LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT KINH DOANH bảo HIỂM ở VIỆT NAM HIÊN NAY lý LUẬN THỰC TIỄN và HƯỚNG HOÀN THIỆN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT
BỘ MƠN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
KHĨA 25 (1999 – 2003)

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
Û VIĐH
ỆTCần
NAM
H@
IỆN
AYhọc
_LYtập
Ù LU
ÄN
Trung tâm HọcƠ
liệu
Thơ
TàiNliệu
vàAnghiên
cứu
THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Sinh viên thực hiện:

Giáo viên hướng dẫn:

Cô Phạm Thò Minh Anh

độ cao.
đơi với
sự phát
tế thì
đời tập
sống và
vật chất
của concứu
tâm
liệu
ĐHĐiCần
Thơ
@triển
Tàikinh
liệu
học
nghiên
người ngày càng được nâng cao, bảo hiểm trở thành một nhu cầu khơng thể thiếu
đối với mỗi cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp. Kinh doanh bảo hiểm được coi
là một tấm lá chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức, cá nhân đồng thời huy động
nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Trong những năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển
mạnh mẽ và đạt được những lợi ích to lớn. Kể từ năm 1994 đến nay tốc độ tăng
bình qn của thị trường bảo hiểm nước ta đạt 23%/năm. Tuy nhiên, do hồn c ảnh
lịch sử để lại, sự hiểu biết của người dân về bảo hiểm như một ngành kinh doanh
tài chính, về cơ sở pháp lý của hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn nhiều hạn chế.
Sự hội nhập với nền kinh tế thế giới thơng qua hình thức nước ta gia nhập các tổ
chức AFTA, APEC, WTO đang đặt ra u cầu mở cửa thị trường dịch vụ kiểm
tốn, bảo hiểm ngân hàng. Do đó, các cơng ty bảo hiểm nước ta đang phải đối mặt
với sức ép mở cửa trong tương lai ngày càng lớn - cạnh tranh sẽ diễn ra mạnh mẽ

Trung tâm Học- liệu
ĐHthực
Cần
@ động
Tài kinh
liệudoanh
họcbảo
tậphiểm,
và từnghiên
một số biện pháp nhằm hồn thiện mơi trường pháp lý để chi phối, điều chỉnh hoạt
động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.
v

Đối tượng nghiên cứu:

Với mục đích góp phần hồn thiện mơi trường pháp lý cho hoạt động
kinh doanh bảo hiểm ở nước ta hiện nay, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận của bảo hiểm, phân tích các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm tại Việt Nam và một số vấn đề thực tiễn hiện nay.
v

Phạm vi nghiên cứu:

Đây là một đề tài khá rộng. Vì thế, trong phạm vi hạn hẹp của một luận
văn tốt nghiệp chúng tơi chỉ nghiên cứu những quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm, khơng đi sâu vào tìm hiểu các nghiệp vụ bảo hiểm.
v

Phương pháp nghiên cứu:



4


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM
Mục 1

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG
BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM:
1. Sơ lược lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm :

Trung

Trong cuộc sống hàng ngày, con người phải ln đối mặt với nhiều rủi ro
ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của mình. Đó là những thứ
q giá mà con người phải ln ln ra sức bảo vệ. Chính vì vậy, từ khi có xã hội
lồi Học
người liệu
đến nay,
ngườiThơ
đã vận@
dụng
cách,



Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
và ai nấy đều có thể gánh chịu được một cách dễ dàng khơng ảnh hưởng nhiều đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Mầm mống bảo hiểm đã hình thành từ rất lâu.Trong lịch sử Ai Cập cổ đại
ghi lại rằng từ thế kỷ 45 trước Cơng ngun (TCN) những thợ thủ cơng đẽo đá đã
có ý niệm về cộng đồng hóa rủi ro bằng việc thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ
nạn nhân của các vụ tai nạn trong q trình lao động sản xuất. Đây chính là một ý
niệm về bảo hiểm “lấy số đơng bù số ít”.
Khoảng 3000 năm TCN, tại Trung Quốc các lái bn đã biết phân chia
hàng hóa ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chun chở trên một chiếc thuyền lớn để
tránh tổn thất tồn bộ. Đây là ý niệm “phân tán rủi ro” trong bảo hiểm.
Đến năm 2500 TCN tại Babylone, các nhà bn đã th những người
chun chở bằng lạc đà (gọi là darmathe) vận chuyển hàng hóa với điều kiện kinh
doanh sn sẽ, các nhà bn sẽ chia cho họ phân nửa tiền lãi, ngược lại nếu bị lỗ
vốn, các darmathe sẽ phải đền bù. Tuy nhiên nếu hàng hóa bị cướp bóc mà khơng
có sự đồng lõa của darmathe thì họ khơng phải bồi thường. Đây là khái niệm
“miễn trách” trong ngành hàng hải, được áp dụng cho đến ngày nay và vẫn được
vận dụng trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nói chung.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Năm 916 TCN, hồng đế xứ Rhodes đã ban hành đạo luật để bảo vệ các
thương gia: chủ tàu được hưởng quyền lợi phải gánh chịu rủi ro chung với các chủ
tàu bị thiệt hại vì phải hy sinh để cứu tàu, cứu hàng khi con tàu gặp nạn. Ngày
nay, khái niệm “tổn thất chung” (genaral average) này ln được vận dụng trong
hàng hải. Hay nói cách khác, đây là biện pháp chia nhỏ, dàn trải rủi ro của một
người hoặc một số ít người cho nhiều người cùng có khả năng gánh vác.

Từ những khái niệm thơ sơ nói trên, trải qua hàng ngàn năm, con người đã

chức bảo hiểm như vậy đã đặt nền móng cho bảo hiểm hỏa hoạn. Năm 1684, ở
Anh thành lập cơng ty bảo hiểm với tên gọi là “Frendly Society Office”. Năm
1677, ở Hambourg (Đức) cũng đã thành lập quỹ hỏa hoạn đầu tiên của thành
phố(2). Năm 1710, Cơng ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên được tổ chức với quy mơ
lớn là cơng ty “The Sun Insurance Office” và hiện nay vẫn còn hoạt động. Sau đó,
tâm
liệu
ĐH
Cần
Thơ
Tàinước
liệu
tậpnhưvàĐức,
nghiên
bảo Học
hiểm hỏa
hoạn
đã phát
triển
lan ra@
nhiều
trênhọc
thế giới
Pháp… cứu
Bảo hiểm nhân thọ cũng được hình thành rất sớm và được một số thành
phố lớn ở Italia thực hiện ngay sau sự hình thành bảo hiểm hành hải, nhưng nó bị
nhà thờ phản bác và cấm đốn, hơn nữa chưa được sự hưởng ứng của nhân dân.
Năm 1583 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Anh quốc (English life Insurance
Policy)(3) lần đầu được xác lập, tuy nhiên cũng chưa được hưởng ứng mạnh mẽ.
Mãi đến thế kỷ XVII, khi ngành tốn học xác xuất và thống kê phát triển bởi các

2. Định nghĩa và phân loại bảo hiểm:
2.1 Định nghĩa bảo hiểm :

Trung

Trên thế giới, bảo hiểm ra đời và tồn tại từ lâu xuất phát từ nhu cầu khách
quan của nền kinh tế xã hội. Ngày nay, hoạt động bảo hiểm trở thành một dịch vụ
khơng thể thiếu được trong cuộc sống con người, một bộ phận khơng thể tách rời
trong
tồn liệu
bộ qĐH
trìnhCần
phát triển
kinh
xã hộiliệu
của lồi
trongcứu
tâm
Học
Thơ
@tế Tài
họcngười.
tập Thế
và nhưng,
nghiên
cuộc sống hằng ngày, thuật ngữ “bảo hiểm” được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo Dennis Kessler thì “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đơng vào sự bất
hạnh của số ít”.(5)
Theo MJ.Burkinshaw: “Bảo hiểm là một hệ thống mà qua đó một số người
đồng ý góp vào một quỹ chung, được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của một

có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho
người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả,
tổ chức này có trách nhiệm đối với tồn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo
phương pháp thống kê.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì bảo hiểm được hiểu là chức năng
kinh tế mà mục đích là bồi thường những thiệt hại về của cải hay sức khỏe, tính
mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền bù những rủi ro ấy.
Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi bị thiệt hại thì được bồi
thường. Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm
và người được bảo hiểm.

Trung

Tóm lại, bảo hiểm là hoạt động được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh
bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm. Bảo hiểm là những hoạt động mà ở đó các
tâm
Học
liệubảoĐH
@roTài
doanh
nghiệp
hiểmCần
chấp Thơ
nhận rủi
trênliệu
cơ sởhọc
ngườitập
đượcvà
bảonghiên
hiểm đóngcứu

ro ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc người
thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được tiền bảo hiểm từ người bảo hiểm trả.

