LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại địa vị PHÁP lý của đại DIỆN và NGƯỜI đại DIỆN PHẦN vốn góp của NHÀ nước tại các DOANH NGHIỆP KHÁC - Pdf 48

Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bộ Môn Luật Kinh doanh thương mại

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 31 (2005-2009)

Đề tài:
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI DIỆN VÀ
NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ NƯỚC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHÁC

Cán bộ hướng dẫn:
TS. Dư Ngọc Bích

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Nam Phương
MSSV: 5054880
Lớp: Luật Thương mại 2 -K31

Cần Thơ, tháng 4 năm 2009

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 1

SVTH: Nguyễn Nam Phương




Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
--------oOo-------_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

_______________________________________________________
_______________________________________________________
_______________________________________________________

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 4

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

MỤC LỤC
---oOo--Nội dung
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ----------------------------------------------------------------------------- 08

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ SỞ HỮU, CƠ CHẾ, MÔ HÌNH QUẢN LÝ
SỬ DỤNG VỐN VÀ ĐẠI DIỆN, NGƯỜI ĐẠI DIỆN QUẢN LÝ
VỐN NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát chung về chính sách, cơ chế, nguyên tắc quản lý sử dụng vốn

Nhà nước và Đại diện, Người đại diện quản lý vốn Nhà nước -------------------- 12
1.1.1. Khái quát chung về chính sách, cơ chế quản lý sử dụng vốn Nhà nước và
Đại diện, Người đại diện quản lý vốn Nhà nước trong những năm qua---------- 12
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1990 ---------------------------------------------- 12
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1990 đến nay ----------------------------------------- 13
1.1.2. Mô hình và nguyên tắc quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp-- 16

1.3.6 Doanh nghiệp có vốn đầu tư của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh
vốn Nhà nước (SCIC) ------------------------------------------------------------------- 30
1.3.7

Người đại diện của SCIC ------------------------------------------------------- 31

CHƯƠNG 2
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI DIỆN, NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN GÓP
CỦA NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHÁC
2.1 Địa vị pháp lý của đại diện và người đại diện phần vốn góp của Nhà nước
tại các doanh nghiệp khác ---------------------------------------------------------------- 33
2.1.1

Địa vị pháp lý của đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các

doanh nghiệp khác --------------------------------------------------------------------- 34
2.1.2

Địa vị pháp lý của người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại

các doanh nghiệp khác ----------------------------------------------------------------- 36
2.1.2.1 Tiêu chuẩn của Người đại diện -------------------------------------- 36
2.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Người đại diện ---------------------------- 38
2.1.2.3 Tiền lương, thưởng và quyền lợi của Người đại diện------------- 40
2.2 Địa vị pháp lý của SCIC và người đại diện của SCIC tại các doanh nghiệp

có phần vốn góp của SCIC---------------------------------------------------------------- 42
2.2.1 Địa vị pháp lý của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
đối với phần vốn Tổng công ty đầu tư tại các doanh nghiệp----------------------- 42
2.2.1.1 Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ------------ 42

các doanh nghiệp trong thời gian qua và một số kiến nghị ------------------------ 54
3.2 Thực tiễn hoạt động của SCIC, người đại diện SCIC và một số
kiến nghị -------------------------------------------------------------------------------- 60
3.2.1 Thực tiễn hoạt động của SCIC-------------------------------------------------- 60
3.2.1.1 Một số kết quả đạt được ---------------------------------------------- 60
3.2.1.2 Những khó khăn, vướng mắc và hướng hoàn thiện --------------- 63
3.2.2 Thực tiễn hoạt động của Người đại diện SCIC ------------------------------- 68
3.2.2.1 Những kết quả đạt được ---------------------------------------------- 68
3.2.2.2 Khó khăn, hạn chế và hướng hoàn thiện --------------------------- 70

KẾT LUẬN -------------------------------------------------------------------------------- 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 7

