Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 34 (2008 – 2012)
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA KHÁCH HÀNG
KHI THAM GIA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
NHÂN THỌ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Khiếu Thị Bích Vân
MSSV: 5086092
Lớp: Luật thương mại 1 – K34
Cần Thơ, tháng 5/2012
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 1
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 4
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
đồng bảo hiểm nhân thọ.......................................................................................................
19
1.5 Pháp luật điều chỉnh các vấn đề về bảo vệ quyền lợi khách hàng khi tham gia
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ..............................................................................................
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 5
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
21
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA KHÁCH HÀNG KHI THAM GIA HỢP
ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ ......................................................................................23
2.1 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ .......................................................................................24
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.................................................................24
2.1.1.1 Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ .........................................24
2.1.1.2 Bên mua bảo hiểm ..............................................................................................25
2.1.1.3 Người hưởng quyền lợi từ hợp đồng bảo hiểm....................................................26
2.1.2 Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ .............................................................26
2.1.3 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ .............................................................27
2.1.4 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ...............................................................28
2.1.4.1 Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ..................................28
2.1.4.2 Một số điều khoản đặc thù của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ..............................29
2.1.4.3 Điều khoản mẫu trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ...........................................30
2.2 Quy chế pháp lý về bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng
PHỤ LỤC
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 7
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có một bước phát triển khá cao và ổn định so với cá
nước trong khu vực và trên thế giới. Để đạt được thành quả đó có sự đóng góp của tất
cả các ngành, thành phần kinh tế, trong đó phải kể đến dịch vụ bảo hiểm – ngày càng
phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng. Kinh doanh bảo hiểm nói chung và
bảo hiểm nhân thọ nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Nó không chỉ góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất mà còn là một công
cụ tín dụng, với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty
bảo hiệm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham
gia bảo hiểm để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh, bảo hiểm còn góp phần
thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế với nước ngoài, giúp các cơ quan bảo hiểm của
Việt Nam có cơ hội để trao đổi nghiệp vụ và nâng cao trình độ với các cơ quan và tổ
chức nuớc ngoài, trao đổi kinh nghiệm, phát triển các loại hình bảo hiểm có thể áp
dụng vào thực tiễn ở Việt Nam. Đó là những bằng chứng không thể phủ nhận vai trò
to lớn cũng như một tương lai phát triển của bảo hiểm nhân thọ trong thực tế.
Vì vậy, vấn đề bảo hiểm nhân thọ ngày càng đuợc quan tâm nhiều hơn bên cạnh
những đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước, bảo hiểm nhân thọ và vấn đề
bảo hiểm nhân thọ, tính phức tạp và khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, thông
qua đó bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi họ tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ, xem xét tính chính xác, đúng đắn và hiệu quả của các quy định đó trên cơ sở
khoa học và thực tế. Từ đó, người viết ghi nhận những điểm chưa phù hợp, những
thiếu sót và cuối cùng đưa ra những kiến nghị giải pháp đối với những vấn đề đang
tồn tại. Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việc nghiên cứu này là đóng góp một
phần nhỏ trong việc xây dựng hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả và khả thi hơn để
các khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ được bảo vệ quyền lợi
một cách tốt nhất.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành tốt luận văn này, người viết đã sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở;
- Phương pháp liệt kê;
- Phương pháp phân tích luật viết;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế;
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và quyền lợi
của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Quy chế pháp lý về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và bảo vệ quyền
lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt
Nam
Chương 3: Những tồn tại trong vấn đề bảo vệ quyền lợi khách hàng khi tham
gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và một số giải pháp đề xuất
Do hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như lần đầu người viết nghiên cứu về một
đề tài khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận
với các rủi ro bằng cách đem tiền cho người khác vay. Khi việc vận chuyển hàng hóa
đã hoàn tất một cách an toàn, các thương nhân này sẽ bắt người vay tiền hoàn trả
khoản vay, kèm theo đó là tiền lời. Vào năm 2100 trước Công nguyên, đạo luật
Hammurabi ra đời đã đặt hoạt động cho vay của các doanh nhân vào khuôn khổ pháp
luật. Đạo luật này đã chính thể hóa các khái niệm “bottomry” (chỉ việc mượn tiền trên
cơ sở lấy tàu làm bảo đảm) và “respondentia” (chỉ hàng hóa vận chuyển bằng đường
thủy. Các khái niệm này đã đặt nền móng cho việc thực hiện các hợp đồng bảo hiểm
hàng hải. Các hợp đồng loại này gồm 3 yếu tố: khoản vay căn cứ vào giá trị tàu, hàng
hóa hay cước vận chuyển, lãi suất, khoản phụ thu cho các trường hợp mất mát có thể
xảy ra. Trên thực tế, khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, chủ tàu là người được bảo
hiểm, còn chủ cho vay là người đánh giá rủi ro.