Trung

Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản. Khi
xảy ra rủi ro, tổn thất về tài sản thì người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho
người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức đảm bảo đã thỏa
thuận trên hợp đồng.Ví dụ như: Bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm
tâm
thiệtHọc
hại vậtliệu
chất ĐH
xe cơ Cần
giới. Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là
trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự. Theo đó,
người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ ba về những thiệt
hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của
chính mình. Ví dụ như: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba, bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm.
2.2.2 Căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm:
Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ là các loại bảo hiểm cho các
rủi ro có tính chất ổn định theo thời gian và độc lập với tuổi thọ con người, gọi
chung là bảo hiểm phi nhân thọ (Non life Insurance).
Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn là các loại bảo hiểm đảm
bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi theo thời gian, đối tượng gắn liền với tuổi
của con người, gọi chung là bảo hiểm nhân thọ (Life Assurance).
2.2.3 Căn cứ vào tính chất khoản bồi thường:
Các loại bảo hiểm được chia làm 2 loại:

- Bảo hiểm sinh kỳ.
- Bảo hiểm tử kỳ.
- Bảo hiểm hỗn hợp.
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ.
- Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định.
+ Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
- Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người.
- Bảo hiểm hàng hố vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sơng,
đường sắt và đường khơng.
- Bảo hiểm hàng khơng.
- Bảo hiểm xe cơ giới.
- Bảo hiểm cháy, nổ.
11


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu.
- Bảo hiểm trách nhiệm chung.
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính.
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh.
- Bảo hiểm nơng nghiệp.
- Các loại nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy
định.

II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH
BẢO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI:
1.Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật kinh doanh bảo hiểm :

Trung


lệ về hoạt động hàng hải, trong đó gồm có cả nội dung của luật pháp kinh doanh
bảo hiểm.
Năm 1435, pháp lệnh Bacelona Tây Ban Nha ra đời đã cơng bố quy tắc bảo
hiểm hàng hải và thủ tục bồi thường tổn thất. Đây là “Luật bảo hiểm hàng hải lâu
đời nhất trên thế giới”. Sau đó, vào năm 1523, Phơ-Ru-Long-xa (Ý) đã đặt ra điều
lệ bảo hiểm hàng hải hồn chỉnh hơn và quy định mẫu đơn bảo hiểm tiêu chuẩn.
Những tòa án bảo hiểm hàng hải cũng được lập nên ở Antwerp (Bỉ), Amsterdam
(Hà Lan) để giải quyết những vụ tranh chấp về bảo hiểm. Đến năm 1681, vua
12


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Louis XIV (Pháp) đã ban hành pháp lệnh hoạt động hàng hải thúc đẩy bảo hiểm
hàng hải phát triển hơn.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự phát triển về thương mại
quốc tế và sự tiến bộ về giao thơng quốc tế, luật bảo hiểm các nước từng bước
được hồn chỉnh dần, đặc biệt là các nước ở Châu Âu.
ü Luật bảo hiểm của các nước thuộc luật pháp lục địa:

* Luật bảo hiểm Pháp (13.07.1930) bắt nguồn từ điều khoản có liên quan
trong Điều lệ hoạt động hàng hải năm 1681 và luật bn bán của Pháp năm1808.
Đây là bộ luật bảo hiểm đường bộ tương đối hồn chỉnh, gồm 4 chương:
Chương 1: Quy định chung về bảo hiểm.
Chương 2: Bảo hiểm thiệt hại.
Chương 3: Bảo hiểm con người.
Chương 4: Trình tự thực hiện.
Năm 1905, Pháp ban hành “Luật giám sát bảo hiểm nhân thọ”. Sau đó vào
năm 1938 còn thơng qua những đạo luật riêng về giám sát các doanh nghiệp bảo
hiểm.


luật hồn chỉnh nhất. Đạo luật này gồm có 18 chương 631 điều.
2. Giới thiệu sơ lược về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của một số nước
liên minh Châu Âu:
2.1 Cơ cấu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo
hiểm:
Các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử lâu đời về bảo hiểm.
Do yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, các nước EU tồn tại song
song hai hệ thống pháp luật. Đó là hệ thống pháp luật chung (Common law-bao
gồm Anh, Aiơlen, Aixơlen) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental
law-bao gồm các nước còn lại).