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

LỜI NÓI ĐẦU
----oOo---1. Lý do chọn đề tài
Suốt một khoảng thời gian dài và cho đến nay, kinh tế nhà nước vẫn đóng vai
trò chủ đạo. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thật sự hoạt động không
hiệu quả, theo đánh giá của các chuyên gia “Tốc độ tăng trưởng của DNNN còn chậm,
hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của DNNN còn thấp, chưa tương xứng với


Trang 8

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

phần tạo nên tình trạng tham nhũng… thì cần phải xem xét lại. Đại diện và Người đại
diện phần vốn góp của Nhà nước là những người thay mặt Nhà nước quản lý phần vốn
Nhà nước tại doanh nghiệp, có thể nói vai trò của họ thật sự rất quan trọng. Vấn đề là
họ là ai, do ai cử ra, vai trò và trách nhiệm của họ được thể hiện như thế nào trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp? Họ đã thực hiện đúng hay
chưa? Cần phải làm gì để nâng cao năng lực và trách nhiệm của những người này?...
Để trả lời cho những câu hỏi này người viết đã quyết định thực hiện luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Địa vị pháp lý của đại diện và Người đại diện phần vốn góp của
Nhà nước tại các doanh nghiệp khác”.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu những quy định cụ thể của pháp luật về đại diện chủ sở hữu Nhà nước
và người đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác. Tìm
hiểu về cơ chế và nguyên tắc quản lý vốn Nhà nước trong thời gian qua, những mô
hình trên thế giới về vấn đề này, cùng với việc nghiên cứu quyền hạn và nghĩa vụ của
chủ sở hữu Nhà nước, của những người được chủ sở hữu phân công, phân cấp làm đại
diện, người đại diện cho phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp khác, thực tiễn hoạt
động của họ trong thời gian qua, từ đó người viết có những đề xuất, gợi mở… nhằm
hoàn thiện hơn nữa vai trò và trách nhiệm của đại diện, người đại diện phần vốn góp
của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác và đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn
thiện mô hình quản lý vốn ở nước ta hiện nay phù hợp với yêu cầu đổi mới DNNN.



5. Kết cấu : bài luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái quát chung về chủ sở hữu, mô hình quản lý sử dụng vốn
Nhà nước.
Trong chương này, người viết trình bày những cơ sở lý luận chung, khái quát
lịch sử hình thành, phát triển của cơ chế quản lý vốn của Nhà nước và chế định “Người
đại diện phần vốn góp của Nhà nước” trong thời gian qua. Sau đó là những định hướng
và nguyên tắc của mô hình quản lý vốn ở trong nước và trên thế giới nhằm làm cơ sở
để định hướng cho việc hoàn thiện ở chương 3. Kết thúc chương, người viết trình bày
một số khái niệm cơ bản và cần thiết trong bài luận văn.
CHƯƠNG 2: Địa vị pháp lý của đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại
các doanh nghiệp khác.
Người viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của vấn đề tại chương này. Cụ thể
là trình bày những điều khoản, quy định của pháp luật liên quan gồm có những quyền
và nghĩa vụ của đại diện và người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh
nghiệp khác nói chung và của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (một
trong những đại diện đặc biệt quản lý vốn Nhà nước)
CHƯƠNG 3: Thực tiễn hoạt động của đại diện và Người đại diện phần vốn
góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác và một số kiến nghị.
Dựa trên những cơ sở pháp lý ở Chương 2, người viết phân tích một số thực tiễn
hoạt động của đại diện và Người đại diện, từ đó rút ra một số kết luận của từng vụ việc.
Và để kết thúc chương, người viết trình bày một số đề xuất, gợi mở nhằm hoàn thiện
hoạt động của Đại diện, Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh
nghiệp khác và mô hình quản lý vốn Nhà nước.
Cuối cùng là phần kết luận lại những vấn đề chung nhất của bài luận văn.

