Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009 – 2013
Đề tài:
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ
THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. BÙI THỊ MỸ HƯƠNG
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
NGUYỄN VĂN VỈ
MSSV: 5095489
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 3 – K35
Cần thơ, 11/2012
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 1
luận văn ngày càng tốt hơn, để tự tin hơn khi đứng trước hội
đồng bảo vệ.
Do những hạn chế về mặt kiến thức, luận văn của em
không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự nhận
xét, đóng góp chân thành của quý thầy cô, cùng mọi người.
Em xin chân thành cảm ơn!
Cần thơ, tháng 11 năm 2012
Nguyễn Văn Vỉ
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 2
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ......................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. phạm vi nghiên cứu............................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................3
5. Bố cục đề tài........................................................................................................3
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA
KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ............................. 4
1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc và quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nước ngoài......................................................................................4
1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc ..................................................4
1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ................5
1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài..8
1.2.1. Khái niệm ....................................................................................................8
1.2.2. Các loại nguồn.............................................................................................9
1.2.2.1. Điều ước quốc tế ....................................................................................9
1.2.2.2. Pháp luật quốc gia................................................................................11
1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài......................................................................................................................12
1.3.1. Khái niệm ..................................................................................................12
1.3.2. Các phương pháp điều chỉnh......................................................................13
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)...................13
1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp (còn gọi là phương pháp xung đột)...................15
1.4. Các nguyên tắc chung và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về
2.1. Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc ........................................32
2.1.1. Năng lực lập di chúc ..................................................................................33
2.1.2. Thay đổi và hủy bỏ di chúc........................................................................39
2.1.2.1. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc của cá nhân ........................39
2.1.2.2. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng ..........41
2.2. Hình thức lập di chúc ....................................................................................42
2.2.1. Di chúc bằng văn bản ................................................................................43
2.2.1.1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng ................................ 44
2.2.1.2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng...........................................46
2.2.1.3. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực ..............................................48
2.2.1.4. Những trường hợp khác di chúc được thể hiện dưới dạng văn bản .......49
2.2.2. Di chúc miệng ...........................................................................................53
2.3. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các tranh chấp về quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài .....................................................56
2.3.1. Những trường hợp mà Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài .....................................56
2.3.2. Những trường hợp mà Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ............................... 63
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ
QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI ................................................................................................... 66
3.1. Thực trạng về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.............66
3.1.1. Hình thức di chúc ......................................................................................66
3.1.2. Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc .......................................69
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 5
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan
trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền
của công dân. Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được
đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội. Mỗi Nhà nước dù có các
xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân
và được ghi nhận trong Hiến pháp.
Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một
lớn mạnh tạo điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, đã làm gia tăng
hết sức mạnh mẽ các giao lưu về dân sự có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải được pháp
luật điều chỉnh, trong đó có một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh
của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước
ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Khi
vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài phát sinh thì đặt ra vấn đề là có thể
có nhiều pháp luật của các nước khác nhau liên quan đến quan hệ đó đều có thể được
áp dụng để điều chỉnh quan hệ này, bởi vậy mà dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật
giữa các nước cần được giải quyết.
Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế, nên
ngay những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan tâm đến
ban hành pháp luật thừa kế. Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta, lần đầu tiên
được quy định trong chương “Điền sản” của Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê Thái
Tổ. Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng Cộng hòa xã hội ở nước ta, các
quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện trên thực tế tại
các Điều 19 Hiến pháp 1959 “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa kế tài
sản tư hữu của công dân”. Điều 27 Hiến pháp 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế
tài sản của công dân”, Điều 58 Hiến pháp 1992 “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp
pháp và quyền thừa kế công dân”... và đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995,
sau đó Bộ luật dân sự năm 2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật Việt
Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng. Bộ luật dân sự 2005 được xem là kết
quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật thừa kế. Nó kế thừa
và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ
luật Việt Nam hiện hành. Qua đó, người viết đề cập đến một số thực trạng trong quy
định về các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay,
đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện một số vấn đề về quan hệ thừa kế đó.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà
nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, các
quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp.
Trong khi đó, về vấn đề này pháp luật của các nước lại có quan điểm, giải pháp rất
khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật trong lĩnh vực này. Do đó,
việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn chế định này trong pháp luật
mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết.
