BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA NGƢỜI CHA
TRONG THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA
CÁC BÀ MẸ SINH CON TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2015
BỘ Y TẾ - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA NGƢỜI CHA
TRONG THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
CỦA CÁC BÀ MẸ SINH CON TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
PGS. TS. Trần Hữu Bích
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ i
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ................................................................................. vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................. vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .....................................................................................3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN .........................................................................................4
1.1. Sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ ................................................................................. 4
1.2. Thực trạng về nuôi con bằng sữa mẹ ........................................................................... 7
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bú sớm và bú mẹ hoàn toàn ........................... 9
1.4. Vai trò của người cha với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ....................................10
1.5. Các kênh thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ mà người cha có thể tiếp cận được ....14
1.6. Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu ....................................................................15
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................20
2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................................20
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu .............................................................................20
2.3. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................................20
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: ........................................................................................20
2.5. Phương pháp thu thập số liệu .....................................................................................21
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu ..........................................................................................26
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................27
3.1. Thông tin chung...........................................................................................................27
3.2. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ ......................................................30
3.3. Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ, thái độ và sự hỗ trợ của người cha trong thực
hành nuôi con bằng sữa mẹ................................................................................................32
3.4. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, sự hỗ trợ của người cha với thực hành nuôi
Phụ lục 3 ............................................................................................................... xxiv
Phụ lục 4 ...............................................................................................................xxxv
Phụ lục 5 ............................................................................................................ xxxvii
iv
Phụ lục 6 ................................................................................................................... xl
Phụ lục 7 ................................................................................................................. xlii
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về người cha ................................................................. 27
Bảng 3.2. Thông tin về bà mẹ .................................................................................. 28
Bảng 3.3. Thông tin chung về trẻ sơ sinh ................................................................ 29
Bảng 3.4. Đặc điểm của gia đình ĐTNC ................................................................. 30
Bảng 3.5. Về thực hành NCBSM ............................................................................. 30
Bảng 3.6. Kiến thức của cha về BSSS ..................................................................... 32
Bảng 3.7. Một số kiến thức về NCBSM và thứ tự lần sinh của trẻ.......................... 35
Bảng 3.8. Về việc chăm sóc vợ tại bệnh viện .......................................................... 41
Bảng 3.9. Mối liên quan kiến thức và thái độ người cha về NCBSM ..................... 45
Bảng 3.10. Liên quan tới thực hành BSSS ............................................................... 46
Bảng 3.11. Liên quan tới thực hành NCBSMHT..................................................... 47