Ý niệm cộng đồng hóa tổn thất ở Trung Quốc cổ đại từ thế kỷ 40 trước công
nguyên thể hiện ở phương thức phân tán hàng hóa của các chủ hàng để chuyên chở
trên nhiều thuyền khác nhau để “phân tán rủi ro” không để chủ hàng nào phải chịu
tổn thất lớn khi tàu thuyền không may bị nạn1. Lúc bấy giờ bọn cướp biển hoành
hành khắp nơi, do vậy để hạn chế rủi ro, khi ra khơi người ta thường bố trí cho nhiều
tàu chia nhau chở kèm một phần hàng hóa của một chiếc tàu khác, phòng khi có một
chiếc tàu bị bọn cướp biển tấn công thì phần hàng còn lại chở trên những chiếc tàu
kia không bị cướp.
Bảo hiểm nhân thọ xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại không lâu sau đó. Tại
đây người ta đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên,
ngoài ra hội cũng hỗ trợ tài chính cho thân nhân người chết. Khoảng năm 450 sau
Công nguyên, đế quốc La Mã bị sụp đổ dẫn đến việc hầu hết các khái niệm của bảo
hiểm nhân thọ bị lãng quên. Tuy nhiên các mặt tính chất của nó thì vẫn không thể
1
Luật gia Lê Quang Liêm, Các định chế hướng dẫn Kinh doanh bảo hiểm, NXB Thống kê 1998
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
và tiến hành các hợp đồng buôn bán. Mặc dù được sử dụng như một công cụ hạn chế
rủi ro, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ vẫn bị cuốn vào trò đỏ đen vốn được xem là bản
năng của tầng lớp tiểu tư sản Anh đang phát triển rất mạnh mẽ lúc bấy giờ. Khi đó
nạn cá cược lan tràn khắp nơi, thậm chí nếu đọc báo thấy tin có một nhân vật tiếng
tăm nào đấy đang bị bệnh nặng sắp chết, người ta liền phỏng đoán ngày chết của
nhân vật này, sau đó đổ về Nhà hàng Cà phê Lloyd's để đặt cược cho ngày chết ấy.
Để thể hiện sự phản đối đối với trò cá cược này, vào năm 1679 đã có 79 nhà thầu bảo
hiểm quyết định ly khai ra khỏi Nhà hàng Cà phê Lloyd's. Hai năm sau họ chung tay
lập nên Nhà hàng Cà phê Lloyd's mới, nơi được công chúng biết tới với cái tên
“Lloyd's chân chính”. Đến năm 1774, Quốc hội Anh ra sắc lệnh cấm tổ chức tham gia
cá cược trên ngày chết của con người, từ đó vấn nạn này mới chấm dứt. Tuy nhiên, có
thể nói rằng nước Anh vẫn được xem là cái nôi của bảo hiểm nhân thọ với sự ra đời
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 12
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
của công ty Equitable vào năm 1762, là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế
giới. Bản hợp đồng đầu tiên của công ty là “hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời”.
Sau đó 7 năm, vào năm 1769, tiến sĩ Richard Pirice, chuyên gía tư vấn kỹ thuật bảo
hiểm của công ty đã hoàn thiện các phương pháp tính toán phí bảo hiểm nhân thọ một
cách hoàn chỉnh.