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 10


tới cơ quan tài chính để xử lý.
Từ những nét cơ bản trên đây có thể khẳng định, thời kỳ này, Nhà nước quản lý
trực tiếp vốn của mình tại các doanh nghiệp. Theo đó, dường như chỉ có duy nhất một
chủ sở hữu là Nhà nước, nhưng trên thực tế ai là chủ sở hữu lại không rõ ràng. Khái
niệm đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp thời kỳ này hầu như không
có, doanh nghiệp là người sử dụng vốn nhưng lại không có trách nhiệm gì với đồng
vốn sử dụng, với những rủi ro trong quá trình sử dụng, không quan tâm đến khả năng

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 11

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

sinh lời của đồng vốn, chính vì vậy nền kinh tế, chủ yếu dựa vào DNNN thời kỳ này
phát triển rất chậm chạp, yếu kém. Vì vậy, kể từ sau năm 1990, Nhà nước đã bắt đầu
tiến hành một loạt các biện pháp nhằm cải cách khối DNNN, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, của cơ chế thị trường. Cụ thể là:

1.1.1.2 Thời kỳ từ 1990 đến nay
Nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, Nhà nước không
thể quản lý trực tiếp mà phải đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng vốn của mình có tại các
doanh nghiệp. Căn cứ vào chính sách và cơ chế quản lý, sử dụng vốn, có thể chia thời
kỳ này thành hai giai đoạn:
Giai đoạn từ 1990 đến 2003
Năm 1990, bắt đầu từ Quyết định số 388/HĐBT, sau đó là Quyết định số
332/HĐBT ngày 23/10/1991 đã có một bước tiến mới đánh dấu việc chuyển từ cơ chế


chủ sở hữu đối với vốn kinh doanh của mình đầu tư vào doanh nghiệp khác. Bộ Tài
chính, ngoài việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp
trong cả nước, còn giúp Chính phủ giao vốn cho các DNNN do Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập; đại diện vốn nhà nước ở doanh nghiệp khác, nhưng việc cử và bãi
miễn, khen thưởng, kỷ luật người đại diện trực tiếp quản lý lại do Thủ trưởng Bộ ngành
quyết định sau khi thống nhất với Bộ Tài chính. Tuy nhiên, với chính sách và cơ chế
quản lý sử dụng vốn trên đây có thể thấy rõ những nhược điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, tuy đã chỉ rõ người chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu, trách nhiệm
người sử dụng vốn… nhưng vẫn còn nhiều đại diện chủ sở hữu. Thứ hai, chức năng
kinh tế và chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước vẫn còn chưa được tách
bạch rõ ràng, còn chồng chéo giữa các cơ quan nhà nước. Theo Nghị định thì cơ quan
tài chính là người đứng ra giao vốn, nhưng người nhận vốn lại là Bộ quản lý ngành.
Khi phát sinh sự việc, việc phối hợp xử lý các vấn đề rất khó khăn; còn người nhận
quyền sử dụng vốn vẫn nằm trong mối quan hệ với nhiều đại diện chủ sở hữu, điều đó
cũng là kẻ hở trong quản lý người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác.
Thứ ba, vốn của nhà nước là rất lớn nhưng đang bị phân tán, tản mạn trong các loại
hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Chính vì vậy, mặc dù đã có những
bước tiến mới trong việc quản lý nguồn vốn đầu tư tại doanh nghiệp nhưng nhìn chung
những vấn đề cơ bản vẫn chưa được giải quyết, sự chồng chéo chức năng giữa các Bộ,
ngành địa phương vẫn còn tồn tại, cơ chế quản lý người đại diện vẫn còn lỏng lẻo, do
đó Nhà nước lại tiếp tục đổi mới:
Giai đoạn từ 2003 đến nay
Cùng với việc ban hành của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và trên cơ
sở của Luật này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 132/2005/NĐ-CP quy định các
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước; Nghị định số
199/2004/NĐ-CP về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn
nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác. Và mới đây nhất đã ban hành Nghị định
09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2009 về đổi mới Quy chế quản lý tài chính của
công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác. Theo các văn