Bởi vậy, nghiên cứu về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ý
nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó và xuất phát từ những nhu
cầu và thực tiễn của pháp luật hiện nay, người viết làm đề tài này nhằm phân tích rõ
các quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 8
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
ngoài, qua đó đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời nêu lên những quan điểm, và đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quan hệ thừa kế ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp như: phân tích câu chữ của
luật viết, so sánh, diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể, thu
thập thập thông tin dựa trên những quy định của pháp luật, và các sách, tập chí…, để
tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa
kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại
không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho
những người cùng huyết tộc với người mẹ1”.
Trong xã hội cộng xã nguyên thủy, dù chỉ là một nền sản xuất đơn giản nhưng
cũng nằm trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ
một nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên
trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thức đó”. Vì vậy “Nơi
nào, không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do
đó cũng không có một xã hội nào cả2”. Và cũng chính vì thế mà sở hữu xuất hiện ngay
từ khi có xã hội loài người và với thừa kế chúng phát triển cùng với xã hội loài người.
Quan hệ thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với phát
triển của xã hội loài người. Ở khía cạnh khác thì quan hệ sở hữu là một quan hệ giữa
người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, sự chiếm hữu vật
chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn
người khác, đó là tiền đề đầu tiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.
Từ những điều trên cho thấy, thừa kế có vai trò rất quan trọng trong xã hội loài
người, nó không những đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người chết để lại cho những
người còn sống nói riêng mà nó còn bảo vệ quyền lợi cho mọi công dân chúng ta nói
chung. Để thể hiện vai trò quan tâm của Nhà nước đối với việc thừa kế nên trong Hiến
1
2
Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, 1997, tr.237.
Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, 1997, tr.238.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 10
dân sự, bao gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Nhưng ở đây người
viết chỉ đi sâu vào nghiên cứu phần thừa kế theo di chúc, và cụ thể hơn là người viết
nghiên cứu về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là thừa kế được nghiên cứu trong
phạm vi Tư pháp quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ
thừa kế được xác định theo quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật
dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất
một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt nam
định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 11
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp
luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở
nước ngoài”. Như vậy theo định nghĩa này thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
gồm có ba yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất về mặt chủ thể: Có ít nhất một trong các bên
tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài; yếu tố thứ hai về mặt khách thể: Có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài; và yếu tố thứ ba về sự kiện pháp lý: Những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Và chỉ cần có một
trong ba yếu tố này thì có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: Một công dân Việt Nam lập di
chúc nhưng di chúc đó có tài sản ở nước ngoài thì nếu quan hệ thừa kế theo di chúc
phát sinh thì quan hệ đó là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, có thể định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
là: “Quan hệ thừa kế theo di chúc mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia
Trang 12
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
trưng để nhận biết rằng có yếu tố nước ngoài, tức đây là một quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nước ngoài.
Thứ hai, pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo pháp luật
của một nước nhất định, thông thường một tổ chức được xem là một pháp nhân khi nó
được thành lập theo một trình tự nhất định và có đầy đủ các điều kiện của một pháp
nhân theo pháp luật mỗi nước. Pháp nhân bao gồm pháp nhân Việt Nam và pháp nhân
nước ngoài, pháp nhân Việt Nam là pháp nhân được thành lập theo Điều 85 Bộ luật
dân sự năm 2005 quy định về “thành lập pháp nhân” và phải đáp ứng đủ điều kiện để
được công nhận là pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sự năm 20055; pháp nhân nước
ngoài là một pháp nhân hoạt động ở một nước khác nhưng không có quốc tịch ở nước
đó thì pháp nhân này được gọi là pháp nhân nước ngoài6. Pháp nhân nước ngoài theo
pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định
138/2006/NĐ-CP7. Tương tự như cá nhân, một khi pháp nhân nước ngoài có tham gia
vào quan hệ thừa kế theo di chúc thì là một đặc trưng để nhận biết có yếu tố nước
ngoài, tức là quan hệ trên là quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, Quốc gia là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu
tố nước ngoài. Quốc gia là một thực thể được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và xã
hội, tức gồm có các thành phần như lãnh thổ, dân cư, chính phủ và chủ quyền quốc gia
đã cấu thành một quốc gia. Quốc gia khác với các chủ thể khác trong tư pháp quốc tế,
biểu hiện là quốc gia được xem là một chủ thể đặc biệt trong tư pháp quốc tế. Tính
chất đặc biệt này được thể hiện ở chỗ quốc gia luôn luôn có chủ quyền, chủ quyền là
một thuộc tính chính trị và pháp lý không thể tách rời khỏi một quốc gia độc lập. Cụ
thể là khi quốc gia tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế thì được hưởng quyền
miễn trừ tư pháp, tức khi quốc gia tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
là bên bị đơn thì Tòa án được quyền xét xử vụ tranh chấp này, nhưng Tòa án này bị
hạn chế là không được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện
hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án. Tòa án nước ngoài chỉ được quyền
cưỡng chế khi được quốc gia đó cho phép. Ngoài ra thì quốc gia còn có quyền đứng
tên trong vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài với cá nhân, cơ
quan, tổ chức nước ngoài với tư cách là bên nguyên đơn. Trong trường hợp này, Tòa
án nước ngoài được quyền giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là cá nhân, cơ
quan, tổ chức nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi được sự đồng ý của quốc gia là
bên nguyên đơn.