Bảng 3.12. Mối liên quan kiến thức của người cha và hành động NCBSMHT ...... 48
Bảng 3.13. Mối liên quan thái độ của người cha với hành động NCBSMHT ......... 49
Bảng 3.14. Mối liên quan sự hỗ trợ của người cha với thực hành NCBSMHT ...... 50
Bảng 3.15. Sự tiếp cận thông tin của người cha ...................................................... 51
Bảng 3.16. Mối liên quan kiến thức của người cha với việc được NVYT bệnh viện
:
Bú sớm sau sinh
CSCKSS
:
Chăm sóc sức khỏe sinh sản
ĐTV
:
Điều tra viên
GĐ
:
Gia đình
GSV
:
Giám sát viên
NVYT
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
TT
:
Thông tin
UNICEF
:
United Nations International Children's Emergency Fund
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
WHO
:
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
XH
giờ đầu sau sinh, 73,7% người cha biết tên gọi sữa non/sữa đầu. Tỉ lệ người cha biết
đúng khái niệm NCBSM hoàn toàn là 75,3%. Điểm trung bình thái độ của người cha
về NCBSM là 42,7; có 54,5% người cha có thái độ tốt về NCBSM và 45,5% thái độ
chưa tốt. Điểm trung bình hỗ trợ của người cha về NCBSM là 43,5; có 50,1% người
cha có sự hỗ trợ tốt trong thực hành NCBSM của các bà mẹ và 49,9% hỗ trợ chưa
tốt. Có mối liên quan giữa điểm kiến thức của người cha với thái độ của họ về vấn
đề NCBSM (P < 0,05). Ở nhóm đẻ thường: có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ,
ix
sự hỗ trợ của người cha với thực hành NCBSMHT tính đến thời điểm ra viện (P
2
cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh tại đây vẫn thấp với 31%, tỉ lệ không cho
con ăn hoặc uống thứ khác trước khi bú mẹ lần đầu là 76,9% [19]. Số liệu này chưa
đáp ứng được mục tiêu của lãnh đạo bệnh viện và Bộ Y tế đề ra, đó là tăng tỷ lệ cho
con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh lên 90% và tỉ lệ cho con bú hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong 6 tháng đầu lên 50% [5]. Vậy lý do nào dẫn đến thực trạng trên? Ngoài
các can thiệp y tế ra, liệu vai trò của người cha, người sát cánh bên các bà mẹ, có
liên quan hay không tới thực hành cho con BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh
viện? Chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về vai trò của người cha đối với thực
hành NCBSM tại một bệnh viện lớn, tuyến trung ương cũng như kiến thức, thái độ
của họ về vấn đề này. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha trong thực hành nuôi con
bằng sữa của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015”
để có cơ sở khoa học trả lời cho các câu hỏi sau: Thực trạng thực hành NCBSM tại
bệnh viện là như thế nào? Thực trạng kiến thức của người cha tại bệnh viện PSTƯ
về vấn đề NCBSM như thế nào? Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha có
liên quan như thế nào với thực hành NCBSM của vợ? Một câu hỏi khác là thái độ,
sự hỗ trợ của người cha có chịu ảnh hưởng của kiến thức hay không? Từ đó giúp
bệnh viện có bằng chứng để đề xuất thêm những giải pháp, phương cách nhằm nâng
cao kiến thức, cải thiện thái độ, sự hỗ trợ của họ với thực hành NCBSM của vợ, góp
phần làm tăng tỷ lệ BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh viện.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu cụ thể:
1. Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện của các
6 tháng tuổi và ngay cả khi trời nóng. Sữa cuối được sản xuất ở cuối bữa có màu
trắng hơn vì có nhiều chất béo. Cần cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang
vú khác để trẻ nhận được sữa cuối nhiều năng lượng [4].
Theo Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF, nuôi
con bằng sữa mẹ là cách nuôi dưỡng trẻ trong đó trẻ bú trực tiếp sữa mẹ hoặc được
nuôi bằng sữa mẹ vắt ra. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là chỉ cho con bú mẹ mà
không thêm bất kỳ loại thức ăn nước uống nào, ngoại trừ các loại thuốc, vitamin,
khoáng chất. Tỷ lệ trẻ được bú sớm sau sinh được tính bằng tỷ số giữa tổng số trẻ
dưới 24 tháng tuổi được bú mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh trên tổng số trẻ dưới 24
tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn được tính bằng tỷ số
giữa số trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn trong 24 giờ trên tổng số trẻ
5
dưới 6 tháng [72]. Đồng thời, WHO và Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản đã khẳng định cho trẻ bú sớm sau sinh là việc trẻ được
bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [4].
1.1.2. Cách ngậm bắt vú và tƣ thế bú đúng
Việc cho con bú mẹ có đảm bảo hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào
việc thực hành đúng tư thế cho trẻ bú và cách cho trẻ ngậm bắt vú đúng. Tư thế cho
con bú đúng là đầu và thân trẻ ở trên một đường thẳng, mặt trẻ đối diện với vú và
môi trẻ đối diện với núm vú, thân trẻ sát với mẹ, đồng thời mẹ phải đỡ phía dưới
mông trẻ.
Bên cạnh đó, trẻ ngậm bắt vú đúng phải đảm bảo cằm trẻ chạm vào vú mẹ
miệng trẻ mở rộng, quầng vú ở phía trên miệng trẻ rộng hơn ở phía dưới, trẻ đưa
lưỡi tới phía dưới xoang sữa (quầng thâm của vú) để ép sữa ra, má của trẻ căng
phồng [4].
