BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Minh Phương Thùy
NHẬN THỨC XÃ HỘI
CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Minh Phương Thùy
NHẬN THỨC XÃ HỘI
CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ THU MAI
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC XÃ HỘI ........................ 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 6
1.1.1. Trên thế giới ......................................................................................... 6
1.1.2. Ở Việt Nam ........................................................................................ 10
1.2. Một số khái niệm cơ bản........................................................................... 12
1.2.1. Nhận thức ........................................................................................... 12
1.2.2. Nhận thức xã hội ................................................................................ 22
1.3. Học sinh trung học phổ thông và các đặc điểm phát triển tâm lý ............ 26
1.3.1. Định nghĩa học sinh trung học phổ thông .......................................... 26
1.3.2. Hoạt động học tập- hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông 26
1.3.3. Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh trung học phổ thông ..... 27
1.3.4. Đặc điểm phát triển tình cảm của học sinh trung học phổ thông ....... 28
1.3.5. Đặc điểm phát triển nhân cách của học sinh trung học phổ thông .... 29
1.4. Nhận thức xã hội của học sinh trung học phổ thông ................................ 31
1.4.1. Khái niệm nhận thức xã hội của học sinh trung học phổ thông ......... 31
1.4.2. Vai trò của nhận thức xã hội đối với học sinh trung học phổ thông .. 32
1.4.3. Biểu hiện nhận thức xã hội của học sinh trung học phổ thông .......... 33
1.4.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức xã hội của học sinh trung học
Học sinh
HS
Nhận thức xã hội
NTXH
Số thứ tự
STT
Hệ số tương quan Pearson
r
Thành phố Hồ Chí Minh
TP.HCM
Trung học phổ thông
THPT
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
44
6
2.4. Phân chia mức độ biểu hiện NTXH
45
7
2.5. Vai trò NTXH đối với HS THPT
46
8
2.6. Mức độ cần thiết của mặt hiểu ngôn ngữ nói đối thoại
47
9
2.7. Mức độ cần thiết của mặt giải mã ý nghĩa cử chỉ
48
10
2.8. Mức độ cần thiết của mặt nhận biết cảm xúc
53
16
2.14. Biểu hiện NTXH trên mặt hiểu ngôn ngữ nói đối thoại
54
17
2.15. Một số biểu hiện nổi bật ở mặt hiểu ngôn ngữ đối thoại
55
18
2.16. Biểu hiện NTXH trên mặt giải mã ý nghĩa cử chỉ
56
19
2.17. Kết quả giải mã ý nghĩa cử chỉ tiêu biểu
57
20
2.18. Biểu hiện NTXH trên mặt giải mã cử chỉ trong tình huống
2.23. Các biểu hiện ở mặt chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp
70
26
2.24. Mức độ NTXH của HS THPT tại TP.HCM
73
27
2.25. Hệ số tương quan Pearson giữa các mặt NTXH
75
28
2.26. Đối chiếu kết quả nghiên cứu thực trạng và sự tự đánh giá
của HS THPT về mức độ biểu hiện từng mặt NTXH
76
29
2.27. Một số yếu tố ảnh hưởng đến NTXH của HS THPT
77
nghĩa của các biểu hiện phi ngôn ngữ, chú ý đến các yếu tố văn hoá xã hội, giá
trị xã hội trong các tình huống cụ thể.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một người có chỉ số thông minh (IQ)
cao chưa chắc đã có cuộc sống thành công và hạnh phúc. Vì vậy, hiện nay, bên
cạnh chỉ số thông minh, các bậc phụ huynh, các nhà giáo, các nhà tuyển dụng
còn quan tâm đến các chỉ số trí tuệ khác như: trí tuệ cảm xúc (EQ), trí tuệ xã hội
(SQ), trí tuệ sáng tạo (CQ),… Để có thể nâng cao, phát triển một loại trí tuệ, nhà
nghiên cứu cần phải phân tích cấu trúc của nó, tìm ra thành tố nào giữ vai trò
quan trọng. NTXH là thành tố được nhiều tác giả đề cập đến khi phân tích cấu
trúc của trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội. Đó là các nhà tâm lý học David H.
