/lần có tác dụng cải thiện tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và thiếu
máu ở trẻ em [47].
Vấn đề về thực phẩm, sử dụng sữa mẹ, chăm sóc trẻ khi bị bệnh, tập
quán nuôi dưỡng trẻ... cũng ảnh hưởng tới thiện TTDD của trẻ. Sữa mẹ đóng
vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt sữa mẹ làm
giảm khả năng mắc bệnh của trẻ, nhất là các bệnh NKHHCT và tiêu chảy. Đối
với trẻ em ở lứa tuổi ăn bổ sung, thành phần dinh dưỡng, cách chế biến và
chăm sóc trẻ có ảnh hưởng rất nhiều đến thiện TTDD của trẻ.
Phạm Văn Hoan và cộng sự (1997-2000) khi nghiên cứu khu vực nông
thôn miền núi phía Bắc cho thấy các yếu tố: kinh tế gia đình nghèo, thiếu ăn, bố
mẹ là người dân tộc thiểu số, tình trạng thiếu năng lượng trường diễn của mẹ,
thời điểm ăn bổ sung trước 4 tháng có liên quan đến thiện TTDD của trẻ [16].
Một nghiên cứu tại Hà Nội của Lê Thị Hợp cho thấy các yếu tố như cai
sữa trước 12 tháng, ăn bổ sung sớm, chất lượng bữa ăn bổ sung kém, mắc
bệnh tiêu chảy, NKHHCT trong 2 tuần qua là các yếu tố liên quan đến SDD
trẻ em [17].
1.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD


15

1.2.2.1. Chăm sóc DD bà mẹ khi có thai và cho con bú
Dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ có thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai
nhi. Nhiều nghiên cứu thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân
nặng thấp trước tiên là tình trạng dinh dưỡng kém của người mẹ, chế độ ăn
không cân đối, không đủ năng lượng hoặc thiếu các vi chất và chất khoáng
cần thiết khi có thai. Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc,
không được nghỉ ngơi đầy đủ và bệnh tật của người mẹ cũng là những yếu tố
làm tăng tỷ lệ sơ sinh cân nặng thấp [37].

-

não của trẻ.
Sữa mẹ dễ tiêu hóa, dễ hấp thu.
Ngoài ra, sữa mẹ có các chất kháng khuẩn và yếu tố miễn dịch, giúp

bảo vệ trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng và dị ứng.
Lợi ích cho mẹ:
+ Cho trẻ bú sớm ngay sau sinh giúp tử cung co hồi tốt hơn, giảm chảy
+
+

máu.
Mẹ có cảm giác thư giãn, giảm mệt mỏi khi cho con bú.
Bú mẹ hoàn toàn là một biện pháp ngừa thai, do đó giúp mẹ kế hoạch

+

hóa gia đình.
Giúp mẹ chống được bệnh tật như giảm tỷ lệ ung thư tử cung, ung thư

vú...
+ Gắn bó tình cảm mẹ con, tác động tố đến việc giáo dục trẻ sau này.
+ Giúp mẹ sớm lấy lại vóc dáng sau khi sinh.
Lợi ích cho gia đình, xã hội:
Giảm bệnh tật, giảm các chi phí y tế: tiết kiệm cho hệ thống y tế Việt Nam

(ước tính tiêu tốn 10 triệu đô la Mỹ/năm cho chi phí chữa bệnh), tiết kiệm cho



Trẻ ngậm miệng sâu hết quầng đen của vú.
Cằm trẻ tì vào vú mẹ.

5) Thời gian mỗi bữa bú: tùy theo từng trẻ. Cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới
chuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo.
6) Cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau đẻ.
-

NCBSM hoàn toàn có nghĩa là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn/uống
bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác kể cả nước trắng, trừ các trường hợp phải
uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.


18

-

Theo Điều tra Dinh dưỡng 2010, chỉ có 19,6% bà mẹ NCBSM hoàn toàn
trong 6 tháng đầu; 31% bà mẹ nuôi con chủ yếu bằng sữa mẹ (sữa mẹ +
thức uống khác) trong 6 tháng đầu [47].