Ở Hoa Kỳ, ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa kỳ được xây dựng trên mô
hình bảo hiểm Anh. Vào năm 1735, công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời
ở Charleston, thủ phủ bang South Carolina. Vào năm 1759, Hội nghị Giáo hội
Trưởng lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn Bảo hiểm nhân thọ đầu
Trang 13
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1954 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam đã tồn tại 57 công ty bảo hiểm dưới nhiều loại
hình pháp lý: công ty cổ phần, công ty tuơng hỗ và công ty bảo hiểm nước ngoài. Sau
năm 1975, một số công ty bảo hiểm tư nhân ở miền Nam đã được quốc hữu hóa và
sáp nhập vào Công ty bảo hiểm Việt Nam3.
Ở miền Bắc, vào năm 1964, Chính phủ đã ký quyết định 1979/CP ngày
12/07/1964 cho phép thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo
Việt) trực thuộc Bộ Tài Chính. Bảo Việt chính thức hoạt động vào tháng 01 năm
1965, thực hiện hai chức năng quản lý Nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, tái
bảo hiểm. Sự độc quyền khiến hoạt động bảo hiểm trước năm 1990 được biết đến
dưới tên là bảo hiểm nhà nước. Mặc dù có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo
hiểm duy nhất, nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc chia
sẻ rủi ro của những ngành kinh tế quan trọng như ngoại thương, vận tải biển thông
qua hoạt động bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và hoạt động đại lý giám định cho các
công ty bảo hiểm của các nước Xã hội chủ nghĩa.
Bảo Việt là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính
thống nhất quản lý công tác bảo hiểm nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo
hiểm trong cả nước. Giai đoạn này Bảo Việt đã tổ chức triển khai nhiều loại hình
nghiệp vụ bảo hiểm mới cho các khách hàng trong và ngoài nước, tiến tới tự cân đối
thu chi ngoại tệ vào năm 1986 và tự nâng cấp lên thành tổng công ty bảo hiểm Việt
Nam có chi nhánh ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Cũng trong giai đoạn này,
Bảo Việt mới bắt đầu có những bước nghiên cứu đầu tiên nhằm đưa bảo hiểm nhân
thọ vào Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế trong những năm cuối
thập kỷ 80 của thế kỷ XX còn rất chậm, tốc độ lạm phát còn khá cao, vì vậy không
triển của ngành bảo hiểm thương mại nói chung cũng như lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
nói riêng ở Việt Nam sau này. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm
trong và ngoài nước đã tạo ra sự cạnh tranh nhằm nâng cao chất lượng bảo hiểm và
tạo điều kiện cho mạng lưới trung gian bảo hiểm hình thành và phát triển như: Tổ
chức môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, công ty bảo hiểm tương hỗ, công ty tái bảo
hiểm.
Ngày 3/5/1999, Ban tổ chức cán bộ Chính Phủ đã có quyết định phê duyệt Điều
lệ của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã lấy ngày 3/5 làm
ngày hội truyền thống hàng năm của những người làm bảo hiểm ở Việt Nam.
Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm không ngừng được hoàn thiện,
chỉnh sửa và bổ sung. Ngày 09 tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm được
Quốc hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa X
và có hiệu lực từ ngày 1/4/2001, đặt nền móng pháp lý cơ bản cho sự phát triển thị
trường bảo hiểm Việt Nam.
1.2 Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ
Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của các rủi ro
trong cuộc sống. Thực tế cuộc sống của con người luôn tồn tại rủi ro như một tất yếu
khách quan như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn... Mặc dù ngày nay, khi mà khoa học kỹ
thuật đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng để chế ngự thiên nhiên và hạn chế rủi
ro, song chính con người đã gây ra những rủi ro mới với tính chất và mức độ rủi ro
trầm trọng hơn. Nói một cách khác, rủi ro là một người bạn đồng hành đáng lo ngại
trong cuộc sống mà dù muốn hay không con người cũng phải chấp nhận nó.