Silvera, Monika Martinussen, Tove Dahl, Daniel Goleman, Karl Albrecht,…
Theo tác giả Đoàn Văn Điều: “Nhận thức xã hội được xem là khả năng cao nhất
của trí tuệ cảm xúc, có thể điều khiển, hướng dẫn cảm xúc của đám đông” [14,
tr.66]. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu trí tuệ xã hội theo mô hình năm thành tố
(nhận thức xã hội, thể hiện bản thân, tạo sự tín nhiệm, giao tiếp hiệu quả, thấu
cảm), tác giả Kiều Thị Thanh Trà cho ra rằng: “Nhận thức xã hội (S) đảm bảo
cho cá nhân luôn tập trung vào tình huống xã hội và thu nhận được những thông
tin cơ bản, cần thiết” [36, tr.43-44]. NTXH góp phần cải thiện chất lượng mối
quan hệ giữa cá nhân với những người xung quanh, tác động đến sự thành công
hay thất bại trong cuộc sống của mỗi người.
HS THPT bắt đầu hình thành thế giới quan mang tính khoa học và hệ
thống, đây là một trong những nét cấu tạo tâm lý mới của lứa tuổi này. Các em
thể hiện quan điểm của mình về mọi lĩnh vực trong đời sống, đánh giá đúng- sai,
2
thiện- ác, đẹp- xấu, chọn lựa các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử, tìm hiểu giá trị
cuộc sống. Và NTXH sẽ giúp cho các em hoàn thiện thế giới quan và phát triển
trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội. Tuy nhiên, NTXH của HS một số trường THPT
TP.HCM, Trung học phổ thông Trần Phú
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Cách tiến hành: Sưu tầm, tham khảo và phân tích các tài liệu, các công
trình nghiên cứu có liên quan đến NTXH.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi
Mục đích: Đây là phương pháp chính để thu thập thông tin nghiên cứu.
Cách tiến hành:
Bước 1: Dựa trên cơ sở lý luận, các tài liệu tham khảo có liên quan, người
nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để điều tra thử NTXH của HS một số trường
THPT tại TP.HCM và các yếu tố ảnh hưởng.
Bước 2: Điều tra thử bảng hỏi. (50 phiếu)
Bước 3: Dựa vào kết quả điều tra thử, người nghiên cứu tiến hành chỉnh
sửa, bổ sung và hoàn thiện bảng hỏi.
Bước 4: Điều tra chính thức bằng bảng hỏi nhằm xác định thực NTXH
của HS một số trường THPT tại TP.HCM và các yếu tố ảnh hưởng.
4
Bước 5: Mã hoá các câu trả lời trong bảng hỏi.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Thu thập những thông tin nghiên cứu sâu và xác thực, làm cơ
sở để lựa chọn dữ liệu nghiên cứu nổi bật.
Cách tiến hành:
Bước 1: Người nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn dành
cho giáo viên, học sinh.
Bước 2: Phỏng vấn 3 giáo viên, 3 học sinh trung học phổ thông.
chứng cho Tâm lý học giới tính, Tâm lý học khác biệt, Tâm lý học lứa tuổi.
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn dài
trang bao gồm các phần: mở đầu, 2 chương (chương 1-
Cơ sở lí luận chương 2- Kết quả nghiên cứu thực trạng NTXH), bàn luận, kiến
nghị, kết luận, danh mục các công trình đã được công bố của tác giả luận án, tài
liệu tham khảo.
Ngoài ra, luận văn còn có lời cam đoan, mục lục, bảng hướng dẫn chữ
viết tắt, danh mục các bảng biểu, sơ đồ, phụ lục (không tính số trang).
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC XÃ HỘI
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
NTXH có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Sự thấu hiểu lời nói, cảm xúc, hành vi của người khác, nhận biết những chuẩn
mực, sự khác biệt về văn hoá, … giúp con người giao tiếp hiệu quả và dễ thành
công hơn.
Thuật ngữ “nhận thức xã hội” đã được nhắc đến trong bài báo của Heider
(1944) có tựa đề "Nhận thức xã hội và hiện tượng nhân quả", tuy nhiên thuật
ngữ này đã không thực sự phổ biến cho đến khi có cuộc cách mạng nhận thức
trong Tâm lý học. Thuật ngữ này trở thành tiêu đề của tập đầu tiên của loạt sách
Hội nghị chuyên đề Ontario (Higgins, Herman, & Zanna, 1 1). Vài năm sau,
cuốn sách giáo khoa có ảnh hưởng của Fiske và Taylor, “Tâm lý học nhận thức”
(1984), không chỉ giúp kết hợp thuật ngữ, mà còn chuyển nghiên cứu NTXH
tác với nhau sẽ thể hiện niềm tin và các giá trị (mong muốn thúc đẩy sự khoan
dung chủng tộc và tôn trọng) phù hợp với sự phát triển của NTXH.
Theo Sternberg (1994), NTXH nghiên cứu cá nhân trong bối cảnh xã hội
hoặc văn hoá và tập trung vào cách người ta nhận thức và giải thích thông tin họ
tạo ra (cá nhân) và từ người khác (giao tiếp) [58].