1.1.3. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
NCBSM là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên gắn liền với sự ra đời và phát
cầm máu cho người mẹ. Hơn nữa cho con bú thường xuyên giúp người mẹ nhanh
chóng lấy lại vóc dáng và làm giảm tỉ lệ ung thư vú. Đặc biệt, nuôi con bằng sữa mẹ
kinh tế và thuận tiện hơn nuôi sữa công thức nên là giải pháp hàng đầu trong các
phương cách nuôi con đã được công nhận trên toàn thế giới [4].
Cho con bú sữa mẹ không những kinh tế mà còn thuận lợi. Thuận lợi bởi cho
con ăn không kể giờ giấc, không cần đun nấu hay dụng cụ pha chế. Trẻ bú mẹ hơn
nữa còn kinh tế bởi không mất tiền mua. Chỉ cần người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh
thần thoải mái thì sẽ đủ sữa cho con bú [4].
1.1.4. Lợi ích của bú sớm sau sinh
Việc bú sớm sau sinh không những mang lại lợi ích cho con mà còn mang lại
lợi ích không nhỏ cho những bà mẹ. Đối với trẻ, cho con bú mẹ sớm ngay sau sinh
có thể giảm nguy cơ đột tử sơ sinh. Một nghiên cứu lớn của Đức năm 2009 đã cho
thấy việc cho con bú hoàn toàn dẫn đến nguy cơ thấp hơn của hội chứng đột tử trẻ
sơ sinh (SIDS). Các nhà nghiên cứu kết luận trẻ 1 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn có
nguy cơ SIDS giảm đi một nửa. Không những vậy, sữa non là liều vác xin đầu tiên
giúp trẻ phòng bệnh [70]. Lượng sữa non dù không nhiều nhưng đủ về số lượng và
chất lượng, phù hợp với bộ máy tiêu hóa của trẻ ngay khi mới sinh. Sữa non có tác
dụng sổ nhẹ, giúp tống phân su nhanh, giúp đào thải bilirubin nhanh. Vì vậy thời
gian vàng da ở trẻ cũng ngắn hơn và trẻ cũng ít khi bị vàng da hơn. Sữa non còn có
7
nhiều yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hóa non nớt của trẻ nhanh chóng trưởng
thành. Lượng vitamin A trong sữa non rất nhiều giúp làm giảm nhẹ bệnh khi trẻ
mắc bệnh.
Đối với người mẹ, BSSS cũng mang lại những lợi ích không nhỏ như tăng
cường tình cảm mẹ con, tăng tiết oxytocin làm co hồi tử cung, tránh được băng
huyết sau sinh, cho con bú giúp bà mẹ giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư như
ung thư vú, ung thư buồng trứng [4].
Bengal [37].
1.2.2. Tại Việt Nam
Số liệu từ các điều tra tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây cho thấy tỷ lệ
cho con bú sớm khá cao nhưng tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu là khá
thấp và không tăng lên [21]. Một nghiên cứu về thực hành của các bà mẹ người dân
tộc Mường huyện Lương Sơn cho thấy 21,6 % cho con bú mẹ hoàn toàn trong 4
tháng đầu; 66,2% bà mẹ cho con bú trong nửa giờ đầu sau đẻ, một trong những yếu
tố liên quan đến tình trạng không được bú mẹ hoàn toàn của trẻ trong 4 tháng đầu là
tác động của gia đình (P < 0,05) [8].
Kết quả điều tra của Dự án A&T tại 4 tỉnh năm 2010 cho thấy, tỷ lệ trẻ được
BSSS là 58,5%; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 18,4%; tỷ
lệ trẻ được bú sữa mẹ là chủ yếu trong 6 tháng đầu là 44,7% [62]. Kết quả điều tra
tại 11 tỉnh dự án năm 2011 cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn
trong 6 tháng đầu thấp (20,2%), tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ là chủ yếu trong 6 tháng đầu là
54,6%; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ trong l vòng giờ đầu sau sinh là 50,5% [20].
Một nghiên cứu khác tiến hành tại khu vực nông thôn Việt Nam – Huyện
Quỳnh Bảng, tỉnh Nghệ An cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ chiếm tỉ lệ cao, 70% các
bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh. Tuy nhiên, không có nhiều bà
mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ từ 4 đến 6 tháng đầu: 36% các bà mẹ cho con
ăn dặm trước khi con 4 tháng tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cho con ăn
dặm sớm là do bà mẹ phải quay lại với công việc đồng áng sớm, thậm chí chỉ sau
vài ngày sinh, họ hầu như không nhận được sự trợ giúp, chia sẻ của người chồng.
