TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
ĐỀ TÀI:
ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Văn Khuê
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Ý
MSSV: 5086017
Lớp: Luật Hành Chính, khóa 34
Cần Thơ, Tháng 4 Năm 2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
..........................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
2.1.1 Chủ thể đại diện theo pháp luật ....................................................................... 27
2.1.2 Chủ thể đại diện theo ủy quyền ....................................................................... 37
2.2 Xác lập quan hệ đại diện .................................................................................... 39
2.2.1 Xác lập quan hệ đại diện theo pháp luật .......................................................... 44
2.2.2 Xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền .......................................................... 45
2.3 Phạm vi đại diện ................................................................................................. 43
2.3.1 Phạm vi đại diện theo pháp luật ..................................................................... 44
2.3.2 Phạm vi đại diện theo ủy quyền ..................................................................... 45
2.4 Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập,
thực hiện.............................................................................................................. 46
2.5 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt
quá phạm vi đại diện ............................................................................................... 47
2.6 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện ...................................................... 48
2.6.1 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật .............................. 48
2.6.2 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền .............................. 50
2.7 Mối quan hệ đại diện trong Luật thương mại và Luật tố tụng dân sự............. 52
2.7.1 Quan hệ đại diện trong Luật thương mai ......................................................... 52
2.7.2 Quan hệ đại diện trong Luật tố tụng dân sự ..................................................... 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, NHỮNG BẤT CẬP
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN
3.1 Thực trạng áp dụng chế định đại diện vào thực tiễn ........................................ 62
3.2 Những bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật về đại diện ........ 64
3.2.1 Bất cập trong việc xác định người đại diện theo pháp luật cho các chủ thể ...... 64
3.2.2 Bất cập trong việc xác định thẩm quyền của người đại diện theo ủy quyền ..... 66
3.2.3 Thiếu xót trong việc quy định các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện
theo ủy quyền ............................................................................................................. 68
3.3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật về
chế định đại diện ....................................................................................................... 70
diện mới được nảy sinh. Do đó, hệ thống pháp luật đại diện đã không theo kịp để
điều chỉnh và đã lộ những điểm hạn chế nhất định. Đó là những quy định điều có
mục đích điều chỉnh quan hệ đại diện nhưng khi đưa vào thực tiễn để giải quyết một
vụ việc cụ thể lại gây mâu thuẫn cho nhau; quy định pháp luật bị hiểu sai lệch về
câu chữ và nội dung nên khi áp dụng sẽ gây bất cập; quy định về hình thức đại diện
còn quá tùy nghi, thiếu tính cụ thể...
Để hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật đối với chế định đại diện cũng như
những thiếu sót và bất cập của chế định đại diện khi áp dụng vào đời sống dân sự
người viết đã chọn đề tài “ Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành - lý luận và thực tiễn” với mong muốn có được cái nhìn tổng quan, khoa học
về chế định luật đại diện và khái quát được những nét căn bản về thực trạng hệ
thống quan hệ pháp luật đại diện nước ta. Trên cơ sở của việc nghiên cứu đó có thể
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
1
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
rút ra được những kết luận, làm sáng tỏ những nguyên nhân và tìm kiếm các giải
pháp nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đại diện Việt Nam
trong điều kiện đổi mới, hội nhập và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân.
2. Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về chế định đại diện trong luật dân sự là đi phân tích những điều
luật quy định về hoạt động đại diện, những trường hợp cụ thể cần và có thể áp dụng
chế định đại diện. Đi phân tích vai trò của chế định đại diện vào đời sống dân sự,
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
của chế định. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chế
định đại diện; khái quát những nét chính về chế định đại diện mà pháp luật quy định
trong Bộ luật dân sự hiện hành, nêu lên thực trạng áp dụng chế định vào đời sống
dân sự và phương hướng đóng góp đối với việc phát triển chế định đại diện vào hệ
thống pháp luật Việt Nam.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về chế định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật về chế định đại diện
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật đại diện, những bất cập và hướng hoàn
thiện pháp luật.
CHƯƠNG 1
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
3
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN
TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
hóa…nên để đảm bảo các giao dịch được xác lập một cách thuận lợi và bảo đảm
quyền lợi cho các chủ thể này cần có người đại diện để tiến hành mọi hoạt động.
Nắm bắt được thực tiễn của xã hội và trên nguyên tắc tự do ý trí, pháp luật
Việt Nam thừa nhận chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có thể tự mình xác lập và
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
4
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
thực hiện giao dịch hoặc có thể biểu lộ ý trí thông qua người khác. Và để điều chỉnh
mối quan hệ xã hội này nhà nước ta đã quy định chế định đại diện trong Bộ luật dân
sự nhằm phù hợp với xu thế tất yếu và khách quan của cuộc sống.