Năm 1
7, Kitayama và các đồng nghiệp của ông đã chỉ ra rằng một
trong những nền tảng của NTXH là những người khác nhau có thể hiểu một tình
huống nhất định theo cách khác nhau, nếu họ quan sát nó thông qua các ống
kính của các cấu trúc kiến thức, mục tiêu và cảm xúc khác nhau. Các nền văn
hoá có thể tạo ra những tập thể, văn hoá chia sẻ khác nhau về cách xây dựng,
xác định và giải thích ý nghĩa từ các tình huống. Những tình huống tương tự có
8
thể mang ý nghĩa khác nhau trong các nền văn hoá khác nhau ... Khi các cá nhân
tuân thủ các nguyên tắc của các nền văn hoá tương ứng, suy nghĩ, cảm xúc và
hành vi, cuối cùng họ củng cố nền văn hoá đã làm phát sinh những mô hình này
ngay từ đầu. Như vậy, con người sẽ suy nghĩ và hành động phù hợp với văn hoá,
đồng thời ủng hộ và phát triển nền văn hoá đó [52].
Tác giả Tsui (2000) cho rằng NTXH là một khía cạnh quan trọng trong sự
phát triển của học sinh vì hiểu được mối liên hệ giữa NTXH và thay đổi xã hội,
cũng như sự phát triển các kỹ năng tư duy phê bình. Nhận thức và ý thức xã hội,
cùng với nhận thức chính trị, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các sinh
viên đại học về kỹ năng tư duy phê bình. Nghiên cứu này kết luận “nhận thức về
các vấn đề chính trị và xã hội có liên quan đến sự phát triển tư duy phê bình vì
thảo luận về các chủ đề như vậy có khuynh hướng gợi lên nhiều sự quan tâm và
các tín hiệu xã hội khác nhau cho phép chúng ta tìm hiểu về thế giới. Những tín
hiệu như biểu hiện trên khuôn mặt, chẳng hạn như sự sợ hãi và ghê tởm, cảnh
báo chúng ta về nguy hiểm, và hướng nhìn mắt, cho biết những điều thú vị có
thể được tìm thấy. Những tín hiệu như vậy đặc biệt quan trọng trong sự phát
triển của trẻ sơ sinh [43].
Các tác giả Gehlbach, H., Young, L. V., & Roan, L. K. (2012) cho rằng
Những học sinh có nhận thức về xã hội mạnh mẽ có khả năng thiết lập quan hệ
giao tiếp và giải quyết xung đột với bạn bè. Những học sinh này được hưởng lợi
từ việc học tập bình đẳng và biết cách tận dụng sự hỗ trợ xã hội [47].
Nhiều tác giả phân tích NTXH như là một trong những thành tố cấu thành
trí tuệ xã hội như: David H. Silvera, Monika Martinussen, Tove Dahl, Weis,
Süß, Daniel Goleman, Karl Albrecht [45], dẫn theo [36, tr.29-32].
10
Bên cạnh đó, NTXH còn được xem là thành phần của trí tuệ cảm xúc.
Tiêu biểu là nghiên cứu của các tác giả Peter- Salovey, Jonh Mayer, Peter
Salovey, David Caruso, Daniel Goleman, E. Thorndike, Robert Thorndike, Saul
Stern [6], [8], [9].
Tóm lại, những nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng trong việc làm
sáng tỏ lý luận về nhận thức xã hội, cụ thể là tìm hiểu nhận thức xã hội ở nhiều
khía cạnh khác nhau như: một lĩnh vực trong Tâm lý học xã hội và Tâm lý học
nhận thức; là thành phần quan trọng trong cấu trúc của trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã
hội; nhấn mạnh vai trò của nó đối với cá nhân và cộng đồng. Trên cơ sở đó, các
nghiên cứu tiếp theo sẽ có cơ hội đối chiếu, tìm hiểu và phân tích nhận thức xã
hội một cách đầy đủ và sâu sắc hơn.
1.1.2. Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về nhận thức xã hội tại Việt Nam còn khá hạn
chế, có thể kể đến một số nghiên cứu có liên quan sau:
TP.HCM thì mặt nhận biết cảm xúc có điểm trung bình cao nhất, tiếp theo là
thấu hiểu cảm xúc, kế nữa là vận dụng cảm xúc và cuối cùng điều khiển cảm
xúc [9, tr.147]. Theo tác giả, nhận biết cảm xúc là năng lực nhận thức được cảm
xúc của mình cũng như cảm xúc của nhân viên, đồng nghiệp và đối tác, cũng
như đánh giá được sự ảnh hưởng của cảm xúc như thế nào đến hiệu quả công
việc, thông qua các con đường như ngôn ngữ, hành vi, nét mặt... và các tín hiệu
cơ thể khác. Thấu hiểu cảm xúc thể hiện ở chỗ hiểu xúc cảm, tình cảm của bản
thân, nhưng quan trọng hơn cả là việc hiểu biết xúc cảm và tình cảm của người
khác, để tâm và lắng nghe những mối quan tâm, cảm xúc, hiểu được nhu cầu,
mong muốn của họ [9, tr.48-49].