Đời sống con người ngày càng tăng lên, do đó họ không chỉ muốn đảm bảo
rủi ro cho công việc kinh doanh mà còn muốn đảm bảo cho bản thân, cho gia đình họ,
từ đó, bảo hiểm nhân thọ ra đời. Vì một trong những hình thức khắc phục rủi ro tốt
nhất là chuyển giao rủi ro cho các công ty bảo hiểm. Khi rủi ro xảy ra với một thành
viên thì hậu quả của nó sẽ được phân tán, sẽ được số đông còn lại của cộng đồng
cùng gánh chịu. Đó chính là cách xử lý và khắc phục rủi ro tốt nhất trong xã hội, thực
hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất
định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền bảo hiểm này được trả cho các
thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may mất sớm. Số
tiền này giúp họ trang trải những chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí
giáo dục con cái... Chính vì vậy bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa
mang tính rủi ro. Tính tiết kiệm được thể hiện ngay trong từng gia đình, cá nhân một
cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật.
Nội dung tiết kiệm khi mua bảo hiểm nhân thọ khác với các hình thức tiết
kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm bảo đảm trả cho người tham gia bảo hiểm hay thân
nhân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền
nhỏ. Có nghĩa là khi người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn đã
được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 16
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong bảo hiểm
nhân thọ.
Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất da dạng và phức tạp
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được thể hiện
ở ngay trong các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều
loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn có loại bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn là 5
năm, 10 năm, 20 năm, mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền bảo
hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia... Ngay cả trong một bản
Trang 17
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm tử kỳ:
Bảo hiểm tử kỳ là loại hình bảo hiểm được ký kết cho cái chết xảy ra trong
thời gian quy định của hợp đồng, nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì
người được bảo hiểm không nhận được bất kỳ một khoản phí nào từ số phí bảo hiểm
đã đóng, ngược lại nếu cái chết xảy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng thì
người bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
quyền lợi bảo hiểm được chỉ định.
Bảo hiểm sinh kỳ:
Bảo hiểm sinh kỳ là loại bảo hiểm mà người bảo hiểm cam kết chi trả những
khoản tiền đều đặn trong suốt khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời
người mua bảo hiểm. Nếu người mua bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán
thì sẽ không được chi trả bất kỳ khoản tiền nào.
Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm kết hợp trường hợp sống và trường
hợp chết. Theo đó, công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đã được ấn định
trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng hoặc khi
người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng.
Bảo hiểm trả tiền định kỳ
Bảo hiểm trả tiền định kì là loại hình bảo hiểm theo đó công ty bảo hiểm cam
kết chi trả những khoản tiền cố định cho người được bảo hiểm, bắt đầu từ một độ tuổi
nhất định.
Những khoản tiền này thường được mô tả là khoản tiền hằng năm (niên kim),
mặc dù trong thực tế nó có thể được trả mỗi nửa năm, hằng quý hoặc hằng tháng.
Niên kim có thể được trả ngay vào thời điểm kí kết hợp đồng hoặc trả sau, khi hợp
nghiệp bảo hiểm chi trả để bù đắp những thiệt hại khi rủi ro xảy ra), bảo hiểm nhân
thọ còn có tính tiết kiệm, giúp bên mua bảo hiểm có thể thực hiện được mục đích của
mình khi được doanh nghiệp bảo hiểm trả số tiền bảo hiểm.
Cụ thể việc tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng đồng nghĩa với việc thể hiện sự
quan tâm lo lắng của người chủ gia đình với người phụ thuộc, giữa cha mẹ với con
cái đồng thời làm giảm bớt những khó khăn về mặt tài chính của gia đình khi không
may gặp rủi ro. Tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng là một cách tiết kiệm thường
xuyên có kế hoạch. Khi quyết định mua một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì những
khoản phí nhỏ phải nộp hàng tháng trích từ ngân sách của một gia đình có thể coi như
những khoản chi tiền điện, tiền nước, tiền nhà... Trong điều kiện kinh tế phát triển và
ổn định, những gia đình có thu nhập, chi tiêu ở mức cao trích một khoản tiền để mua
bảo hiểm nhân thọ thì không ảnh hưởng đến chi tiêu trong một tháng của gia đình đó
và như vậy hàng tháng họ đã tiết kiệm được một khoản tiền nhất định. Khoản tiền tiết
kiệm này thực chất đã tạo lập được nguồn quỹ nhất định cho gia đình. Góp phần để
giáo dục con cái và có một khoản để chi dùng khi về hưu.
