Chức năng tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động ở Việt Nam hiện nay lý thuyết, thực tiễn và khuyến nghị - Pdf 38

Mục lục
Lời mở đầu..................................................................................................................................................1
Chương 1.....................................................................................................................................................2
Quản lý nhà nước về kinh tế và ................................................................................................................2
chức năng quản lý nhà nước về kinh tế....................................................................................................2
1.1.Khái niệm Quản lý nhà nước về kinh tế..............................................................................................2
1.2. Chức năng của quản lý Nhà nước về kinh tế.....................................................................................3
Chương 2.....................................................................................................................................................6
Nội dung chức năng tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động của Nhà
nước.............................................................................................................................................................6
2.2. Giữ vững ổn định chính trị.................................................................................................................8
2.3. Bảo đảm ổn định xã hội.....................................................................................................................9
Chương 3...................................................................................................................................................13
Chức năng tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động ở Việt Nam hiện
nay thông qua ..........................................................................................................................................13
hoạch định chính sách công.....................................................................................................................13
Kết luận.....................................................................................................................................................25
Tài liệu tham khảo....................................................................................................................................27

Lời mở đầu
Đất nước ta chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986. Từ thời điểm lịch sử đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự
đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối
ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt
1


Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công
nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với nâng cao đời sống

gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội.
1.2. Chức năng của quản lý Nhà nước về kinh tế
Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, được vận hành bằng cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà
nước được xác định là chức năng quản lý kinh tế vĩ mô với các nội dung cơ bản
như sau:
a. Định hướng sự phát triển của nền kinh tế
Định hướng sự phát triển kinh tế là xác định con đường và hướng sự vận
động của nền kinh tế nhằm đạt đến một đích nhất định (gọi là mục tiêu) căn cứ vào
đặc điểm kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ nhất định (cách đi, bước đi
cụ thể, trình tự thời gian cho từng bước đi để đạt được mục tiêu)
Nội dung định hướng phát triển nền kinh tế
Chức năng định hướng có thể khái quát thành những nội dung chủ yếu sau đây:
- Xác định mục tiêu chung dài hạn. Mục tiêu này là cái đích trong một tương
lai xa, có thể vài chục năm hoặc xa hơn.
- Xác định mục tiêu trong từng thời kỳ (có thể là 10, 15, 20 năm) được xác
định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và được thể hiện trong kế hoạch 5
năm, kế hoạch 3 năm, kế hoạch hàng năm.
- Xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu
- Xác định các giải pháp để đạt được mục tiêu
b. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế
Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tập hợp các yếu tố, các điều kiện tạo
nên khung cảnh tồn tại và phát triển của nền kinh tế. nói cách khác, là tổng thể các
3


yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan; bên ngoài, bên trong; có mối liên hệ mật
thiết với nhau, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến việc phát triển kinh tế và
quyết định đến hiệu quả kinh tế.
-Một môi trường thuận lợi được coi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho

năng chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị
trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động kinh tế, ràng buộc
chúng phải tuân thủ các quy tắc hoạt động kinh tế đã định sẵn nhằm bảo đảm sự
phát triển bình thường của nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở
khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện
cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo;
thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp
dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động…
d. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế
Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế là Nhà nước xem xét, đánh giá tình
trạng tốt xấu của các hoạt động kinh tế, và theo dõi, xét xem sự hoạt động kinh tế
đươc thực thi đúng hoặc sai đối với các quy định của pháp luật. Nhà nước ta vận
hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường - hội nhập kinh
tế quốc tế, mọi hoạt động diễn ra rất đa dạng, phức tạp, các thành phần kinh tế vừa
hỗ trợ hợp tác, vừa đấu tranh, mâu thuẫn lẫn nhau trong quan hệ kinh tế thị trường
thường xuyên xảy ra. Hoạt động sản xuất kinh doanh trên các ngành nghề có thể
làm ô nhiễm môi trường, có thể có tác hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn
gian lận thương mại… đều có thể xảy ra.
5


Vì vậy, Nhà nước không thể buông lỏng sự quản lý của Nhà nước trên tất cả
các hoạt động của nền kinh tế phát triển theo định hướng chứ không thể để nó tự
phát được. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế là một chức năng quản lý của Nhà
nước. Công tác này phải được thực thi thừơng xuyên và nghiêm túc.