7) Khi mẹ bị bệnh hoặc trẻ ốm, trẻ đẻ thấp cân thì nên vắt sữa cho ăn bằng
thìa.
8) Thời gian cai sữa: Không nên cai sữa trước 12 tháng, nên cho trẻ bú mẹ
kéo dài từ 18 đến 24 tháng.
Việc không cho trẻ bú, ngừng cho con bú sớm, không cho con bú khi bị
bệnh hoặc ăn bổ sung sớm từ tháng thứ hai làm tăng tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 2
tuổi [42].
b) Ăn bổ sung:




19

lượng trẻ nhận được từ sữa mẹ khi trẻ > 6 tháng tuổi [39]. Do đó cần thiết
cho trẻ ăn bổ sung phù hợp về số lượng và chất lượng theo từng lứa tuổi
-

của trẻ.
Tập cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều. Cách chế biến thức ăn cần
đảm bảo khẩu phần dinh dưỡng và vệ sinh. Ăn bổ sung sớm hay muộn đều

-

-



ảnh hưởng đến tình trạng SDD [43].
Nếu cho trẻ ăn sớm quá sẽ có nguy hiểm:
+ Trẻ sẽ bú ít đi, mẹ sẽ tiết ít sữa và khó khăn hơn trong việc đáp ứng nhu
+

cầu của trẻ.
Trẻ nhận được ít các yếu tố miễn dịch từ sữa mẹ, nguy cơ mắc bệnh sẽ

+
+

tăng.

20

2 bữa bột 10%, mỗi bữa 200ml

+

Bột 10% (1 bát bột 200ml): 20g bột + 25-30g thịt hoặc 1 lòng đỏ trứng gà
+ 1 thìa canh rau nghiền nhỏ + 5ml nước mắm + 5-10ml dầu ăn.
Hoa quả nghiền: 40ml
Trẻ 9-12 tháng:
+ Bú mẹ.
+ 3 bữa bột 10%, mỗi bữa 200ml.
+ Hoa quả nghiền: 60ml.
Trẻ 12-24 tháng:
+ Bú mẹ.
+ 3 bữa cháo đặc, mỗi bữa 250ml.
+
-

-

Cháo (1 bát 250-300ml): 50g gạo + 30-50g thịt hoặc trứng + 1 thìa canh
rau thái nhỏ + 5ml nước mắm + 5-10ml dầu ăn.
Hoa quả nghiền: 60ml.
Nếu trẻ không có sữa mẹ, trẻ cần được ăn thêm 2 bữa phụ. Bữa phụ có thể
+
-

là: sữa chua, sữa, súp, hoa quả nghiền…
2) Thành phần bữa ăn bổ sung:


-

Khuyến khích trẻ ăn.
Cho trẻ ăn ngay sau chế biến, vệ sinh khi nấu.