thời bao cấp2.
Như vậy, cơ chế quản lý vốn cho đến nay đã có một bước đổi mới quan trọng
theo hướng thống nhất về cơ chế đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp. Trên cơ sở
giao vốn, Nhà nước đã giảm nhiều sự can thiệp trực tiếp vào công tác quản lý tài chính
của doanh nghiệp, đồng thời trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp
mang tính thiết thực hơn, hiệu quả hơn. Cơ chế đầu tư kinh doanh vốn đã bước đầu
hình thành và tìm được sự đồng thuận của các cơ quan quản lý và của xã hội. Tuy
nhiên, cơ chế quản lý vốn nhà nước như hiện nay vẫn còn chưa hoàn thiện, chưa nhất
quán và nhiều điểm thiếu cụ thể. Về phía Nhà nước, khi thực hiện quyền chủ sở hữu
đối với doanh nghiệp và triển khai cơ chế quản lý vốn, có quá nhiều cơ quan quản lý
nhà nước tham gia dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau, trách nhiệm các cơ quan
không rõ ràng, vừa sự vụ, vừa lỏng lẻo, kém hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp trong
cơ cấu tổng công ty, sự chồng chéo hai cấp doanh nghiệp đều có pháp nhân và cơ chế
quản lý vốn không kết hợp với cơ chế quản lý về tổ chức – cán bộ đã tạo nên sự lúng
túng, tùy tiện ở các tổng công ty. Ngoài ra, cơ chế quản lý vốn cũng chưa thực sự dựa
trên nguyên tắc thị trường, đối với nhiều DNNN, Nhà nước vẫn bao cấp về tài chính.

2

Ngô Văn Khoa – “Quản lý sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp: Một số kiến nghị” – Thời báo Tài chính

số tháng 7 (521) 2006 – tr. 26

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 14

SVTH: Nguyễn Nam Phương




Các
công ty
con

Vốn góp vào
các công ty
khác

Sở Tài chính

Các tổng công ty do địa
phương thành lập

Các
công ty
con

Vốn góp vào
các công ty
khác

Mô hình quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
Xét về mô hình quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp có thể định hướng một
cách khái quát theo mô hình trên. Tức là, các DNNN sẽ được sắp xếp, tổ chức lại, cổ
phần hóa DNNN theo hướng thu gom đầu mối, hình thành tổng cộng khoảng 20-30 tập
đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Nhà nước sẽ chỉ giao vốn cho các đầu mối là

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích


các Tổng công ty, công ty mẹ tiếp tục thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại
doanh nghiệp cổ phần hóa. Phần vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần nằm trong vốn
chủ sở hữu của Tổng công ty, công ty mẹ. Các công ty hoạt động độc lập theo quy định
của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về phần vốn của mình. Các Tập
đoàn, Tổng công ty cử người đại diện sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, những
người đại diện này được cơ cấu trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc để đảm nhận
vai trò cổ đông nhà nước tham dự vào Đại hội cổ đông hoặc Hội đồng quản trị, quyết
định các vấn đề về kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu chi tài chính, phân phối lợi nhuận
3

Kim Văn Chính –“Đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước khi thực hiện Luật doanh nghiệp thống nhất” - Thời

báo Tài chính số tháng 7 (521) 2006 – tr. 20

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 16

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

sau khi nộp thuế được chia cho các cổ đông góp vốn trong đó có cổ đông Nhà nước.
Đối với các Công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty Nhà nước độc lập trực thuộc
các Bộ ngành, địa phương thì do Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu. Phần vốn Nhà nước tại các Công ty cổ phần
do SCIC tổng hợp và theo dõi.4
Đây là những định hướng đổi mới về mô hình quản lý vốn của Nhà nước ta hiện
nay. Tuy nhiên, để quản lý vốn Nhà nước đạt hiệu quả, ta cần phải xác định được các

nước”– Thời báo Tài chính số 12 (530) 2008 – tr. 24
5

Lê Thị Thanh – “Nguyên tắc và phương pháp quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào họat động kinh doanh” – Thời
báo Tài chính số 7 (521) 2006 – tr. 23