Chương 2

- Duy trì sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm giữ lạm phát ở
mức có thể kiểm soát được bằng cách duy trì tỷ giá hối đoái hợp lý.
- Duy trì sự cân đối giữa tích luỹ và đầu tư nhằm tránh sự lệ thuộc vào nước
ngoài.
- Đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực như nạn quan liêu, tham nhũng, buôn lậu và
gian lận thương mại.

7


2.2. Giữ vững ổn định chính trị
Chức năng ổn định chính trị của Nhà nước xuất phát từ sự tác động của
chính trị với kinh doanh. Ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt
động kinh doanh. Một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội đáp ứng được các yêu cầu chính đáng của nhân dân sẽ đem lại lòng
tin và hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong một xã hội ổn định chính
trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại
tài sản khác. Do đó, các nhà kinh doanh sẵn sang đầu tư những khoản tiền lớn vào
các dự án dài hạn.
Xu hướng chính trị là định hướng chính trị của chính phủ sẽ áp dụng trong
chính sách điều hành đất nước. Một chính phủ có thể áp dụng một chính sách quá
tải, quá hữu hoặc ôn hoà. Những chính sách này sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều khía
cạnh trong nền kinh tế và các doanh nghiệp. Chẳng hạn, khi một chính phủ áp dụng
chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế và chú trọng đến các chính sách xã hội sẽ
rất thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các cơ hội kinh doanh.
Định hướng của nền kinh tế phản ánh những chính sách kiểm soát về tài
chính và thị trường đối với các hoạt động kinh tế, đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ,
cũng như chính sách kiểm soát môi trường, tài nguyên.
Các chính sách điều hành và kiểm tra nền kinh tế của chính phủ bao gồm
chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả, chính sách tiền lương. Các chính

này, “bàn tay” của Nhà nước có sức mạnh hơn thị trường. Các định hướng trong
việc giải quyết vấn đề này bao gồm:
+ Chương trình giảm tỷ lệ sinh đẻ
+ Khuyến khích phát triển nông nghiệp và nông thôn

9


+ Thay thế kỹ thuật sản xuất sử dụng nhiều lao động thay vì áp dụng những
kỹ thuật sử dụng nhiều vốn.
+ Thay thế những sản phẩm sử dụng nhiều lao động hơn.
+ Phân phối lại thu nhập cho người nghèo.
+ Tăng sức mua của chính phủ với hàng hoá của các doanh nghiệp quy mô
nhỏ, sử dụng nhiều lao động.
+ Tạo ra công nghệ mới ở địa phương.
+ Quy định tỷ giá hối đoái cân bằng.
+ Chống lại sức ép với mở rộng quá nhanh giáo dục ở cấp cao và từ chối bao
cấp cho giáo dục này, tăng chi tiêu cho giáo dục tiểu học, nhấn mạnh giáo dục khoa
học kỹ thuật và kỹ thuật.
+ Cải thiện sự linh hoạt về lương ở mức cao.

Vấn đề công bằng xã hội:
Công bằng vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Đảm bảo công
bằng xã hội là việc Nhà nước can thiệp vào thị trường nhằm một mặt tăng thu nhập
của những người nghèo làm cho khoảng cách giàu nghèo không tăng hơn mà giảm
đi, mặt khác nhằm làm cho giá cả phản ánh đúng chi phí mà xã hội bỏ ra.
Một số định hướng trong việc giải quyết vấn đề công bằng theo hướng thứ
nhất gồm:
+ Phân phối lại thu nhập thông qua thuế.
+ Phân phối lại thu nhập thông qua chuyển giao thu nhập bằng việc tăng