Về mặt khách thể
Khách thể là một trong các yếu tố cơ bản để xác định một quan hệ thừa kế theo
di chúc có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài. Dựa theo định nghĩa
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, thì khách thể của quan hệ này là tài
sản thừa kế (di sản) theo di chúc đang tồn tại ở nước ngoài.
-
Về sự kiện pháp lý
Tương tự như chủ thể và khách thể, thì sự kiện pháp lý cũng là một trong ba
yếu tố để nhận biết một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Sự kiện
pháp lý trong định nghĩa thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý
có căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế theo di chúc theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Và sự kiện pháp lý này phải phù hợp với pháp luật
Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài.
-
1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Khái niệm
Nguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình
thức chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy
đủ tính chất của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo
nước ngoài là một bộ phận của tư pháp quốc tế nên nguồn của nó cũng mang bản chất
của nguồn tư pháp quốc tế, nhưng nó mang những đặc điểm riêng so với nguồn của tư
pháp quốc tế.
1.2.2. Các loại nguồn
Do là một bộ phận của tư pháp quốc tế, nên nguồn quan hệ thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài hạn hẹp hơn so với nguồn của tư pháp quốc tế, chủ yếu gồm có
hai loại nguồn sau: Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.
1.2.2.1. Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thỏa thuận của các chủ
thể pháp luật quốc tế (trước hết là các quốc gia) trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm
quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ
quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế10.
Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một
lớn mạnh giữa các quốc gia, đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia
trên mọi lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau. Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia
9
Diễn đàn sinh viên luật: Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế,
t%E1%BA%BF,%20, [truy cập ngày 05/09/2012].
10
Thông tin hướng dẫn nghiệp vụ: Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập có phải là căn cứ pháp lý không?,
[truy cập ngày
07/09/2012].
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 15
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Việt Nam và Mông Cổ đã được ký ngày 13 tháng 6 năm 2002,… Qua các Hiệp định
tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước liên quan đến các vấn đề về
quan hệ thừa kế theo di chúc thì cho thấy quan hệ thừa kế theo di chúc không phân biệt
di sản là động sản hay bất động sản mà có nội dung cơ bản là giống nhau, đều quy
định về các vấn đề: “Năng lực lập di chúc, thay đổ và hủy bỏ di chúc; hình thức lập di
chúc” để điều chỉnh giải quyết xung đột, tương ứng với từng vấn đề đó sẽ xác định
được pháp luật áp dụng. Cụ thể, theo Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự,
gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mông Cổ tại Điều
36 quy định:
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 16
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
“1. Năng lực lập hoặc huỷ bỏ di chúc, cũng như hậu quả pháp lý của những sai
sót trong việc thể hiện ý chí, được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà người để
lại di chúc là công dân vào thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc.
2. Hình thức di chúc và huỷ bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của Bên ký
kết mà người để lại di chúc là công dân vào thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc. Tuy
nhiên, cũng là hợp thức, nếu tuân theo pháp luật của Bên ký kết nơi di chúc được lập
hoặc huỷ bỏ.”
Và tại Điều 41 của Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự
và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga quy định:
“1. Năng lực lập hoặc huỷ bỏ di chúc, cũng như hậu quả pháp lý của những
nhược điểm về thể hiện ý chí của người lập di chúc, được xác định theo pháp luật của
Bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc.
2. Hình thức lập hoặc huỷ bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của Bên ký
văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể như Hiến
pháp năm 1992 của nước Cộng hòa chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 2005 và
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,… Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã dành
một số điều để quy định các nguyên tắc để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có
yếu tố nước ngoài, cụ thể các nguyên tắc đó là: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
(Điều 75), Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật
Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo
pháp luật Việt Nam (Điều 81).