Như vậy, các nghiên cứu trên đã nhìn nhận “nhận thức xã hội” là một
thành phần không thể thiếu trong cấu trúc trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội. Các nhà
nghiên cứu đã làm rõ thêm khái niệm NTXH thông qua việc phân tích một số
biểu hiện cụ thể, cũng như vai trò đối với cá nhân và cộng đồng xã hội. Tuy
12
nhiên, ở Việt Nam chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể về NTXH của
HS nói chung và của HS THPT nói riêng. Vì vậy, người nghiên cứu nhận thấy
việc tìm hiểu NTXH của HS một số trường THPT là thực sự cần thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Nhận thức
1.2.1.1. Định nghĩa
Tác giả M.S. Bhatia định nghĩa: “Nhận thức là một trạng thái có ý thức,
hiểu biết thông tin nhận được từ môi trường trực tiếp” [55].
Theo tác giả Kendra Cherry, “nhận thức là một thuật ngữ đề cập đến các
quá trình tinh thần liên quan đến đạt được tri thức và thông hiểu, bao gồm tư
duy, hiểu biết, ghi nhớ, đánh giá, giải quyết vấn đề. Đây là các chức năng cấp
cao của não bộ, bao gồm ngôn ngữ, tưởng tượng, tri giác và lập kế hoạch” [61].
- Đặc điểm tâm sinh lý của từng người: Vì chủ thể nhận thức là con người
nên phụ thuộc nhiều vào đặc điểm sinh học di truyền, bẩm sinh.
- Trình độ phát triển cụ thể của mỗi cá nhân về mặt sinh học.
Khách thể nhận thức: Là đối tượng mà nhận thức hướng vào, khách thể
nhận thức không đồng nhất với thế giới vật chất vì khách thể nhận thức không
những chỉ hướng vào thế giới vật chất mà còn hướng vào thế giới tinh thần.
Giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức có mối quan hệ biện
chứng không thể tách rời trong quá trình nhận thức. Khách thể nhận thức được
phản ánh mang đậm tính cá nhân thông qua cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tư
tưởng…làm cho chủ thể nhận thức có thái độ, tình cảm đối với khách thể nhận
thức và hành động tương ứng.
Hoạt động xã hội và nhận thức có mối quan hệ biện chứng. Cội nguồn của
nhận thức là tính tích cực hoạt động, hiệu quả hoạt động phụ thuộc vào nhận
14
thức. V.I Lênin đã viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực
tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực
tại khách quan”.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới xung quanh, “nhận thức là biết được,
hiểu được, ý thức được” thế giới xung quanh thông qua các hoạt động thực tiễn
và từ sự nhận thức đó con người tiến hành các hoạt động thực tiễn, thông qua đó
nâng cao hiểu biết của mình.
Theo các nhà triết học duy vật biện chứng: “Về bản chất, nhận thức là quá
trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người
trên cơ sở thực tiễn” [3, tr.260].
Theo từ điển Tiếng Việt (1 6), “nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản
ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy quá trình con người nhận biết, hiểu
biết về thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó” [10, tr.689].
Hai là, nhận thức bao gồm hai quá trình có mối quan hệ biện chứng với
nhau là nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính. Ngoài ra còn có trí nhớ và chú ý.
Ba là, thực tiễn xã hội vừa là cơ sở và vừa là mục đích của nhận thức.
Trên cơ sở đó, người nghiên cứu sử dụng khái niệm “nhận thức” như sau:
Nhận thức là sự phản ánh sự vật, hiệ tượng trong thế giới khách quan vào não
của c
gười, bao gồm các quá trình nhậ thức cả tí h, nhậ thức
tí h, trí
nhớ và chú ý.
- Về nội dung phản ánh, nhận thức phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan.
- Về phương thức phản ánh, nhận thức phản ánh thế giới khách quan
thông qua những hình ảnh, khái niệm.
- Về kết quả phản ánh, nhận thức cho biết đặc điểm, bản chất của sự vật,
hiện tượng trong thế giới khách quan.
- Cuối cùng, cơ sở và mục đích của nhận thức chính là thực tiễn xã hội.