nhiệm vụ này theo các biện pháp:
+ Xã hội hoá các phương tiện sản xuất,
11


+ Tín dụng cho người nghèo.
+ Giáo dục tiểu học phổ cập.
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn.
+ Thực hiện các loại thuế thu nhập luỹ tiến, các trợ cấp lương thực.
+ Các chương trình sức khoẻ, kế hoạc hoá gia đình.
+ Các chương trình xoá đói giảm nghèo.
+ Nghiên cứu về lương thực, thực phẩm.
Vấn đề củng cố và phát triển văn hoá.
Văn hoá trong nền kinh tế thị trường có nhiều điều kiện để phát triển, song
cũng gặp không ít trở ngại trên con đường phát triển của nó. Củng cố và phát triển
văn hoá không chỉ là nhiệm vụ mà còn là mục tiêu của quản lý nhà nướcvề kinh tế.
Thông qua củng cố và phát triển văn hoá mà đảm bảo điều kiện cho kinh tế phát
triển.
Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Những hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh
doanh gồm: sản xuất hàng hoá, buôn lậu, trốn thuế và gian lận thương mại, vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ, tham nhũng. Những tiêu cực này ở Việt Nam còn tương đối
phổ biến do đó nhiệm vụ của Nhà nước ta trong lĩnh vực này còn rất nặng nề.
Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, vì mục tiêu lợi nhuận,
các chủ thể kinh tế có thể làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Nhà nước cần
can thiệp để hạn chế mức độ ảnh hưởng xấu tời môi trường sinh thái như kiểm soát
mức độ ô nhiễm, đánh thuế và đưa ra những quy định về cấm hoặc cho phép ở mức
độ nào đó.



thông qua đó, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý

đối với đất nước. Các chính sách công là sự tác động của Nhà nước lên các lĩnh vực
hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Có thể nói, các chính sách
công là những bộ phận hợp thành của toàn bộ chiến lược phát triển đất nước. Vì
vậy, khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia, chúng ta phải xem xét tổng thể
các chính sách công của quốc gia đó để thấy được định hướng phát triển chung của
quốc gia. Chính sách công được Nhà nước đề ra như một chương trình hành động
trong một thời gian lâu dài để giải quyết một vấn đề nhất định.
Do đó, chính sách thường bao gồm một loạt các quyết định quản lý có quan hệ
với nhau cùng tác động lên vấn đề đó theo mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Như vậy,
có thể phát biểu khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập
hợp các quyết định hành động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt
ra trông đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định. Chính sách công do Nhà
nước đề ra và tổ chức thực thi nên chính sách công luôn phản ánh bản chất của
Nhà nước đó”. Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư bản là những Nhà nước của
giai cấp bóc lột, của thiểu số thống trị đối với đa số nhân dân lao động, do đó, chính
sách công của những Nhà nước này phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị.
Những quyền lợi này đôi khi trùng hợp với quyền lợi của quốc gia và nhân dân lao
động, nhưng nhiều khi, chúng mâu thuẫn và đối lập lại quyền lợi của người lao
14


động, khi đó chính sách công không được sự ủng hộ của nhân dân.
Ở nước ta, các chính sách công do Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đề ra. Nhà nước ta là Nhà nước của giai cấp công nhân dựa trên nền tảng liên
minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn
dân xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh; xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đảng ta là người đề xướng đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là Nhà nước do

lực để đáp ứng kịp thời, có hiệu quả và tiết kiệm nhằm giải quyết một vấn đề của
quốc gia hay một vấn đề mà Nhà nước quan tâm đến.
Ở nước ta, các chính sách công là sự cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng trong
các lĩnh vực hoạt động của đời sống,

nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc đang đặt ra

trong lĩnh vực đó. Vì vậy, các chính sách công của Nhà nước ta luôn phản ánh
đường lối, chủ trương của Đảng và định hướng phát triển các hoạt động trong mỗi
lĩnh vực theo đường lối đó.
-Vai trò kích thích phát triển:
Khác với các công cụ quản lý khác, phần lớn các chính sách công có vai trò
kích thích, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Bản thân mỗi
chính sách công khi hướng vào một vấn đề đang đặt ra, tự nó chứa đựng nhu cầu
giải quyết vấn đề đó, làm cho sự vật phát triển lên một bước. Đồng thời, khi giải
quyết một vấn đề thì chính sách đó lại tác động đến các vấn đề chính sách khác,
làm nảy sinh những nhu cầu phát triển mới.
Chẳng hạn, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã giải phóng
được sức sản xuất, huy động được tiềm năng của các thành phần kinh tế, khuyến
khích họ phát triển nhằm đem lại những lợi ích lâu dài cho đất nước cũng như cho
mỗi cá nhân. Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần lại đặt ra những yêu cầu
mới như: phát triển đồng bộ các thị trường, hình thành các loại hình công ty, cạnh
tranh, phá sản...
- Vai trò điều tiết:
Chính sách công được Nhà nước ban hành để giải quyết những vấn đề bức
xúc phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, điều tiết những sự mất cân đối, những
hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một hành lang hợp lý cho các hoạt động xã hội
theo các mục tiêu đề ra.
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực của nó còn có những
16


những mục tiêu



Nhà nước mong muốn đạt được. Các mục tiêu có thể là định tính hoặc định lượng,
là mục tiêu lâu dài, có tính chiến lược hay những mục tiêu trung hạn hoặc ngắn hạn
nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước trong thời gian một vài
17


năm.
- Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định
chính sách về một vấn đề nào đó, mà còn bao gồm

những hành vi thực hiện

các dự

định nói trên.
Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định
chính sách nhằm làm thay đổi và phát triển một lĩnh vực nhất định. Song, nếu chính
sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản và được cấp có thẩm quyền
thông qua thì nó vẫn chưa phải là một chính sách. Chính sách công còn phải bao
gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế.
Nhiều người thường hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ
trương mà Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc
thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó
chỉ là những khẩu hiệu mà thôi. Xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm
những việc Nhà nước định làm và không định làm. Điều đó có nghĩa là, không phải

hại to lớn đối với lợi ích chung của quốc gia; vì vậy chính sách cồng phải đứng trên
lợi ích của quốc gia để giải quyết vấn đề.
Chính sách công có phạm vi tác động rộng. Chính sách công được ban hành
nhằm điều tiết hoạt động của một hoặc nhiều ngành, một hoặc nhiều lĩnh vực, một
hoặc nhiều địa phương, một cộng đồng dân cư hay một quốc gia.
Chính sách công có thể tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để thực
hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực đó. Có nhũng lĩnh vực chịu tác
động của một vài hoặc nhiều chính sách công của Nhà nước. Tuy nhiên, cũng có
những hoạt động chưa được điều tiết bằng chính sách công của Nhà nước, đó là
những khoảng trống chính sách. Xu hướng chung là các khoảng trống này sẽ dần
dần được lấp đầy, bởi vì Nhà nước ngày càng mở rộng phạm vi điều hành, quản lý
19


của mình đối với toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.

3.3. Những quả đạt được và một số hạn chế trong hoạch định chính sách
công tại Việt Nam hiện nay
Đối với một chu trình chính sách thường bắt đầu từ việc hoạch định chính
sách, tiếp theo là thực thi chính sách và sau một khoảng thời gian thực hiện cần tiến
hành đánh giá chính sách để điều chỉnh, bổ sung chính sách…
Như vậy, hoạch định chính sách được coi như là bước khởi đầu trong chu
trình chính sách. Đây là bước đặc biệt quan trọng. Hoạch định chính sách đúng đắn,
khoa học sẽ xây dựng được chính sách tốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc
sống và mang lại hiệu quả cao.
Ngược lại, hoạch định sai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế,
thiếu tính khả thi sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình quản lý.
Những tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ, mà nó ảnh hưởng lâu dài, liên quan
tới nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
3.3.1. Những kết quả đạt được trong hoạch định chính sách công

