TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2009 – 2013
Đề tài
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
HÓA NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ HỘI NHẬP
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Cao Nhất Linh
Đặng Thị Thảo Lan
Bộ môn: Luật Thương mại
MSSV: 5095619
Lớp: Luật Thương mại 1- K35
Cần Thơ, ngày 05 tháng 5/2013
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên người viết gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Luật và
các thầy cô đã từng dạy tôi trên giảng đường Đại học. Chính thầy cô là những người
ADA
Hiệp định chống bán phá giá
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC
Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
Mã: HS 7005 29 9000
Ký hiệu kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam (Float Glaas)
HS 7005 21 9000
MFN
Quy chế Tối hệu quốc
NT
Quy chế đãi ngộ quốc gia
Đơn vị tiền Việt Nam đồng
VIFG
Công ty kính nổi Viglacera
VIFG
Công ty kính nổi Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................3
5. Cơ cấu của luận văn.............................................................................................3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ............................5
1.1. Khái niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ...................................................5
1.1.1. Khái niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu...............................................5
1.1.2. Cách xác định hàng hóa nhập khẩu bán phá giá ........................................7
1.2. Tác động của việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu.......................................8
2.1.2.3. Quy chế bảo mật và thẩm tra thông tin ..................................................29
2.1.2. 4. Các giai đoạn và thời hạn điều tra chống bán phá giá..........................31
2.1.2.5. Chấm dứt điều tra..................................................................................33
2.2. Thủ tục xử lý vụ việc chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam và pháp
luật của WTO.........................................................................................................34
2.2.1. Quyết định xử lý vụ việc .............................................................................34
2.2.2. Rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá ...................................36
2.2.2.1. Các trường hợp rà soát lại quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá 36
2.2.2.2. Thủ tục rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá....................37
2.2.3. Thủ tục khiếu nại và khởi kiện các quyết định của Bộ trưởng Bộ Công
thương ....................................................................................................................38
2.3. Các biện pháp chống bán phá hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam ...............39
2.3.1. Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời .................................................39
2.3.2. Áp dụng biện pháp cam kết ........................................................................40
2.3.2.1. Các biện pháp cam kết...........................................................................41
2.3.2.2. Thủ tục áp dụng biện pháp cam kết........................................................42
2.3.2.3. Giám sát quá trình thực hiện cam kết, chấm dứ việc áp dụng cam kết....44
2.3.3. Áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức .............................................46
2.3.3.1. Nguyên tắc áp dụng thuế chống bán phá giá..........................................48
2.3.3.2. Phương thức áp dụng thuế chống bán phá giá .......................................50
2.3.3.3. Áp dụng hồi tố và hoàn trả thuế chống bán phá giá ...............................51
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CƠ
QUAN THỰC THI PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI VIỆT NAM ..54
3.1. Thực trạng thực thi pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu tại
Việt Nam ................................................................................................................54
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cơ chế thực thi pháp luật chống
bán phá giá hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam ....................................................56
3.2.1. Hoàn thiện và nâng cao Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
bước phát triển nhất định, với việc ban hành Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004. Lần đầu tiên các quy định về bán phá giá và
chống bán phá giá, được ghi nhận trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao là
Pháp lệnh.