Qua những đều trên cho thấy, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là nguồn cơ bản nhất đối với quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu
tố nước ngoài, bởi vì nó quy định những điều cơ bản nhất, đưa ra những nguyên tắc
Hiến định và đây cũng là cơ sở để các văn bản pháp luật khác được ban hành và để
điều chỉnh quan hệ này.
Các nguyên tắc Hiến định nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói
riêng trên đây được pháp điển hóa trong các văn bản luật như: Bộ luật dân sự năm
2005, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật đất đai năm 2003,…Ngoài các văn
bản luật nêu trên, những vấn đề về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
được chính phủ ta ban hành các văn bản dưới luật nhằm quy định hoặc chi tiết hóa,
hướng dẫn việc thi hành các văn bản luật như Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15
tháng 11 năm 2006, quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Do đó, vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các văn bản này
là hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
nước ngoài ở nước ta hiện nay.
1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nươc ngoài
1.3.1. Khái niệm
Phương pháp điều chỉnh là cách thức ngành luật tác động lên các đối tượng
thuộc phạm vi điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Mỗi ngành luật có
phương pháp điều chỉnh đặc thù khác nhau. Ví dụ: ngành luật dân sự: thỏa thuận,
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)
Đây là phương pháp dùng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết
nội dung của các quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các bên) theo một hệ thống
pháp luật nhất định13. Hay nhằm tác động trực tiếp lên quan hệ tư pháp quốc tế nói
chung, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, phương
pháp này quy định một cách cụ thể cách thức hành xử của các chủ thể liên quan (trực
tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên chủ thể), được xây dựng trên cơ
sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nước ngoài. Quy phạm thực chất là quy phạm quy định sẵn các quyền,
nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài. Khi quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài xảy ra,
nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì các bên chủ thể cũng như cơ quan có
thẩm quyền (Tòa án, trọng tài,…) căn cứ ngay vào đó để xác định vấn đề mà họ đang
quan tâm. Đây là phương pháp được áp dụng phổ biến và là phương pháp cơ bản của
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.
12
Luật học: Nhận thức chung về Tư pháp quốc tế,
[truy cập ngày
12/09/2012].
13
Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, bài giảng Tư pháp quốc tế, 2002, tr.3.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 19
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
hệ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời
gian, tránh được việc phải tìm hiểu pháp luật nước ngoài là vấn đề rất phức tạp. Tuy
nhiên, phương pháp này cũng có mặt hạn chế của nó, do quy phạm thực chất thống
nhất có số lượng không nhiều, vì lợi ích của các nước khác nhau, trình độ phát triển
mọi mặt cũng như phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử không giống nhau nên khó
14
15
Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, 2004, tr.34.
Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.40.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 20
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
cùng thỏa thuận ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế, hoặc cùng sử dụng các tập
quán quốc tế đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và thừa kế, nên không đáp ứng
được yêu cầu điều chỉnh hết các quan hệ tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế
theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng diễn ra rất đa dạng, phức tạp.
1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp (còn gọi là phương pháp xung đột)
Đây là phương pháp dùng các quy phạm xung đột để giải quyết vấn đề. Các quy
phạm xung đột không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong
mối quan hệ nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến một hệ thống
pháp luật của một nước nào đó nhằm để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vụ của các
bên16. Qua trên cho thấy quy phạm xung đột dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật mà
các quy phạm thực chất giải quyết quan hệ một cách dứt điểm. Điều này chứng minh
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
nhiên, cũng là hợp thức, nếu tuân theo pháp luật của Bên ký kết nơi di chúc được lập
hoặc huỷ bỏ”.
Còn trong quy phạm xung đột này thì phần phạm vi là: “Hình thức di chúc và
huỷ bỏ di chúc”, phần hệ thuộc là: “pháp luật của Bên ký kết mà người để lại di chúc
là công dân vào thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc” hoặc “pháp luật của Bên ký kết
nơi di chúc được lập hoặc huỷ bỏ”.
Từ ví dụ trên cho thấy cùng một phạm vi nhưng có thể áp dụng nhiều hệ thuộc
khác nhau và ngược lại có khi cùng một hệ thuộc nhưng có thể áp dụng cho nhiều
phạm vi khác nhau.