1.2.4.2 Vai trò của bảo hiểm nhân thọ đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế, cùng với các thị trường ngân hàng, bất động sản, chứng
khoán, thị trường bảo hiểm là công cụ huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng, đầu tư
phát triển sản xuất thông qua việc doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm từ bên
mua bảo hiểm và dùng số tiền này để đầu tư. Doanh nghiệp bảo hiểm do đó đã trở
thành một trong những tổ chức tài chính hữu hiệu trong công cuộc đầu tư, phát triển
kinh tế đất nước. Trước xu thế hội nhập của nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế
giới, thông qua hình thức nước ta gia nhập các tổ chức AFTA (Khu vực thương mại
tự do ASEAN), APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương), WTO
(Tổ chức Thương mại Thế giới), việc huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế cần
thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo nên một lối sống
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 19
Bên được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có ba chủ thể
sau đây:
Thứ nhất, người được bảo hiểm là người mà sinh mạng và cuộc sống của
họ được bảo hiểm theo các điều kiện của hợp đồng. Người được bảo hiểm có thể là
những người đã trưởng thành có đủ năng lực pháp lý để tự ký hợp đồng cho chính
mình và cũng có thể là người chưa đủ độ tuổi thành niên phải giao tên của mình cho
người khác đứng ra ký hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, người tham gia bảo hiểm là người đứng ra yêu cầu bảo hiểm thỏa
thuận và ký kết hợp đồng. Người tham gia bảo hiểm phải bảo đảm quy định của pháp
luật về năng lực pháp lý.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 20
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thứ ba, người được hưởng quyền lợi về bảo hiểm là người được nhận số
tiền về bảo hiểm hoặc các khoản trợ cấp do công ty bảo hiểm thanh toán như đã nêu
rõ trong hợp đồng. Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm do người tham gia bảo
hiểm chỉ định.
1.3.2 Đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có đối tượng là tuổi thọ của con người.
Đặc điểm này rất quan trọng và có ý nghĩa chi phối các đặc điểm khác. Tuổi thọ của
con người chính là quá trình kéo dài từ khi sống đến khi chết của người đó. Chính vì
vậy, nghĩa vụ khai báo đúng tuổi thọ của người được bảo hiểm là rất quan trọng. Căn
cứ vào độ tuổi của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xác định xem
người đó có thuộc nhóm tuổi tham gia bảo hiểm hay không cũng như tính toán được
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
hiểm nhân thọ AIA (Việt Nam) thì ngoài sản phẩm bảo hiểm chính “An tâm tịnh
dưỡng” khách hàng còn tham gia thêm sản phẩm bảo hiểm bổ sung là “Bảo hiểm tử
vong do tai nạn” và “Hỗ trợ chi phí nằm viện”. Theo đó, ngoài các quyền lợi khách
hàng nhận được từ hợp đồng bảo hiểm chính, sản phẩm bảo hiểm bổ sung “Bảo hiểm
tử vong do tai nạn” còn hỗ trợ chi phí khi chẳng may khách hàng tử vong do gặp tai
nạn, và sản phẩm “Hỗ trợ chi phí nằm viện” sẽ là giải pháp hỗ trợ tài chính trong
trường hợp khách hàng phải nhập viện chữa trị.
Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng bảo hiểm dài hạn. Thời
hạn của các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài
hạn tùy theo sự thỏa thuận của các bên và tùy thuộc vào đối tượng của hợp đồng, thời
hạn ngắn nhất của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hiện nay được các doanh nghiệp bảo
hiểm cung cấp là năm năm. Tính dài hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhằm đảm
bảo quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong hoạt động đầu tư đồng thời đáp ứng
được mục đích tiết kiệm của bên mua bảo hiểm.