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định đại diện theo Bộ luật dân sự
hiện hành.
1.2.1 Khái niệm về chế định đại diện
Với tư cách là một chế định pháp lý, được quy định khá cụ thể trong Bộ luật
dân sự Việt Nam 2005 và các văn bản pháp luật khác, khái niệm về chế định đại
diện được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 “Đại diện là việc một
người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau
đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi
thẩm quyền đại diện”.
Qua khái niệm trên ta thấy:
- Chủ thể của quan hệ đại diện gồm: người đại diện và người được đại diện.
- Nội dung chính của chế định đại diện: là việc người đại diện sẽ thay mặt,
nhân danh người được đại diện để tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với
người thứ ba. Người được đại diện mới chính là chủ thể trực tiếp thụ hưởng quyền
theo ủy quyền.
Tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác) đều có quyền có người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền
hoặc nếu là tổ chức thì có thể vừa có đại diện theo pháp luật vừa có đại diện theo ủy
quyền) cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm phục vụ
cho quyền lợi của mình.
Ngoại lệ: không phải mọi giao dịch dân sự đều được xác lập bởi người đại
diện, có những giao dịch dân sự mà pháp luật quy định phải do chính chủ thể của
luật dân sự tự mình xác lập, thực hiện. Như theo quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ
luật dân sự 2005 “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện
cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó”.
Ví dụ: cá nhân có thể ủy quyền cho người khác thay mình ký kết các hợp
đồng dân sự nhưng không thể ủy quyền cho người khác thay mình đi đăng ký kết
hôn hoặc làm chứng minh thư nhân dân.
1.2.2 Khái niệm về các chủ thể trong quan hệ pháp luật đại diện
Theo khoản 3 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 quy định quan hệ đại diện có thể
được xác lập theo hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.
Các chủ thể trong quan hệ này bao gồm người đại diện và người được đại diện.
* Khái niệm người đại diện theo pháp luật
Người đại diện theo pháp luật cho cá nhân là người do pháp luật hoặc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định, người đại diện theo pháp luật của tổ chức
là người ngoài quy định của pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có
thể là người do tổ chức đó lựa chọn hoặc do tổ chức đó thống nhất cử ra nhằm mục
đích đại diện cho một cá nhân hay tổ chức nào đó xác lập, thực hiên các giao dịch
hay hành vi dân sự, hành chính 1… Người đại diện theo pháp luật phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, người đại diện theo pháp luật là cá nhân riêng đối với hình
thức giám hộ có thể là tổ chức. Theo Điều 141 Bộ luật dân sự 2005 thì người đại
diện theo pháp luật bao gồm:
- Cha, mẹ sẽ là đại diện đương nhiên cho con chưa thành niên;
việc đại diện trong phạm vi, thẩm quyền đại diện của mình.
Cũng như người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền phải
đảm bảo đầy đủ về năng lực hành vi.
Ngoại lệ: theo khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 thì “Người từ đủ 15
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp
pháp luật quy định giao dịch dân sự đó phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập,
thực hiện”.
Chủ thể đại diện gồm:
- Cá nhân: người đại diện theo ủy quyền cho chủ thể khác để xác lập, thực
hiện các hoạt động dân sự trong đời sống hàng ngày;
Người được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp
tác ủy quyền;
Người phải có chính chỉ hành nghề hay kinh nghiệm trong công việc như
luật sư, chuyên viên pháp lý, tư vấn pháp luật, nhà tư vấn.
Cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đại diện theo ủy
quyền trong một số trường hợp.
- Tổ chức (bao gồm pháp nhân hay không phải pháp nhân) được thành lập
với nội dung hoạt động là đại diện cho các chủ thể khác: văn phòng luật sư; doanh
nghiệp đại diện cho thương nhân trong các hoạt động thương mại; các công ty quản
lý và đại diện cho những người nổi tiếng…khi này tổ chức sẽ cử người trong tổ
chức của mình đứng ra làm đại diện.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
7
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
Điều 21 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người không có năng lực hành vi dân sự “Người chưa đủ sáu tuổi
không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo
pháp luật xác lập, thực hiện”.
3
Khoản 2 Điều 22 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người mất năng lực hành vi dân sự “Giao dịch dân sự
của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”.
4
Khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực
hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác”.