Tuy nhiên, do vấn đề chống bán phá giá còn mới trong khoa học pháp lý nên
việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và tiếp nhận pháp luật của WTO vào pháp
luật nội địa còn nhiều hạn chế, nên các quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá
còn đơn giản và mang tính nguyên tắc, nhiều nội dung quan trọng chưa được quy định
hoặc chưa được giải quyết triệt để. Sự đơn giản và thiếu hoàn chỉnh của pháp luật, là
một trong những nguyên nhân lớn làm giảm khả năng thực thi của pháp luật chống bán
phá giá hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các công cụ pháp lý
cần thiết phù hợp với các nguyên tắc, quy định của WTO nhằm bảo vệ các doanh
nghiệp Việt Nam ngay trên thị trường trong nước, trước những hành vi cạnh tranh
không công bằng của doanh nghiệp nước ngoài, là một trong những nội dung quan
trọng đảm bảo cho sự hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO vào năm 2007. Yêu cầu
về sự tương thích giữa pháp luật nội địa và các chuẩn mực pháp lý của WTO, là một
trong những đòi hỏi buộc chúng ta phải cam kết và triệt để tuân thủ. Hiệp định chống
bán phá giá của WTO năm 1994 (ADA), đã quy định những căn cứ xác định hiện
tượng bán phá giá, xác định thiệt hại vật chất và đặt ra những nguyên tắc cho việc điều
tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá. Các quy định này đã và đang trở thành chuẩn
mực chung cho pháp luật của các quốc gia thành viên. Các quốc gia có quyền xây
dựng quy trình điều tra, xử lý vụ việc và xây dựng bộ máy thực thi pháp luật dựa trên
những nguyên tắc đã được ghi nhận trong ADA. Hiện nay, các vấn đề pháp lý về
chống bán phá giá đang được các quốc gia thành viên WTO đề xuất sửa đổi và hoàn
thiện trong các vòng đàm phán Doha. Dù kết quả đàm phám chưa đạt được sự thống
nhất cần thiết để sửa đổi pháp luật, song cũng cho thấy khả năng phát triển của lĩnh
vực pháp luật này. Việc nghiên cứu và tiếp thu pháp luật của WTO vào pháp luật Việt
chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: tổng hợp, phân
tích luật viết, đối chiếu lịch sử, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn…
5. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm các phần sau:
-
Lời mở đầu
-
Phần nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về bán phá giá và chống bán phá giá trong
hoạt động thương mại quốc tế.
Trong diễn biến cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế, luôn xuất hiện những
hiện tượng bán hàng hóa với giá thấp để loại bỏ đối thủ. Chính sách và pháp luật
thương mại quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, đều xem việc hàng hóa xuất
khẩu với mức giá thấp hơn giá thông thường của nó trên thị trường xuất khẩu là bán
phá giá, hành vi bán phá giá sẽ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản suất
trong nước của quốc gia nhập khẩu, nên làm phát sinh quyền phòng vệ của quốc gia
nhập khẩu.
Chương 2: Một số quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá
trong hoạt động thương mại quốc tế.
Các quy định về thủ tục điều tra, xử lý vụ việc là bộ phận quan trọng cấu thành
nên pháp luật chống bán phá giá. Pháp luật Việt Nam đã đặt ra khung pháp luật cơ bản
cho việc điều tra và xử lý vụ việc. Quy trình điều tra, xử lý theo pháp luật Việt Nam đã
đảm bảo sự tương thích với những nguyên tắc chung của pháp luật WTO. Các giai
đoạn diều tra, xử lý vụ việc cũng phản ánh những đặc thù phù hợp với năng lực thực
thi pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ quan thực
chúng ta với quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, có hàng hóa bị áp dụng biện pháp chống bán
phá giá sẽ không căng thẳng.
1.2. Khái niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
Trong ngôn ngữ tiếng Việt, bán phá giá thường được hiểu là hành động bán một
mặt hàng, với giá thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trường, làm cho
những người bán hàng khác phải hạ giá bán. Như vậy, ở đây có sự so sánh về giá trên
cùng một thị trường. Tuy nhiên, khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tế hàm
ý so sánh về giá ở hai thị trường khác nhau: thị trường nước nhập khẩu và thị trường
nước xuất khẩu. Mặc dù, giá bán ở thị trường tiêu thụ (nước nhập khẩu) có thể không
khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trường hợp giá bán cao hơn giá hiện hành. Nhìn
chung, các tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tượng bán phá giá xảy ra khi hàng hóa
xuất khẩu được bán sang một nước khác, với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa
(của nước xuất khẩu).1
Theo Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt là
GATT) “Bán phá giá là hành vi mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng
hóa của một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản
phẩm đó khi bán ở trong nước”. Kế thừa Điều VI của GATT, Hiệp định về chống bán
1
Ths. Nguyễn Thanh Hưng, Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu ở Việt
Nam trong bổi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Vụ chính sách thương mại đa biên, Hà Nội, 2002, tr. 05.