Thứ năm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có tính tiết kiệm đối với bên mua bảo
hiểm. Tính tiết kiệm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện ở chỗ việc tham gia
bảo hiểm nhân thọ cũng giống như việc gởi tiết kiệm, bên mua bảo hiểm dùng từng
khoản tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, người thụ hưởng
có thể được khoản tiền lớn hơn. Tính tiết kiệm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn
được đánh giá cao không chỉ do gắn liền với yếu tố bảo hiểm mà còn thể hiện đây là
tiết kiệm bắt buộc4.
Thứ sáu, nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bao gồm các điều khoản
mẫu. Đây là những điều khoản được doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo sẵn, bên mua
bảo hiểm nếu chấp nhận giao kết hợp đồng thì phải chấp nhận toàn bộ nội dung các
điều khoản mẫu.
1.3.3 Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
lợi ích dành cho bên mua bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể được phân loại theo thời hạn thực hiện
hợp đồng. Theo đó hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hai loại là: hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ có xác định thời hạn và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không xác định thời
hạn.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có xác định thời hạn là loại hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ mà các bên thỏa thuận trước thời hạn của hợp đồng. Trong thời hạn đó
hoặc kết thúc thời hạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nếu
xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không thời hạn là loại hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ mà trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ kết thúc khi người
được bảo hiểm chết hoặc người thụ hưởng đã nhận hết quyền lợi bảo hiểm. Các
nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng hợp đồng dạng này là hợp đồng bảo hiểm trọn đời và
bảo hiểm trả tiền định kỳ.
Hợp đồng bảo hiểm trọn đời là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà doanh
nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền cho người thụ hưởng nếu người được bảo
hiểm chết vào bất cứ thời điểm nào.
Hợp đồng bảo hiểm trả tiền định kỳ là loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
mà doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền định kỳ cho người được thụ hưởng
nếu người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định như đã thỏa thuận. Việc
trả tiền định kỳ này chỉ kết thúc khi người được bảo hiểm chết hoặc người thụ hưởng
đã nhận hết quyền lợi bảo hiểm. Đây là nghiệp vụ bảo hiểm có nội dung tương tự như
chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội.
1.3.4 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chủ thể của Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bao gồm hai bên là bên bảo hiểm và
bên mua bảo hiểm. Ngoài ra trong Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có các chủ thể
liên quan như người được bảo hiểm và người thụ hưởng.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
bên mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm). Quyền lợi có thể được bảo hiểm được
hiểu là những lợi ích của bên mua bảo hiểm về vật chất hoặc tinh thần đối với đối
tượng được bảo hiểm. Nếu đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại thì đó được coi là tổn thất
thật sự của bên mua bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thỏa mãn những
điều kiện sau đây: Một là, quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thật sự tồn tại tại thời
điểm giao kết hợp đồng. Hai là, quyền lợi có thể được bảo hiểm phải là quyền lợi hợp
pháp. Quyền lợi không hợp pháp được hiểu là những lợi ích được hình thành từ
những quan hệ hoặc hành vi không được pháp luật thừa nhận. Nếu bên mua bảo hiểm
và người được bảo hiểm là quan hệ thân thuộc gần gũi, thì mặc nhiên được pháp luật
thừa nhận là có lợi ích bảo hiểm. Nếu không chỉ được coi là lợi ích bảo hiểm nếu như
bên mua bảo hiểm phải chịu tổn thất tài chính thật sự nếu rủi ro xảy ra.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 24
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân
Bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.3.4.3 Những chủ thể liên quan trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Những chủ thể liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là người được bảo
hiểm và người thụ hưởng. Những chủ thể này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan
hệ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ giữa bên mua bảo hiểm và bên doanh nghiệp bảo
hiểm. Những chủ thể được coi là chủ thể liên quan của hợp đồng vì:
Những chủ thể này không phải là những chủ thể ký kết hợp đồng, tức là
những chủ thể có hành vi làm phát sinh quan hệ hợp đồng.
Những chủ thể này được chỉ định cụ thể và có những quyền và nghĩa vụ
nhất định, nhưng những quyền và nghĩa vụ ấy chỉ phát sinh từ những thỏa thuận của
các bên ký kết hợp đồng.
SVTH: Khiếu Thị Bích Vân