5
Khoản 2 Điều 23 bộ luật dân sự 2005 quy định về người đại diện của người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự “Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa
án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đén tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có
ý kiến của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày”.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
8
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
Ngoại lệ thứ nhất: theo quy định tại khoản 1 Điều 206 và khoản 2 Điều 237
Bộ luật dân sự 2005 thì những cá nhân từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, cá
nhân bị hạn chế năng lực hành vi khi thực hiện các giao dịch có giá trị nhỏ nhằm
phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày không cần tới sự đồng ý của người đại diện.
Ngoại lệ thứ hai: tại khoản 2 điều 208 Bộ luật dân sự 2005 thì những cá nhân
Khoản 2 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 “Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày”.
8
Khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 “Trong trường hợp người từ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà
không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
9
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
+ Tương tự, tổ hợp tác muốn có người đại diện theo pháp luật thay mặt tổ
xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang đến quyền và lợi ích cho tổ thì
tổ hợp tác phải thành lập đúng quy định của pháp luật về tổ hợp tác, ngoài ra, các tổ
viên phải thống nhất với nhau về việc cử ra người đại diện theo pháp luật cho tổ.
* Khái niệm người được đại diện theo ủy quyền
Người được đại diện theo ủy quyền là người có năng luật hành vi dân sự đầy
đủ, thông qua sự thỏa thuận ủy quyền để trao quyền cho người khác thay mặt và
nhân danh mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang tới quyền và lợi
ích cho mình.
Nếu chủ thể là cá nhân, sẽ bằng hành vi pháp lý của mình xác lập sự thỏa
thuận đại diện theo ủy quyền với chủ thể đại diện.
Nếu chủ thể là tổ chức, sẽ thông qua người đại diện theo pháp luật của mình
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
Với tư cách là một chế định pháp lý, chế định đại diện mang đầy đủ đặc điểm
của quan hệ pháp luật nói chung. Ngoài ra quan hệ pháp luật đại diện còn có đặc
điểm riêng sau đây:
- Chế định đại diện có hai mối quan hệ pháp luật khác nhau là quan hệ bên
trong và quan hệ bên ngoài.
+ Quan hệ được hình thành giữa người đại diện với người được đại diện là
quan hệ bên trong. Quan hệ này có thể được hình thành từ hợp đồng, từ sự thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: theo quy định tại Điều 21 Bộ luật dân sự 2005 thì mọi giao dịch dân
sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập thực
hiện. Điều này thể hiện mối quan hệ ở đây là giữa người đại diện và người được đại
diện và nó được xác lập theo pháp luật.
+ Quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba là mối quan hệ bên ngoài.
Ví dụ: ông Lâm Thanh và ông Trọng Phú xác lập hợp đồng đại diện theo ủy
quyền, nội dung của hợp đồng ủy quyền này là ông Trọng Phú sẽ đại diện cho ông
Lâm Thanh ký kết hợp đồng mua bốn mươi máy tính để bàn với chị Huỳnh Thư.
Như vậy trong việc giao kết hợp đồng giữa ông Trọng Phú và chị Huỳnh Thư đã
làm phát sinh mối quan hệ bên ngoài của quan hệ đại diện giữa người đại diện theo
ủy quyền là ông Trọng Phú với người thứ ba là chị Huỳnh Thư.
Tuy được phân biệt nhưng bản chất của việc đại diện là người đại diện sẽ
thay người được đại diện thể hiện ý chí với người thứ ba. Cho nên, ta thấy hai mối
quan hệ này cùng tồn tại song song và bổ trợ lẫn nhau, quan hệ bên trong là tiền đề,
là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài. Quan hệ bên ngoài thực
hiện vì quan hệ bên trong, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện
trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại
diện. Người đại diện có thể được hưởng những lợi ích nhất định từ người được đại
diện do thực hiện hành vi đại diện với người thứ ba.
có được lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ đại diện này.
- Người đại diện tuy là nhân danh cho người được đại diện và thẩm quyền
của họ được giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo quy định của
pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động và độc lập trong việc thể hiện ý chí của
mình với người thứ ba trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm mang
đến lợi ích cho người được đại diện.
1.2.4 Ý nghĩa của chế định đại diện
- Như đã nói, quan hệ đại diện xuất phát từ nhu cầu thực tế nhất định, là một
trong những chế định pháp luật lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã
hội và trong cơ cấu pháp lý.
- Đại diện là chế định có chức năng trợ giúp xã hội, là một trong những thành
quả của trí tuệ pháp lý của loài người, mang tính nhân văn, nhân đạo.
- Đây cũng là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể trong quan hệ
pháp luật dân sự có thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của
mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất.
- Thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật, bảo vệ những quyền
lợi chính đáng cho người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế về năng lực
hành vi dân sự.