Như vậy, chính sách công được ban hành dựa trên suy xét, phân tích tình hình
thực tế và trên cơ sở những mong muốn quản lý của từng cơ quan nhà nước. Sự
tham gia đề xuất ý tưởng hoạch định chính sách, hoặc đóng góp vào xây dựng các
phương án, biện pháp chính sách của các đối tượng bị ảnh hưởng bởi chính sách là
rất hạn chế.
Rất ít các chính sách công được ban hành xuất phát từ ý tưởng của những đối
tượng bị chính sách chi phối, ảnh hưởng và các biện pháp thực hiện chính sách do
21


những nhà quản lý xây dựng nên. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm
cho một số chính sách tính khả thi thấp, hoặc khi thực thi không đem hiệu quả như
nhà quản lý mong muốn.
Thứ hai, các ý tưởng hoạch định chính sách được đề xuất, và dự thảo chính
sách chủ yếu do cơ quan nhà nước (chủ yếu là do các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành
phố thực hiện) thì dễ nảy sinh tình trạng cục bộ, bản vị; đề xuất dựa trên mong
muốn, mục đích quản lý của ngành, địa phương do mình quản lý mà không tính tới
tổng thể chung.
Thứ ba, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và căn cứ vào tình hình
quản lý, các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố để đề xuất dự thảo chính sách trong
lĩnh vực quản lý được giao và cũng chính là cơ quan dự thảo, do đó thiếu sự phối
hợp giữa các bộ, ngành nên chính sách thiếu tính toàn diện. Tính phối hợp trong
các chương trình ban hành chính sách giữa các bộ, ban, ngành là không cao.
Có thể nói rằng hiện tượng việc của bộ nào thì bộ ấy lo vẫn còn là điều phổ
biến, do vậy rất dễ khi chính sách đó được thực thi thì sự chênh chính sách, chồng
chéo chính sách hoặc mâu thuẫn, trái ngược về chính sách là rất dễ xảy ra.
Thứ tư, quy trình hoạch định chính sách còn bị khép kín; việc lấy ý kiến tham
gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chính sách còn ít, nếu có thì
hình thức; việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành chưa thể hiện tính chủ động.
Mặt khác, chưa có quy định cụ thể để huy động được trí tuệ của nhân dân, các

giá gạo trên thị trường thế giới bị đẩy lên cao, vấn đề an ninh lương thực đặt ra…
Chính sách phát triển nông nghiệp ở nước ta cần phải có sự tính toán, cân nhắc,
điều chỉnh lại. Như vậy, chính sách công của một quốc gia cũng đang phải chịu
nhiều sự chi phối ở mức độ và phạm vi rộng lớn hơn.
Trong việc hoạch định chính sách công cần phải có sự tổng kết, phân tích,
23


đánh giá tình hình, tác động ảnh hưởng tới quá trình thực hiện chính sách, các biện
pháp thực hiện chính sách, và từ đó làm căn cứ để lựa chọn phương án chính sách
phù hợp với thực tế.
Thứ bảy, việc đánh giá tác động của chính sách trước khi ban hành hiện nay
tại Việt Nam còn rất hạn chế. Việc phản biện chính sách trước khi ban hành là việc
làm rất quan trọng để có thể lường trước được những mặt tiêu cực có thể do thực
thi chính sách mang lại cho đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách đó.
Hiện nay các nước trên thế giới hoạt động phản biện chính sách là một khâu rất
quan trọng nhưng tại Việt Nam thì hoạt động này lại bị coi nhẹ.
Do tồn tại những thực trạng trên cho nên dẫn tới hệ quả là các chính sách thực
thi hiệu quả chưa cao như: kết quả phát triển kinh tế - xã hội còn thấp; các chính
sách khi đưa vào thực thi có khi không thực sự phù hợp với địa phương đó do thiếu
sự phối hợp giữa các bộ, ngành; chính sách xóa đói giảm nghèo còn chồng chéo
nên dẫn đến hiệu quả không cao; đào tạo nguồn nhân lực hay là các chính sách
khác triển khai còn nhiều bất cập ...
3.4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạch định chính sách công
nhằm tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động ở
Việt Nam trong thời gian tới
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động hoạch định chính sách
công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, cần đặt trọng tâm
vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức để trên cơ sở đó mở rộng sự tham dự


Kết luận
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế
quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao, khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status