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 17

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

dụng quyền lực, tìm cách trục lợi, liên kết giữa quyền lực và tiền bạc. Để chế độ sở hữu
nhà nước có thể vận hành hiệu quả, Nhà nước phải tạo cơ chế quản lý phù hợp vừa bảo
đảm tài sản phải có chủ sở hữu đích thực, quyền tài sản phải rõ ràng, vừa bảo đảm cho
người sở hữu cuối cùng (người dân) có thể kiểm tra được nguồn vốn của mình.
Nguyên tắc 2: Bảo đảm các quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu
Về nguyên tắc khi đầu tư vốn, chủ đầu tư phải đặt ra những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu quan trọng nhất của các nhà đầu tư trong kinh tế thị trường là: mục
tiêu lợi nhuận (bỏ vốn phải sinh lời); an toàn về mặt pháp lý trong quá trình đầu tư; bảo
đảm minh bạch luồng vận động của các nguồn tài chính. Ngay cả khi Nhà nước là
người đầu tư thì các mục tiêu trên cũng phải được tôn trọng. Bên cạnh mục tiêu kinh tế
- xã hội, an toàn về mặt pháp lý thì quan hệ tài sản giữa Nhà nước với doanh nghiệp
kinh doanh vốn Nhà nước phải được thể hiện một cách minh bạch và tính chất của
quan hệ ấy từ chỗ là quan hệ hành chính phải được chuyển sang quan hệ dân sự - kinh
tế trên cơ sở pháp luật. Khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp (đầu tư trực tiếp), người đầu
tư trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp. Muốn là chủ sở hữu doanh nghiệp phải hội tụ đủ

Sở dĩ có nguyên tắc này là do quan hệ giữa Nhà nước với DNNN được thể hiện
trên hai phương diện cơ bản sau: Thứ nhất, với tư cách tổ chức quyền lực chính trị
công đặc biệt, Nhà nước quản lý DNNN phải bảo đảm DNNN hoạt động độc lập với
các cơ quan nhà nước, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với mọi chủ thể kinh doanh
thuộc các thành phần kinh tế khác. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự chủ về tài
chính, quyền chủ động trong các hoạt động kinh doanh của DNNN, DNNN có nghĩa vụ
nộp thuế và các nghĩa vụ khác với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Thứ hai, với
tư cách chủ sở hữu DNNN, cũng như các chủ sở hữu khác – Nhà nước quyết định nội
dung, sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý doanh
nghiệp, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lý doanh nghiệp; quyết định việc sử
dụng lợi nhuận; tổ chức lại doanh nghiệp.
Với tư cách chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối
với doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, khi đầu tư vốn vào kinh doanh tại các doanh
nghiệp, thì hầu hết các nhà nước đều không phân biệt được quản lý DNNN như thế nào
với tư cách tổ chức quyền lực chính trị công? Và như thế nào với tư cách chủ sở hữu?
Các cơ quan nhà nước hầu như vừa quản lý nhà nước về kinh tế vừa thực hiện chức
năng kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp, trong khi nhiều công chức nhà nước
trình độ quản lý kinh doanh không cao, cứng nhắc, quan liêu, đồng thời do sự can thiệp
quá sâu của các nhà chính trị vào việc kinh doanh của các doanh nghiệp nên mục tiêu
kinh tế của DNNN bị chệch hướng quá nhiều và quy luật cạnh tranh khó phát huy tác
dụng. Điều này cũng đã làm cho những người quản lý, điều hành DNNN bị hạn chế
quyền linh hoạt, đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trường. Các DNNN
thường được Chính phủ bao cấp nên ỷ lại vào Nhà nước hoặc nhiều khi độc quyền Nhà
nước được chuyển thành độc quyền của doanh nghiệp, tạo ra sự cạnh tranh không bình
đẳng. Đồng thời, Chính phủ thường chỉ đạo, điều hành DNNN bằng các mệnh lệnh
hành chính, điều này nhiều khi làm tăng yếu tố “đầu vào”, khó đa dạng hóa sản phẩm
cho phù hợp với những đòi hỏi của thị trường…, từ đó, làm cho mục tiêu hoạt động
của DNNN không được thực hiện.
Chính vì vậy, cải cách cơ chế quản lý vốn nhà nước, về mặt pháp lý, phải xác
lập rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với DNNN, xóa bỏ mối quan hệ hành chính và sự