1.3 Phân loại đại diện
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
12
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
thống như cha, mẹ đối với con chưa thành niên, hay dựa trên mối quan hệ pháp lý
được ghi nhận như quan hệ giám hộ hoặc trên tính tồn tại ổn định của các chủ thể là
tổ hợp tác, hộ gia đình và pháp nhân9.
9
Giám hộ, đại diện trong bộ luật dân sự và bộ luật tố tụng dân sự. Nguồn:
ho dai dien trong bo luat dan su va to tung dan su của
THS. Nguyễn Việt Cường - Chánh Tòa Lao động, Tòa án nhân dân tối cao [23/2/2010].
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
13
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
- Năng lực chủ thể: người đại diện theo pháp luật phải là người có năng lực
hành vi đầy đủ. Người được đại diện theo pháp luật đối với cá nhân phải là người
không có hoặc có nhưng không đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Người được đại
diện theo pháp luật là tổ chức phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
Quan hệ đại diện theo pháp luật bao gồm đại diện theo pháp luật đối với cá
nhân và đại diện theo pháp luật đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các chủ
thể đại diện theo pháp luật trong từng trường hợp cụ thể sẽ được người viết phân
tích rõ hơn ở chương hai của bài viết này.
1.3.2 Đại diện theo ủy quyền
Khác với đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, đại diện theo ủy quyền là trường hợp đại
diện được xác lập theo ý chí của hai bên: bên đại diện và bên được đại diện. Theo
14
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
thể ủy quyền lại cho người thứ ba thực hiện thay một số hành vi pháp lý nhất định
trong phạm vi thẩm quyền đại diện của mình 11.
Ủy quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ đại diện giữa người đại diện và
người được đại diện, đồng thời nó cũng là cơ sở để người ủy quyền tiếp nhận các
kết quả pháp lý do hoạt động đại diện mang lại. Vì vậy khi ủy quyền phải xác định
rõ phạm vi, thẩm quyền đại diện, thời gian đại diện…
- Năng lực chủ thể: các chủ thể tham gia trong quan hệ đại diện theo ủy
quyền phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp được quy
định tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 là “Người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp
luật quy định giao dich dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập,
thực hiện”. Quy định này đã thay thế cho khoản 2 Điều 152 Bộ luật dân sự 1995
“Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền”. Từ hai quy định
trên ta thấy Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng phạm vi người đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện trong quan hệ đại diện theo ủy quyền có thể được hưởng một
số lợi ích từ quan hệ đại diện nếu các bên có thỏa thuận.
Chủ thể được đại diện theo ủy quyền bao gồm đại diện theo ủy quyền đối cá
nhân, đại diện theo ủy quyền đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các chủ thể
trong từng trường hợp cụ thể sẽ được người viết trình bày ở chương hai.
1.4 Điều kiện, thẩm quyền và nghĩa vụ của chủ thể đại diện
1.4.1 Điều kiện để trở thành người đại diện
Bộ luật dân sự 2005 không có quy định về điều kiện để một chủ thể trở thành
được đại diện sẽ đưa ra tiêu chí, điều kiện để chọn người đại diện, nhất là đối với
người đại diện cho chủ thể được đại diện là cá nhân và pháp nhân.
Ví dụ: tại khoản 2 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2005 đã đưa ra tiêu chuẩn và
điều kiện của người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên là phải có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị
cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong
quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty…
Còn đối với người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác để trở thành người đại
diện theo ủy quyền thì ngoài điều kiện về năng lực chủ thể, người đại diện còn phải
là thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác đó. Điều này được thể hiện theo quy định
tại điểm 2 khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2005 “Chủ hộ có thể ủy quyền cho
thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự”. Tại Điều
113 Bộ luật dân sự 2005, khoản 1 điểm 2, người đại diện theo ủy quyền của tổ hợp
tác “Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc
nhất định cần thiết cho tổ”.
1.4.2 Quyền của người đại diện
Quyền hạn của người đại diện là thực hiện các hành vi pháp lý nhân danh
người được đại diện và tùy theo từng trường hợp đại diện mà việc đại diện này sẽ
mang lại các quyền lợi và nghĩa vụ dân sự cho người được đại diện trong phạm vi
đại diện. Chính quyền hạn này sẽ quy định nội dung, phạm vi và chức năng của
người đại diện.
Quyền hạn của người đại diện có điểm chung với các quyền dân sự của chủ
thể khác nói chung là chỉ phát sinh khi có những điều kiện pháp lý nhất định.
Nhưng đối với quan hệ đại diện nó còn có thể phát sinh trên cơ sở: các quy định của
pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ sở ủy
quyền. Dựa vào các căn cứ xác lập đại diện mà có thể có cách thức xác định quyền
hạn của người đại diện.