phá giá trong khuôn khổ của WTO năm 1994 (gọi tắt là ADA) đã định nghĩa: “Một
sản phẩm bị coi là bán phá giá, nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu
từ một nước này sang một nước khác, thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản
phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu, theo các điều kiện thương mại
thông thường”.2 Như vậy, theo quy định của ADA vấn đề chính của bán phá giá chính
là có sự chênh lệch về giá, khi giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng
hóa đó bán ở thị trường nội địa các nước xuất khẩu. Do đó, muốn xác định một hàng
chỉ là việc bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá không theo đúng giá trị thông thường
của sản phẩm.
- Mục đích của hành vi là chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp
luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác, lợi ích của nhà
nước. Vì vậy, nếu chưa xác định được mục đích của hành vi thì chưa thể kết luận
doanh nghiệp đã bán phá giá hàng hóa dịch vụ.
Khái niệm về bán phá giá còn được ghi nhận trong Pháp lệnh chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004, (gọi tắt là Pháp lệnh chống bán phá giá).
Theo đó, “hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi
nhập khẩu vào Việt Nam, nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá trị thông
thường. Giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so
sánh được của hàng hóa tương tự, đang được bán trên thị trường nội địa của nước
hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”.4 Giá
chuẩn được sử dụng để xác định bán phá giá, là giá thông thường của sản phẩm tương
tự trên thị trường nước xuất khẩu. Sẽ không có hiện tượng bán phá giá, nếu giá xuất
khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không thấp hơn giá bán của sản phẩm
tương tự trên thị trường xuất khẩu, cho dù có thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh
được sản xuất tại Việt Nam. Thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh Việt Nam
(ngành sản xuất nội địa) do bán phá giá gây ra, không là căn cứ xác định hiện tượng
bán phá giá, mà chỉ là một trong các điều kiện để áp dụng biện pháp chống bán phá
giá. Cách tiếp cận này tương thích với những quy định tương ứng trong ADA.
1.1.2. Cách xác định hàng hóa nhập khẩu bán phá giá
Theo quy định của pháp luật về chống bán phá giá hiện đại, hàng hóa sẽ bị coi
là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của cùng sản phẩm
và sự chênh lệch giá gây thiệt hại cho nước nhập khẩu. Khi tiến hành điều tra một loại
sản phẩm nào đó có thực sự bán phá giá vào nước mình hay không, các quốc gia sẽ
phải xác định giá trị thông thường của sản phẩm đó, công đoạn này có vai trò quyết
định tới việc xác định có bán phá giá hay không. Bởi lẽ, nếu giá trị thông thường càng
thấp và gần với giá bán tại nước nhập khẩu thì khả năng bán phá giá càng thấp và
quan trọng trong chính sách ngoại thương của đất nước, nhằm giúp cho việc thực hiện
những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích nêu trên hành vi bán phá giá cũng có những
ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước xuất khẩu, như người tiêu dùng trong nước phải
chịu thiệt do chịu giá cao hơn so với giá trước đây, do có thỏa thuận về giá giữa các
doanh nghiệp, việc các doanh nghiệp bán phá giá lượng hàng đó lại được bán cho
chính doanh nghiệp của nước mình, do đó quay lại lũng đoạn thị trường trong nước.
1.2.2. Tác động của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu đối với thị trường nhập khẩu
Tác động của hiện tượng bán phá giá được nhìn nhận cả góc độ tích cực và tiêu
cực, bằng việc phân tích ảnh hưởng của nó đối với lợi ích của người tiêu dùng, nhà sản
xuất có liên quan và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa.
5
Ths. Vũ Thị Phương Lan, Xác định giá trị thông thường của hàng hóa bị kiện bán phá giá theo pháp luật của
WTO, Tạp chí Luật học, số 05, 2010, tr.40.
Việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá có những ảnh hưởng đáng kể đến người
tiêu dùng của nước nhập khẩu. Trong thời gian ngắn việc bán phá giá đã tối đa lợi ích
cho người tiêu dùng, vì họ có cơ hội mua được những hàng hóa nhập khẩu mới lạ với
giá rẻ theo thị hiếu của mình. Ngoài ra, việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu còn làm
tăng mức độ cạnh trạnh trên thị trường, vì hàng hóa nhập khẩu được bán với giá rẻ hơn
so với hàng hóa nội địa, người tiêu dùng sẽ có xu hướng dùng hàng hóa nhập khẩu đẩy
các doanh nghiệp nội địa vào tình trạng phải tìm cách giảm chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh về giá.
Trong thời gian dài, quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị xâm hại nếu doanh
nghiệp nước ngoài bán phá giá hàng hóa, để thực hiện chiến lược chiếm đoạt thị
trường bằng cách hủy diệt ngành sản xuất trong nước. Mặc dù bán phá giá đem lại lợi
ích cho người tiêu dùng, nhưng lợi ích này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn vì một
khi đã chiếm được trường nước nhập khẩu, giá của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng vọt lên
trong tương lai, để các doanh nghiêp bù đắp những thiệt hại từ việc bán phá giá. Người
đảm cho hàng hóa được lưu thông một cách tự do trên tinh thần không phân biệt đối
xử. Thương mại tự do tất yếu làm phát sinh môi trường cạnh tranh quốc tế. Cuộc cạnh
tranh quốc tế diễn ra bằng sự phát huy và phối hợp lợi thế so sánh của các quốc gia.
Để có thể tồn tại, các nước cần có được những ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế so
sánh để tranh giành cơ hội phát triển. Đồng thời, quá trình lưu chuyển tự do của
thương mại sẽ đưa đến cho người tiêu dùng của mọi quốc gia, những sản phẩm có chất
lượng với giá tối ưu.
Tiến trình cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào thuế quan trong các cam
kết thương mại quốc tế, các rào cản từ chi phí vận chuyển ngày càng bị xóa mờ; sự
phát triển của thông tin liên lạc đã làm cho sự cạnh tranh giữa hàng hóa nội địa và
hàng hóa nhập khẩu, giữa các hàng hóa nhập khẩu với nhau ngày càng gay gắt. Cạnh
tranh quốc tế được xem như động lực quan trọng, cho sự phát triển của các dòng
thương mại. Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ chỉ trở thành động lực phát triển khi các nguyên
lý vận hành của thương mại tự do, được nhà nước và doanh nghiệp của các quốc gia
tôn trọng. Nhà nước không chỉ giảm thiểu đến mức thấp nhất sự can thiệt vào các dòng
thương mại, mà còn không được dùng các biện pháp kinh tế như tài trợ bất chính để
làm ảnh hưởng sự tương cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp cần tôn
trọng các nguyên tắc về cạnh tranh công bằng, bình đẳng. Trong quan hệ cạnh tranh,
cạnh tranh về giá cả để tranh giành khách hàng luôn được xem là nội dung quan trọng,
được pháp luật cạnh tranh của các quốc gia và các chính sách cạnh tranh trong thương
mại quốc tế quan tâm.
Khi môi trường cạnh tranh được hình thành và sự can thiệp của nhà nước giảm
đi, tất yếu sẽ xuất hiện khuynh hướng lạm dụng tự do để cạnh tranh không lành mạnh
hoặc hạn chế cạnh tranh, mà tiêu biểu là hiện tượng bán phá giá giá của hàng hóa nhập
khẩu. Sự thúc giục của lợi nhuận, của nhu cầu bành trướng thị phần và bằng khả năng
sáng tạo, các doanh nghiệp luôn có xu hướng thực hiện những hành vi cạnh tranh bất
chính nhằm loại bỏ đối thủ hoặc chiếm đoạt thị phần.
Như vậy, bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá, được
không tiếp tục sản xuất, thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn do vẫn chịu chi phí cố
định.