Trung

Luật bảo hiểm có lịch sử phát triển rất sớm ở Châu Âu. Đạo luật đầu tiên về
bảo hiểm được ban hành từ thế kỷ XIV tại Bồ Đào Nha và khơng ngừng được
hồn thiện cho đến ngày nay. Với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm
tâm
Học
@ Tài
tậpquyvàđịnh
nghiên
chung,
cácliệu
nước ĐH
EU đãCần
thànhThơ
cơng trong
việc liệu
thống học
nhất các

Ngun tắc hoạt động của cơ quan quản lý là “đầy đủ, khách quan, nhất
qn và minh bạch”. Đa số các nước có ngân sách của cơ quan quản lý bảo hiểm
là do các doanh nghiệp đóng góp.
2.3 Các hình thức doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm:

Trung

Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những
hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân. Hình thức doanh nghiệp
bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu (gồm sở hữu trong nước và
nướcHọc
ngồi,
tư nhân
Nhà Thơ
nước) @
và hình
lý. tập
Về cơ
loại hìnhcứu
tâm
liệu
ĐHvàCần
Tàithức
liệupháp
học
vàbản,
nghiên
doanh nghiệp bảo hiểm phổ biến nhất là cơng ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các
hội (hay cơng ty) bảo hiểm tương hỗ và chi nhánh cơng ty bảo hiểm nước ngồi.
Ngồi ra, tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước, còn có các hình thức


Trung

Trong số các điều kiện cấp giấy phép mà doanh nghiệp bảo hiểm phải thỏa
mãn thì việc đáp ứng u cầu về tài chính được đặt lên hàng đầu. Tại tất cả các
nước EU, doanh nghiệp xin cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm phải đáp ứng đủ
các u cầu về vốn pháp định tùy thuộc vào loại nghiệp vụ mà doanh nghiệp dự
kiếnHọc
tiến hành,
thểCần
là 800.000
đối với
cơng
ty bảo
thọ vàcứu
tâm
liệu cụ
ĐH
ThơECU
@ Tài
liệu
học
tậphiểm
và nhân
nghiên
1.400.000 ECU đối với cơng ty bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, hiện nay EU
đang có kế hoạch tăng mức vốn pháp định do yếu tố lạm phát và sự phát triển của
thị trường.
2.5 Quản lý doanh nghiệp bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các u cầu về biên khả năng

cũng chú trọng u cầu “nội địa hóa tài sản đầu tư”, theo đó, các tài sản tạo thành
biên khả năng thanh tốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải được cất giữ lại một
nước EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Ngồi ra, để tránh các rủi ro về
tỷ giá, pháp luật EU cũng quy định các khoản đầu tư phải được thực hiện bằng
đồng tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã cam kết với khách hàng, mặc khác, thời
hạn Học
đầu tưliệu
cũng ĐH
phải Cần
tương ứng
hạnliệu
thanhhọc
tốn tập
cho các
vụ củacứu
tâm
Thơvới@thờiTài
vànghĩa
nghiên
doanh nghiệp bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm để hạn chế những rủi ro
về lãi suất. Để duy trì sự quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động này, theo
quy định của pháp luật EU, theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho
cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư
của doanh nghiệp. Về cơ bản, khơng có sự khác biệt trong pháp luật điều chỉnh
hoạt động đầu tư giữa doanh nghiệp trong nước và chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngồi.
3. Giới thiệu sơ lược về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của một số nước
Châu Á:
3.1 Luật bảo hiểm Trung Quốc:
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, các cơng ty bảo hiểm ở Trung Hoa ra

thì thời
pháttập
sinhvà
trách
nhiệm bảocứu
Trung tâm Học
liệu
CầncủaThơ
liệuđiểm
học
nghiên
hiểm theo hợp đồng kể từ ngày ghi trên hợp đồng. Ngồi ra người u cầu bảo
hiểm có thể chấm dứt hợp đồng bảo hiểm sau khi hợp đồng đó đã được xác lập
nhưng khơng quy định rõ các trường hợp.