Tương tự như quy phạm thực chất, quy phạm xung đột cũng có hai loại đó là
quy phạm xung đột thống nhất (quy phạm này được xây dựng bằng cách các quốc gia
thỏa thuận ký kết các điều ước quốc tế) và quy phạm xung đột nội địa (quy phạm này
cũng được xây dựng bằng cách các quốc gia tự ban hành trong hệ thống pháp luật của
nước mình. Ngoài ra, quy phạm xung đột còn được phân loại theo hình thức: gồm có
hai loại là quy phạm xung đột một bên và quy phạm xung đột hai bên.
- Quy phạm xung đột một bên (hay còn được gọi là quy phạm xung đột một
chiều): Là quy phạm chỉ quy định những trường hợp phải áp dụng pháp luật của nước
đã ban hành ra quy phạm này17. Thông thường, đối với quy phạm loại này ở Việt nam,
pháp luật được quy định là pháp luật Việt Nam.
Ví dụ, theo khoản 2 Điều 768 Bộ luật dân sự năm 2005: “Hình thức của di chúc
phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc”. Đây là quy phạm xung đột một
chiều vì nó chỉ quy định pháp luật của nước nơi lập di chúc được áp dụng (vì di chúc
được lập trên một quốc gia xác định).
- Quy phạm xung đột hai bên (hay còn gọi là quy phạm xung đột hai chiều):
Quy phạm không quy định phải áp dụng pháp luật của nước đã ban hành ra quy phạm
nhau nên việc xây dựng pháp luật cũng có những điểm khác nhau như đã trình bày.
Tuy nhiên, do việc xây dựng quy phạm thực chất thống nhất rất phức tạp, số lượng các
quy phạm này không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế (cụ
thể ở đây là về quan hệ thừa kế theo di chúc), trong khi đó số lượng các quy phạm
xung đột lại nhiều hơn và tham gia điều chỉnh hầu hết các quan hệ tư pháp quốc tế; bởi
vậy phương pháp điều chỉnh trực tiếp là phương pháp chủ yếu hiện nay. Trường hợp,
khi một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài xảy ra mà cả quy phạm
thực chất và quy phạm xung đột không có quy định điều chỉnh thì để bảo vệ quyền lợi
của các bên chủ thể và hướng giải quyết quan hệ này của Tòa án thì ta áp dụng biện
pháp tương tự.
1.4. Các nguyên tắc chung và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.4.1. Các nguyên tắc chung về quan hệ thừa kế theo di chúc ở Việt Nam
Nguyên tắc pháp luật thừa kế theo di chúc là những tư tưởng, quan điểm chỉ
đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc
nói riêng trong các văn bản pháp luật sau này. Thông qua đó góp phần thể hiện rõ bản
chất và những đặc trưng pháp luật về thừa kế theo di chúc ở nước ta. Những nguyên
tắc pháp luật thừa kế theo di chúc ở Việt Nam có thể kể đến các nguyên tắc như sau:
1.4.1.1. Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự do lập di chúc của cá nhân, được quy định tại
Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài
sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản
theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Có nghĩa là, nếu người chết để lại di chúc (hợp
pháp) thì việc thừa kế sẽ tiến hành theo di chúc, theo sự định đoạt của người có tài sản
mà trước lúc chết, họ đã thể hiện ý nguyện của mình trong việc phân chia tài sản thuộc
quyền sở hữu của người đó. Bên cạnh đó, quyền tự do ý chí của cá nhân còn được thể
hiện không những trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ mà còn thể hiện
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
việc đảm bảo cho họ có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ
chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
Việc từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc cũng là sự thể hiện ý chí của người
được chỉ định thừa kế theo di chúc đã không nhận thừa kế theo sự định đoạt của người
để lại di sản. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thuộc
hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản thì việc thể hiện ý chí của người đó có
19
Điều 769 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo
pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di
sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản
theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều
643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.”
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 24
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
thể xảy ra trong các trường hợp như: Chỉ từ chối hưởng thừa kế theo di chúc mà không
từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật, nếu di sản chia theo pháp luật, người này
vẫn thể hiện ý chí nhận kỉ phần di sản được thừa kế theo pháp luật; chỉ từ chối hưởng
thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc; từ chối cả
quyền hưởng thừa kế theo di chúc và cũng từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp
Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm
mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa
kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết…”
21
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Trang 25
SVTH: Nguyễn Văn Vỉ