- Đối với đại diện theo pháp luật: là đại diện được xác lập do ý chí của nhà
nước, trao quyền cho một người để người này nhân danh người được đại diện xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự. Sự đại diện này không bị hạn chế hoặc bị chi phối
tỉnh B, yêu cầu được nhận số tiền tuất hàng tháng của ông Có mà cháu Du được
hưởng12.
Với tình huống trên, người được hưởng quyền lợi là cháu Du con của bà Siêu
và ông Có. Bà Siêu là người đại diện cho cháu Du kiện bảo hiểm tỉnh B để đòi
quyền lợi cho cháu Du. Theo đó ta thấy rằng, yếu tố ảnh hưởng đến việc người đại
diện phải hành động vì lợi ích của người được đại diện là:
Đối với đại diện theo pháp luật thì việc hành động vì lợi ích của người được
đại diện còn là việc người đại diện thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và
bổn phận của mình,
Còn đối với đại diện theo ủy quyền thì việc bảo đảm lợi ích cho người được
đại diện là việc người đại diện hành động đúng như theo thỏa thuận, hợp đồng ủy
quyền mà mình đã ký kết. Do đó, người đại diện hành động vì lợi ích của người
được đại diện là nghĩa vụ quan trọng nhất của người đại diện.
12
Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự. Xem thêm: [21/10/2009].
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
17
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
- Người đại diện thực hiện công việc đại diện phải trong phạm vi, thẩm
quyền đại diện:
Phạm vi, thẩm quyền đại diện là một khuôn khổ bắt buộc người đại diện phải
nhân, tổ chức ( sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc
GVHD: Nguyễn Văn Khuê
18
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Đề tài: Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – lý luận và thực tiễn
được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự ( sau đây gọi chung là người
được giám hộ)”.
Như vậy, giám hộ là một chế định nhằm khắc phục tình trạng của người
không thể bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ trong các
giao dịch dân sự, vì họ là những người không có năng lực hành vi dân sự, năng lực
hành vi dân sự chưa đầy đủ.
Từ khái niệm của chế định đại diện và chế định giám hộ được quy định trong
Bộ luật dân sự 2005, ta thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế
định giám hộ với chế định đại diện:
* Điểm tương đồng:
Mục đích ban hành quy định pháp luật: nhà nước ta ban hành chế định giám
hộ và chế định đại diện điều có chung mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, đảm bảo cho họ có thể hưởng đầy đủ quyền công dân của mình. Cả hai
chế định này điều được quy định trong Bộ luật dân sự 2005.
Cả hai chế định điều thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội
đối với người không đủ điều kiện về năng lực hành vi dân sự để có thể tham gia vào
các giao dịch dân sự nhưng có thể được hưởng đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ
công dân thông qua người đại diện hoặc giám hộ.
tuổi làm đại diện.
- Mục đích khi xác lập mối quan hệ:
+ Người giám hộ tham gia quan hệ giám hộ để thực hiện việc chăm sóc và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự. Trong các giao dịch dân sự thực hiện vì người được giám hộ thì người
giám hộ đồng thời là người đại diện cho người được giám hộ và họ thực hiện công
việc giám hộ không vì mục đích thù lao.
+ Còn người đại diện trong phạm vi đại diện theo ủy quyền, họ xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, nếu có thỏa
thuận thì người đại diện sẽ nhận được thù lao từ công việc đại diện này.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên:
+ Đối với người giám hộ thì quyền và nghĩa vụ của họ được quy định chi tiết
tại Điều 68 Bộ luật dân sự 200513. Trong số những quyền mà họ có thì đáng chú ý
là người giám hộ có quyền quản lý và sử dụng tài sản của người được giám hộ (nếu
có) để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và sử dụng tài sản đó để chi tiêu cho
việc chăm sóc, nuôi dưỡng người được giám hộ. Trong số các nghĩa vụ mà người
giám hộ phải thực hiện thì nổi bật lên nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục hoặc bảo đảm
việc điều trị bệnh cho người được giám hộ.
+ Đối với người đại diện theo ủy quyền thì quyền và nghĩa vụ của họ gắn
liền với phạm vi đại diện, được xác định chủ yếu thông qua sự thỏa thuận giữa các
bên được thể hiện bằng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền hoặc bằng miệng.
1.6 Sơ lược lịch sử phát triển của chế định đại diện trong Bộ luật dân sự Việt
Nam
* Nguồn gốc xuất hiện của chế định đại diện
13
Điều 68 Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền của người giám hộ: “Người giám hộ có các quyền sau
đây:
1. Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của người