Ngồi ra, bên bảo hiểm phải thanh tốn tiền bồi thường hay trả tiền bảo
hiểm trong vòng 10 ngày sau khi đạt được một thỏa thuận với người được bảo
hiểm hay người thụ hưởng.
Luật bảo hiểm Trung Hoa còn quy định rõ trong trường hợp bảo hiểm phi
nhân thọ thì quyền u cầu của người được bảo hiểm, người thụ hưởng sẽ chấm
dứt nếu khơng thực hiện trong vòng 2 tháng kể từ ngày biết được việc xảy ra sự
kiện bảo hiểm. Đối với bảo hiểm nhân thọ thì thời hạn này là 5 tháng.
+ Phần 2: Hợp đồng bảo hiểm tài sản:
Trong đó, luật của Trung Hoa quy định một hợp đồng bảo hiểm hàng hóa
hay một hợp đồng phương tiện vận chuyển khơng được phép chấm dứt bởi bất kỳ
bên nào sau khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm. Như vậy, khi hợp đồng bảo hiểm
hàng hóa chưa phát sinh nghĩa vụ bảo hiểm thì người u cầu bảo hiểm mới có
quyền u cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Khi đó, người bảo hiểm phải hồn
trả cho người u cầu bảo hiểm số phí bảo hiểm đã nộp. Nếu người u cầu bảo
18

gồm 15 điều.
Trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, cơng ty bảo hiểm phải tái bảo hiểm
20% của mỗi hợp đồng bảo hiểm mà cơng ty khai thác theo quy định có liên quan.
- Chương V gồm 16 điều quy định về việc quản lý và giám sát bảo hiểm.
- Chương VI về đại lý bảo hiểm và mơi giới bảo hiểm.
- Chương VII gồm 17 điều quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý. Trong
đó còn quy định những hành vi vi phạm và các biện pháp xử phạt cần thiết.
- Chương VIII bao gồm các điều khoản bổ sung.
19


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
3.2 Luật bảo hiểm Campuchia:
Hoạt động bảo hiểm ở Campuchia được hình thành từ năm 1959. Lúc đó, ở
Campuchia đã có 5 cơng ty bảo hiểm của người Pháp và người Hoa. Vào năm
1963, Nhà nước Campuchia mua cổ phiếu của các cơng ty này và thành lập cơng
ty Bảo hiểm quốc gia Campuchia. Nhưng vào năm 1975, sau khi chiếm
Phnơmpênh, Polpot xóa bỏ các cơng ty bảo hiểm. Sau đó được sự giúp đỡ của
Tổng cơng ty bảo hiểm Việt Nam, Nhà nước Campuchia cho thành lập lại cơng ty
bảo hiểm. Tuy nhiên, do bị xóa bỏ trong một thời gian, nên thế hệ những người
Campuchia đã làm bảo hiểm và hiểu về bảo hiểm hầu như rất ít, có thể nói chưa
hình thành tập qn bảo hiểm. Năm 1990, cơng ty bảo hiểm nhà nước Campuchia
bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 1999 doanh số của cơng ty này xấp xỉ 3 triệu đơla,
chủ yếu là về bảo hiểm hàng nhập và hàng khơng, xe cơ giới, gần như chưa tiến
hành bảo hiểm con người. Để hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và đưa
hoạt động này vào nề nếp, ngày 20.06.2000 Quốc Hội Campuchia đã ban hành
Luật bảo hiểm.
Luật Bảo hiểm của vương quốc Campuchia ngắn gọn, bao gồm 56 điều,
chia làm 8 chương.


cho người được bảo hiểm chống lại tệ quan liêu, cửa quyền có thể có.
20


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Luật bảo hiểm Campuchia cũng quy định thời gian gia hạn đóng phí bảo
hiểm trước khi hợp đồng bảo hiểm bị hủy bỏ do người được bảo hiểm chậm đóng
phí.
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Luật bảo hiểm Campuchia cho phép
doanh nghiệp bảo hiểm có thể bồi thường trực tiếp cho nạn nhân.
Trong bảo hiểm tài sản để bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm.Luật
quy định nếu xảy ra tổn thất tồn bộ đối với tài sản dược bảo hiểm nhưng rủi ro
dẫn đến tổn thất đó khơng thuộc phạm vi bảo hiểm, thì người bảo hiểm có nghĩa
vụ trả lại cho người được bảo hiểm 90% số phí bảo hiểm của thời gian còn lại của
hợp đồng.