1.3.2.1. Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình
Trong ngắn hạn, khi kinh tế thị trường suy thoái các doanh nghiệp để cạnh
tranh với nhau có thể bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí trung bình, hành vi này
của doanh nghiệp chính là để bù đắp chi phí cố định. Trong thời gian này, doanh
nghiệp có thể chịu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí cố định và doanh
nghiệp hy vọng sau một thời gian ngắn suy giảm, nền kinh tế sẽ hồi phục và họ có thể
tăng giá hoặc chỉ đơn giản là doanh nghiệp, đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểu
thua lỗ trước khi rút khỏi thị trường. Khi các doanh nghiệp trong nước và nhà xuất
khẩu, đều bán phá giá dưới chi phí trung bình do suy thoái của thị trường, thì việc
đánh thuế chống bán phá giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý. Trong trường hợp
này, biện pháp chống bán phá giá chỉ tác dụng làm giảm tác động bất lợi đối với doanh
nghiệp trong nước khi thị trường suy thoái.
Cơ cấu chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ quyết định điểm hòa vốn và điểm
đóng cửa. Doanh nghiệp nào có chi phí cố định lớn hơn sẽ bán ở mức giá thấp hơn để
bù dắp chi phí cố định. Qua đó, nhà xuất khẩu có thể bán ở mức giá mà doanh nghiệp
trong nước đã đóng cửa để bù đắp chi phí cố định.
1.3.2.2. Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí biên
Một doanh nghiệp có thể bán hàng với giá thấp hơn chi phí trung bình nhưng
phải cao hơn chi phí biên. Nhưng trên thực tế vẫn có trường hợp doanh nghiệp bán
hàng dưới chi phí biên, nguyên nhân có thể các doanh nghiệp muốn tối đa hóa doanh
thu, độc chiếm thị trường, tăng thị phần hay tiếp thị hàng hóa.
Trước khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường nước nhập khẩu, doanh nghiệp
phải xác định sản xuất trước khi xác định được chính xác mức giá trên thị trường, bằng
cách quyết định sản lượng sản xuất theo mức giá dự tính. Nếu giá bán thực tế thấp hơn
nhiều so với giá bán dự tính ban đầu, thì doanh nghiệp sẽ phải bán hàng với mức giá
thấp hơn chi phí biên định trước. Khi doanh nghiệp phát hiện ra đã xác định sai giá thị
trường và chi phí biên, thì doanh nghiệp khó có thể điều chỉnh số lượng ngay mà phải
chờ sau một thời gian dài.
kinh tế của từng quốc gia. Vì thế, có ba biện pháp tuy mang bản chất cản trở thương
mại tự do, nhưng WTO vẫn cho phép các quốc gia sử dụng ở một mức độ nhất định để
bảo vệ nền kinh tế của mình, đó là các biện pháp chống bán phá giá, trợ cấp đối với
các doanh nghiệp trong nước và biện pháp trả đũa khẩn cấp để hạn chế nhập khẩu tạm
thời. Tuy vậy, do các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ngày càng giảm đi theo cam
kết trong khuôn khổ GATT, nên biện pháp chống bán phá giá ngày càng được các
nước áp dụng nhiều hơn.7
Trong thương mại quốc tế hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể thế nào là
chống bán phá giá. Các quy định của GATT trước kia và của WTO hiện nay, cũng chỉ
nêu ra các biện pháp mà các quốc gia thành viên được sử dụng để chống lại việc bán
phá giá. Vì vậy, dựa vào các biện pháp chống bán phá giá khái niệm chống bán phá giá
có thể hiểu một cách khái quát như sau: “Chống bán phá giá là tổng thể các biện pháp
mà cơ quan có thẩm quyền ở nước nhập khẩu được quyền áp dụng, đối với hàng nhập
khẩu nhằm vô hiệu hóa hiện tượng bán phá giá ở quốc gia mình”.8
1.4.2. Khái niệm thuế chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá được ra đời từ những năm đầu của thế kỷ 20, trước hết
tại Canada (1904), sau đó đến New Zealand (1905), Australia (1906), Hoa kỳ (1914).
Thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhà nước nhập khẩu, đánh vào một mặt hàng
nhập khẩu được bán phá giá, với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá
đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất mặt tương tự ở trong nước.9
Trong các biện pháp hạn chế thương mại như áp dụng hạn ngạch, hạn chế số
lượng, tăng thuế, các biện pháp hạn chế có tính kỹ thuật, phi thuế quan khác để chống
lại hành vi bán phá giá các quốc gia chỉ có quyền áp dụng biện pháp tăng thuế nhập
khẩu. Nói cách khác, quốc gia bị thiệt hại chỉ có thể áp dụng thuế chống bán phá giá
đối với hàng hóa nhập khẩu bị xác định là bán phá giá. Các biện pháp hạn chế số
lượng, hay các biện pháp hạn chế phi thuế quan khác không được coi là hợp pháp.
Quyền áp dụng thuế bán phá giá của quốc gia bị thiệt hại thực chất là quyền có tính
ngoại lệ đối với hai nguyên tắc trong thương mại đa biên:
xuất tương tự trong nước nhập khẩu.
Theo quy định của ADA, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp chống
bán phá giá, đối với hàng hóa nhập khẩu khi hàng hóa này bị bán phá giá và. Mục đích
của việc áp dụng các biện pháp này, là nhằm triệt tiêu những ảnh hưởng bất lợi cho
hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra.
Trong hoàn cảnh Việt Nam, ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc
tế, với mức độ mở cửa thị trường mạnh mẽ (đặc biệt thông qua việc cắt giảm các biện
pháp phi thuế quan và giảm thuế suất), nguy cơ hàng hóa nước ngoài bán phá giá vào
Việt Nam với mục đích khác nhau (bán tháo hàng, bán phá giá để chiếm thị phần rồi
sau đó mới nâng giá lên cao…) cũng theo đó mà ngày càng gia tăng. Và nếu điều này
thật sự xảy ra, thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu là nghiêm trọng.
Chính vì vậy, việc ban hành một văn bản chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu
vào Việt Nam là cần thiết phù hợp. Một mặt, điều này thể hiện tính chủ động của Việt
Nam trong việc áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế chung, (vào thời điểm
2002 Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO và về nguyên tắc chưa phải thực
hiện các quy định bắt buộc tại các hiệp định của của tổ chức này. Do đó, việc áp dụng
các quy định về chống bán phá giá trong WTO là hoàn toàn tự nguyện). Mặc khác,
việc pháp điển hóa công cụ này cũng là một bước chuẩn bị tích cực, để xử lý các tình
10
Ths. Nguyễn Trung Đông, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI, Bán phá giá, chống bán phá
giá: Mục tiêu và bản chất, http://chongbanphagia.vn/trang/binhluan?, [ngày truy cập 10-4-2013].
huống bất lợi có thể xảy ra khi Việt Nam mở cửa thị trường hàng hóa, tạo lập công cụ
pháp lý bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
Với ý nghĩa như vậy, Pháp lệnh về việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
vào Việt Nam đã được thông qua năm 2004. Các văn bản hướng dẫn thi hành (về nội
dung, trình tự cũng như cơ cấu tổ chức các cơ quan thực thi) đã lần lượt ban hành
trong những năm sau đó nhằm từng bước hiện thực hóa công cụ này.
đề này. Ngoài Pháp lệnh chống bán phá giá, còn có Nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày
11/7/2005, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Nghị định 04/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006, Quy
định về việc thành lập và chức năng, nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ
việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; Nghị định 06/2006/NĐ-CP ngày
09/01/2006, Quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh
tranh - Bộ Công thương,…
Gần 20 năm xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, pháp luật chống bán phá
giá của Việt Nam mới được hình thành, nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam, sự ra đời của Pháp lệnh chống bán phá giá là bước phát triển toàn
diện của lĩnh vực này, hoàn toàn phù hợp với các quy định chung của WTO. Pháp lệnh
chống bán phá giá vừa là luật nội dung vừa là luật hình thức, vì Pháp lệnh điều chỉnh
các hành vi bán phá giá, thiệt hại đáng kể và các quan hệ tố tụng trong qua trình điều
tra và xử lý vụ việc, qua đó cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực pháp luật này đối với
nền kinh tế.