1.2 CÁC MÔ HÌNH QUỐC TẾ VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHỨC
NĂNG CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
1.3.8 Các mô hình quốc tế về tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu
vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
Hình thành tổ chức chỉ là một khâu của quá trình thực hiện chức năng chủ sở
hữu vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, bao gồm: xác định nội dung chức năng,
chủ thể thực hiện các chức năng, phương pháp thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát
quá trình thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước.
Hình thành tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp là đặc thù của chủ sở hữu vốn nhà nước. Các tổ chức này có chức năng
quản lý và kinh doanh nhằm bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư vào các doanh

6

Lê Thị Thanh – “Nguyên tắc và phương pháp quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào họat động kinh doanh” – Thời
báo Tài chính số tháng 7 (521) 2006 – tr. 23

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 20

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

nghiệp. Thông thường, một chủ thể sở hữu cá nhân hoặc pháp nhân là người thực hiện
hoặc ủy quyền thực hiện các quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Tuy nhiên, Nhà nước thì lại khác, Nhà nước là một chủ thể trừu tượng, trong

doanh nghiệp.
Trong bối cảnh các DNNN ngày càng chuyển sang hoạt động theo chế độ công
ty và để khắc phục tương đối những nhược điểm nêu trên, cơ chế “Bộ trưởng nắm vốn”
thực hiện quyền sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đã xuất hiện. Các nước đều có

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 21

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

cách làm gần giống nhau là giao một Bộ trưởng đảm nhận trách nhiệm đứng tên phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp (gọi tắt là Bộ trưởng đứng tên hay Bộ trưởng nắm vốn).
Trong đa số trường hợp, Bộ trưởng bộ quản lý ngành hay bộ quản lý lĩnh vực có liên
quan của doanh nghiệp thực hiện chức năng này. Cũng có một số nước như New
Zealand áp dụng cơ chế “hai Bộ trưởng đồng nắm vốn” là Bộ trưởng Bộ Tài chính và
Bộ trưởng Bộ quản lý ngành.
Đối với DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty
TNHH, các Bộ trưởng này trở thành cổ đông – thành viên Nhà nước. Nhìn từ góc độ
của doanh nghiệp, chỉ những người đứng tên cổ phần, vốn góp mới là chủ sở hữu của
các cổ phần, vốn góp đó và cũng chỉ có những người này mới có quyền thực hiện
những quyền và nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn trong công ty theo quy định
của pháp luật và điều lệ doanh nghiệp. Đối với các DNNN một chủ sở hữu và không tổ
chức dưới hình thức công ty cổ phần hay công ty TNHH, Bộ trưởng quản lý ngành (Bộ
chủ quản) là đầu mối đại diện cho chủ sở hữu nhà nước trong mối quan hệ giữa bộ máy
quản lý, điều hành doanh nghiệp với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác trong
thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, mối

trực thuộc Bộ. Để khắc phục nhược điểm mỗi Bộ phải có một bộ phận chuyên trách
quản lý DNNN, một số nước như New Zealand đã thành lập Cơ quan tư vấn giám sát
vốn và tài sản nhà nước (CCMAU) để tư vấn, hỗ trợ chung cho các Bộ trưởng nắm vốn
trong thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước.
Tóm lại, vấn đề không chỉ hình thành đầu mối chủ sở hữu nhà nước trong quan
hệ pháp luật với doanh nghiệp và người thứ ba, mà đầu mối đó phải được đảm nhiệm
với nghĩa vụ và quyền hạn cá nhân. Trong quá trình thực hiện, có thể có sự ủy quyền,
phân cấp hoặc có một bộ máy hành chính chuyên trách để hỗ trợ, tư vấn và xử lý vụ
việc, song trách nhiệm cuối cùng vẫn mang tính cá nhân của Bộ trưởng nắm vốn. Do
cơ chế trách nhiệm như vậy nên phương thức hình thành cơ chế “Bộ trưởng nắm vốn”
chỉ phù hợp với hoàn cảnh không có nhiều DNNN và thật sự cũng thích hợp hơn với
loại doanh nghiệp mà trong đó có yếu tố chính trị, xã hội đan xen vào mục tiêu hoạt
động. Vì vậy, có thêm một phương thức thứ hai để thực hiện chức năng chủ sở hữu
Nhà nước là:

1.2.1.2 Hình thành các tổ chức kinh tế chuyên trách về đầu tư và kinh
doanh vốn sở hữu nhà nước
Theo phương thức này, Chính phủ thành lập một tổ chức kinh tế dưới hình thức
của công ty nắm vốn (công ty holding), công ty đầu tư tài chính… (gọi chung là công
ty đầu tư – kinh doanh vốn Nhà nước) để kinh doanh thông qua đầu tư trực tiếp vốn
nhà nước vào các doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế. Công ty đầu tư – kinh
doanh vốn Nhà nước xuất hiện từ những năm 1970 ở Singapore và những năm 1990 từ
công cuộc cải cách khu vực DNNN ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Đông
Âu và Trung Quốc, nơi mà có một số lượng lớn DNNN còn tồn tại từ cơ chế cũ nên
các bộ chủ quản và cơ quan hành chính nhà nước không thể thực hiện một cách có hiệu
quả chức năng đại diện chủ sở hữu của mình.
Tại Trung Quốc, Chính phủ đã thành lập công ty kinh doanh tài sản của Nhà
nước với nhiệm vụ giúp Chính phủ trực tiếp quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh
nghiệp, bảo đảm số vốn này được bảo toàn và phát triển. Công ty có 5 chức năng chủ
yếu: Thứ nhất là thay mặt Chính phủ nắm giữ quyền sở hữu tài sản Nhà nước trong

Temasek tham gia tích cực vào định hướng chiến lược và là động lực quan trọng
cho các hoạt động kinh doanh và phát triển của các công ty nhưng không can thiệp trực
tiếp vào các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các công việc quản lý kinh
doanh hàng ngày do ban lãnh đạo các doanh nghiệp chịu trách nhiệm thực hiện. Với tư
cách đại diện quyền lợi của Chính phủ. Temasek thực hiện vai trò là cổ đông của mình
để tham gia vào việc xem xét, lựa chọn và bầu hoặc bổ nhiệm các chức vụ Chủ tịch và
thành viên Hội đồng quản trị của các công ty Temasek đầu tư theo tỷ lệ góp vốn của
Temasek. Mục đích quan trọng hàng đầu của Temasek là bảo tồn vốn và đạt được lợi
ích kinh tế cao nhất cho tất cả các cổ đông của công ty, trong đó có cổ đông Nhà nước
do Temasek làm đại diện. Đến năm 2004, sau 30 năm hình thành và hoạt động, nếu
tính theo giá trị tăng trưởng các cổ phần Temasek đã đầu tư vào các công ty thì tỷ suất
lợi nhuận trung bình hàng năm của Temasek tăng là 18% và cổ tức trung bình hàng
năm Temasek được nhận từ phần đầu tư có tỷ suất là 7%. Temasek đã trở thành công
ty đầu tư lớn nhất của Singapore và là công ty đầu tư hàng đầu trên thế giới7.
7

Phạm Phan Dũng – “ Đổi mới phương thức quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp” – Hội

nghị quốc tế quản trị doanh nghiệp – Hà Nội – 2004

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 24

SVTH: Nguyễn Nam Phương


Địa vị pháp lý của Đại diện và Người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp khác

Tuy nhiên, tại rất nhiều quốc gia (trừ Singapore), mô hình công ty đầu tư kinh

sản Nhà nước ở cấp Trung ương và ở các cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
khu tự trị, khu kinh tế mở, châu tự trị thực hiện chức năng người đầu tư vốn, giám sát,

GVHD: TS. Dư Ngọc Bích

Trang 25

SVTH: Nguyễn Nam Phương



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status