Trung

Mục 3 của chương hợp đồng bảo hiểm quy định về “Bảo hiểm nhân thọ và
Bảo hiểm tai nạn”. Luật bảo hiểm Campuchia quy định các điều kiện khi ký kết
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và cho phép các cơng ty bảo hiểm từ chối ký kết hợp
đồng bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm bị bệnh thần kinh, đang
nằm viện và cho phép cơng ty bảo hiểm từ chối trả tiền bảo hiểm nếu người bảo
hiểm tự tử sau khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ký kết được trên 2 năm và doanh
nghiệp bảo hiểm cũng sẽ khơng trả tiền bảo hiểm nếu người được bảo hiểm bị chết
tâm
Họcđộng
liệu
Thơ
@. Tài liệu học tập và nghiên cứu

định trường hợp liên doanh có vốn nhà nước thì vốn nhà nước phải chiếm 51%.
Chương V quy định về đại lý và mơi giới bảo hiểm.Luật cho phép đại lý là
thể nhân nhưng cũng có là pháp nhân.
Chương VI nói về các hình thức xử phạt.
Chương VII có một điều quy định việc thực hiện điều 40, 42 về bảo hiểm
xây dựng và hành khách từ khi luật được ban hành cho đến ngày 31.12.2000 (tức
là trong giai đoạn chuyển đổi).
Chương VIII có một điều gọi là điều khoản cuối cùng, theo đó mọi quy
định trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
III. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH
BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:
Bảo hiểm Việt Nam hình thành và phát triển theo 4 giai đoạn khác nhau với
những đặc thù và tính chất khác nhau .
- Giai đoạn trước 30-04-1975.
- Giai đoạn từ 30-04-1975 đến 18-12-1993.
- Giai đoạn từ 18-12-1993 đến 09-12-2000.
- Giai đoạn sau 09-12-2000.
1.Giai đoạn trước 30-04-1975:
1.1.Ở miền Bắc:
Trong giai đoạn này, ngành bảo hiểm có một tổ chức đại diện duy nhất là
Bảo Việt (tức Tổng cơng ty bảo hiểm Việt Nam) được thành lập theo Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ ngày 17-11-1964 và hoạt động chính thức ngày 15-111965.
22


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Lúc này, do ảnh hưởng của chiến tranh chống Mỹ nên Bảo Việt chỉ thực
hiện chức năng theo mệnh lệnh hành chính và khơng thể hiện rõ chức năng kinh

thuận trên hợp đồng.
Vào năm 1976, Nhà nước chủ trương thống nhất bảo hiểm nên BAVINA
được chuyển thành chi nhánh của cơng ty bảo hiểm Việt Nam (gọi là Bảo Việt
/HCM) tại thành phố Hồ Chí Minh.
23


Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Như vậy từ năm 1976 đến năm 1993, Bảo Việt là cơng ty bảo hiểm duy
nhất của Nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch
tốn kinh tế tồn ngành (năm 1980). Bảo Việt trực thuộc Bộ Tài chính có chức
năng giúp Bộ Tài chính thống nhất cơng tác quản lý bảo hiểm nhà nước và trực
tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước. Trong thời gian này, Bảo Việt đã
nghiên cứu triển khai nhiều loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới cho khách hàng
trong và ngồi nước, tiến tới sự cân đối thu chi ngoại tệ vào năm 1986 và được
nâng cấp lên Tổng cơng ty bảo hiểm Việt Nam có chi nhánh ở tất cả các tỉnh thành
trong cả nước (năm 1993 có 53 chi nhánh). Ngồi ra, Bảo Việt còn làm đại lý
giám định bồi thường cho các cơng ty bảo hiểm của nhiều nước trên thế giới khi
được ủy quyền, qua đó đã tạo được ảnh hưởng và uy tín nhất định trên thị trường
quốc tế, tạo ra được một doanh số và lợi nhận tương đối lớn.

Trung

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hoạt động của Bảo Việt còn nhiều hạn chế
mới đơn thuần là thu phí bảo hiểm, bảo vệ tài sản chưa thể hiện được vai trò trung
gian tài chính trong nền kinh tế và cũng chưa thực hiện được chức năng thu hút
tiết kiệm và đầu tư. Còn về quản lý nhà nước, Bảo Việt khơng có tổ chức bộ máy
thực hiện chức năng này. Vì vậy, hệ thống các văn bản pháp quy về kinh doanh
bảo hiểm chưa được hình thành, quan hệ quốc tế mới chỉ giới hạn trong quan hệ
tâm

Sau đó hàng loạt cơng ty bảo hiểm ra đời: Cơng ty bảo hiểm cổ phần (PVIC),
Cơng ty bảo hiểm cổ phần Nhà Rồng (Bảo Long), Cơng ty tái bảo hiểm Quốc gia
(VINARE), Cơng ty bảo hiểm cổ phần bưu điện (PTI)..Năm 1996, Cơng ty Bảo
Việt nhân thọ bắt đầu hoạt động đáp ứng nhu cầu bảo hiểm nhân thọ trong tầng
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status