1.2.2.3. Một số yếu tố khác.
Ngoài vấn đề nuôi dưỡng còn có một số yếu tố khác tác động đến tình
trạng DD của trẻ em.
-

Trẻ đẻ non, đẻ thấp cân: những trẻ sơ sinh đẻ non, có cân nặng thấp khi
sinh (
biệt chiều cao là rất lớn khi trưởng thành ở những người khi còn dưới 5 tuổi
thấp còi và không thấp còi. Những trẻ em bị thấp còi đến khi trưởng thành sẽ
trở thành người có chiều cao thấp [51].
1.3.2. Ảnh hưởng đến nhận thức, phát triển trí tuệ và khả năng lao động
khi trưởng thành
Mặc dù còn ít các nghiên cứu dọc theo dõi từ trẻ thơ đến khi trưởng
thành, tuy nhiên nghiên cứu triển khai ở 1 số nước khác cho thấy có mối liên
quan giữa thấp còi, chậm đi học, thi lại nhiều hơn và tỷ lệ bỏ học cao, giảm tỷ
lệ tốt nghiệp giữa cấp 1 và cấp 2, và chậm chạp trong học tập, nhận thức, học
kém hơn lúc ấu thơ. [56]. Nghiên cứu thử nghiệm ở Guatemala chỉ ra rằng, có
mối liên quan giữa Z - score chiều cao theo tuổi và thu nhập [60]. Nếu tính cả
đến giảm sút về tri thức do thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ thơ ấu hoặc do chi
phí cho chăm sóc nuôi nấng, thì riêng SDD thể thấp còi đã làm giảm 5% GDP
hàng năm [61]. Những thiệt hại về kinh tế do SDD chủ yếu là vì năng suất lao
động kém ở người trưởng thành do đã bị SDD.
1.3.3. Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong
SDD thể vừa và nhẹ thường gặp và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng nhất


23

vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ
em. Ước lượng gánh nặng bệnh tật cho thấy gia tăng gánh nặng bệnh đối với
nhóm trẻ dưới 5 tuổi vừa bị thấp còi, vừa còm còi. Nguy cơ tử vong tăng
trong nhóm Z-score giảm. Tất cả các nguy cơ tăng có ý nghĩa trong nhóm Zscore
24

Là chỉ số được dùng sớm nhất và phổ biến nhất. Chỉ số này được dùng
để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng. Cân nặng theo
tuổi thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng hiện tại. Chỉ số cân nặng theo tuổi
nhạy có thể quan sát trong 1 thời gian ngắn.
1.4.1.2. Chiều cao theo tuổi:
Chỉ số này đã được khuyến cáo sử dụng của WHO để phát hiện trẻ
“thấp còi” kết hợp với cân nặng theo chiều cao. Chiều cao theo tuổi phản ánh
tiền sử dinh dưỡng. Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh
dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi. Tỷ lệ thấp còi
cao nhất là từ 2 đến 3 tuổi. Tỷ lệ hiện mắc của thấp còi phổ biến hơn tỷ lệ
hiện mắc của nhẹ cân ở mọi nơi trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong
giai đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt được cân nặng bình thường sau đó
nhưng vẫn có chiều cao thấp
1.4.1.3. Cân nặng theo chiều cao:
Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại. Chỉ số này phản ánh
tình trạng SDD cấp (Wasting). Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh sự
không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao, chính là
phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chính dẫn đến
tình trạng này.
Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao đều
thấp hơn ngưỡng đề nghị, đó là thiếu dinh dưỡng thể phối hợp, đứa trẻ vừa
còi vừa còm.
Khi áp dụng các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng, chỉ
tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cấp tính là cân nặng
theo chiều cao, sử dụng trong các đánh giá nhanh sau thiên tai, các can thiệp
ngắn hạn. Chiều cao theo tuổi là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tác động
dài hạn, để theo dõi ảnh hưởng của các thay đổi về điều kiện kinh tế xã hội


+ Dễ thực hiện tại cộng đồng
+ Cho biết SDD cấp tính hay mạn tính
Phân loại dựa vào CC/T so với chuẩn và CN/CC.
Chỉ số nhân trắc
Chiều cao/tuổi
(90% hay -2SD)

Trên
Dưới

Cân nặng/chiều cao (80% hay - 2SD)
Trên
Dưới
Bình thường
Gầy mòn
Còi cọc
Gầy mòn + còi cọc

Gầy mòn (Wasting): biểu hiện tình trạng SDD cấp tính.
Còi cọc (Sturting): biểu hiện tình trạng SDD trường trong quá khứ.
Gầy mòn + còi cọc: biểu hiện tình trạng SDD mạn tính.
1.4.2.3. Phân loại theo Wellcome (1970):
-

Dùng cho các thể SDD nặng để phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorko.
Phân loại dựa vào cân nặng theo tuổi và triệu chứng phù.
Cân nặng (%)
so với chuẩn

Phù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status