Nam giới cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của họ là công việc khai thác đá hoặc nuôi
tôm, chính vì vậy công việc đồng ruộng dường như được xem là công việc chính
của phụ nữ, bất kể họ mới sinh hay đang nuôi con nhỏ, trong thời kỳ cho con bú
[13].
9
Việc cho con bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của mẹ và trẻ mới sinh,
chất lượng tư vấn của nhân viên y tế hay các bà đỡ, tuổi của mẹ, thời gian chuyển
10
dạ và việc tiếp xúc sớm của mẹ và con [33]. Lý do trì hoãn việc cho con bú sớm
sau sinh thường là mẹ tiết ít sữa [25], cảm giác đau và khó chịu của người mẹ [52]
hoặc thiếu sự hỗ trợ từ gia đình trong và sau đẻ [44].
Ngoài ra còn có những lý do từ phía bệnh viện, việc thực hiện chương trình
sữa mẹ và hướng dẫn chuẩn quốc gia trong thực tế chưa thực sự hiệu quả. Một số
nghiên cứu cho thấy 90% số bà mẹ đi khám thai không được tư vấn về sữa mẹ [63].
Thêm vào đó, một nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã khẳng định bà mẹ
không được tư vấn trong thời gian mang thai có mối liên quan với việc không cho
trẻ bú sớm sau sinh với P < 0,01 [7]. Hơn nữa, cán bộ thiếu kiến thức và kỹ năng tư
vấn cho bà mẹ, thiếu quyết tâm để xây dựng và duy trì Bệnh viện Bạn hữu trẻ em
cũng là một trong những lý do dẫn đến tỷ lệ này còn chưa cao. Có thể nói tác động
của môi trường bệnh viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự thành công của
việc cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn. Đã có các tác giả chỉ nghiên cứu
về các nội dung liên quan đến cơ sở và nhân viên y tế và có can thiệp đặc thù vào
nội dung này. Và các nghiên cứu này cũng chỉ tập trung vào chủ đề này cũng không
nghiên cứu về các yếu tố khác có thể tác động lên thực hành cho con bú của bà mẹ.
Trong nghiên cứu về vai trò người cha, chúng tôi cũng không nghiên cứu về
tác động của cơ sở y tế, nhân viên y tế và không thu thập các thông tin này. Đây có
thể được coi là một trong những hạn chế của nghiên cứu.
1.4. Vai trò của ngƣời cha với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Trong những năm qua, vai trò của người cha đối với việc NCBSM là đề tài
được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu. Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90, Freed,
G. L cùng với J. K. Fraley và cộng sự tại Hoa Kỳ đã nghiên cứu về thái độ của
những người nam giới sắp có con (những ông bố tương lai) đối với việc NCBSM.
cha có con trước đây đã được bú mẹ, đã tham dự các lớp học trước sinh và những
người nhận được thông tin về NCBSM từ nhân viên y tế có kiến thức tốt hơn về
NCBSM. Có vẻ như người cha cần phải được chuẩn bị tốt hơn để nhận thức được
vai trò mới của họ trong việc hỗ trợ NCBSM. Chăm sóc trước sinh chứng tỏ là một
cơ hội tốt để nâng cao kiến thức của người cha về NCBSM [43].
Năm 2003, một nghiên cứu tại Thụy Điển đã tiến hành một nghiên cứu về sự
tham gia của người cha với sự thực hành NCBSM của bà mẹ đã chỉ ra rằng, những
đứa trẻ có cha với trình độ học vấn thấp, đã được nhận trợ cấp thất nghiệp hay có
thu nhập thấp ít được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cho đến 12 tháng tuổi. Ngoài ra,
những người cha không được nghỉ phép khi đứa bé ra đời thì những đứa trẻ đó cũng
12
ít được nuôi bằng sữa mẹ hơn khi được 2, 4, 6 tháng tuổi [51]. Một nghiên cứu tại
Tây Úc năm 2013 cũng khẳng định giáo dục và hỗ trợ về cho con bú cho cha cải
thiện tỉ lệ cho con bú [54].
Cho đến năm 2005, Calen I. và cộng sự đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa
thực hành nuôi con bằng sữa mẹ với đặc điểm cá nhân của người cha cũng như nghề
nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập hay sự tham gia hỗ trợ của người cha với vấn đề
này. Việc bà mẹ không cho trẻ bú sữa sớm là do bà mẹ tiết ít sữa hoặc có cảm giác
đau và khó chịu hay thiếu sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình sau sinh [26].
Tại Việt Nam, mặc dù các đề tài nghiên cứu về vai trò của người cha với vấn
đề NCBSM bắt đầu tiến hành muộn hơn so với thế giới nhưng đã có không ít đề tài
quan tâm chuyên sâu vào vấn đề này. Một nghiên cứu năm 2006 tại Chí Linh cũng
chỉ ra mối liên quan giữa người cha, người chồng trong gia đình với thực trạng
chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ nhỏ. Cụ thể là sự tham gia trong chăm sóc sức khỏe của
con giúp làm giảm tỷ lệ thấp còi, suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ [2]. Mặt khác, mối liên
quan giữa vai trò của người cha trong gia đình với việc thực hành NCBSM của
người mẹ cũng đã được các nghiên cứu trước đây đề cập đến, trong đó sự tham gia
hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 37,1% người cha chưa có kiến thức đúng về khái niệm
NCBSM hoàn toàn. Cũng theo nghiên cứu này thì sự tham gia của người cha trong
việc hỗ trợ bà mẹ tiếp tục NCBSM còn hạn chế, trong đó 56% người cha có thực
hành chưa tốt về khuyến khích bà mẹ tiếp tục NCBSM và có tới 67,3% người cha
có thực hành chưa tốt về hỗ trợ trong khi bà mẹ NCBSM [11].
Bệnh viện PSTƯ đã có rất nhiều chương trình triển khai nhằm thực hiện sáng
kiến Bệnh viện Bạn hữu trẻ em với nhiều hình thức đa dạng, trong đó có việc tổ
chức các lớp học tiền sản dành cho các ông bố, bà mẹ tương lai, người thân của thai
phụ nhằm cung cấp cho họ những kiến thức cơ bản về NCBSM. Tuy nhiên kiến
thức, thái độ và vai trò của người cha trong thực hành NCBSM của các bà mẹ tại
bệnh viện chưa được nghiên cứu. Hy vọng kết quả của nghiên cứu sẽ giúp làm sáng
tỏ vấn đề này. Hơn nữa sẽ cung cấp cho lãnh đạo bệnh viện bằng chứng về sự cần
thiết điều chỉnh, đề xuất nội dung, hình thức hợp lý và hiệu quả nhất nhằm cung cấp
thông tin, hỗ trợ cho người cha với vai trò của họ trong thực hành NCBSM. Thực
hiện tốt vai trò hỗ trợ của họ tại bệnh viện là tiền đề giúp vợ có sữa, thực hành
NCBSM tốt tại bệnh viện là khởi đầu cho giai đoạn NCBSM lâu dài về sau.
14
1.5. Các kênh thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ mà ngƣời cha có thể tiếp cận đƣợc
1.5.1. Thông tin từ cán bộ y tế, những ngƣời thân xung quanh
Một số nghiên cứu về sự tiếp cận thông tin của người cha, người mẹ đã
khẳng định thời điểm nhận thông tin tốt nhất là thời điểm trước sinh [8]. Nguồn thứ
nhất là cán bộ y tế xã phường. Đây là đối tượng hoạt động cộng đồng, thường mang
lại các kiến thức cơ bản thông qua các phương tiện truyền thông tại xã, phương như
loa, pa-nô, ap-phich của các chương trình truyền thông cộng đồng.
Nguồn thứ hai là các cán bộ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh. Tại Hoa Kỳ
một số chương trình tập trung cung cấp thông tin về NCBSM cho người cha đã
được tiến hành. Đó là chương trình Người cha hỗ trợ cho con bú của Bộ Nông
-
Chế độ dinh dưỡng cho mẹ và bé
-
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu