LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUY CHẾ PHÁP lý DÀNH CHO các hợp ĐỒNG GIAO kết QUA MẠNG - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

***********

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(NIÊN KHÓA 2000-2004)

Đề tài:

QUY CHẾ PHÁP LÝ DÀNH CHO CÁC
HP ĐỒNG GIAO KẾT QUA MẠNG

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. ĐẶNG THỊ THU THẢO

PHAN HUYỀN TRÂN
MSSV: 5003007
Lớp : Luật TM 02-K26

Cần Thơ, 07/2004


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng


Chứng thực điện tử ………………………………………………….36
1. Khái niệm chứng thực điện tử ....................................................... 36
2. Nghĩa vụ của các bên liên quan khi sử dụng chứng thực điện tử.. 36
Lời kết……………………………………………………………………………... 38

GVHD: Ths. Đặng Thị Thu Thảo

SVTH: Phan Huyền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

1.Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết đã gặp không ít khó khăn
trong qúa trình tiếp cận, triển khai ý tưởng vì đây là vấn đề rất mới. Đây cũng
chính là lý do người viết chọn đề tài này. Thứ nhất, đó là vì hứng thú mang tính
cá nhân, trước khi tiến hành tìm hiểu về đề tài thương mại điện tử, người viết
biết rất ít về thương mại điện tử, chỉ biết những hình thức đơn giản của các giao
dịch được tiến hành thông qua mạng máy tính như việc các doanh nghiệp tiến
hành trao đổi e-mail, gửi fax để thông tin cho nhau, hay việc tiến hành thanh toán
qua các thẻ mang mã tài khoản của các ngân hàng…và người viết có tính hiếu kỳ
muốn tìm hiểu xem thương mại điện tử có phải là tất cả những điều trên hay
không. Thứ hai, trong suốt 4 năm học, người viết đã được học hầu như tất cả các
kiến thức về luật, trong đó có mảng luật hợp đồng, tất cả các hợp đồng trên lĩnh
vực dân sự, thương mại đều đã được tìm hiểu qua. Trong đó, người viết rất quan
tâm đến mảng hợp đồng trên lĩnh vực thương mại, và tự đặt câu hỏi cho chính
mình trong đợt Khoa luật công bố các đề tài tốt nghiệp dành cho sinh viên k26
lựa chọn là sẽ chọn đề tài nào đây trong lĩnh vực thương mại? Và có một đề tài

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

với tốc độ phát triển của thương mại điện tử hay không lại là cả vấn đề, mặc dù
hiện tại chúng ta đã xây dựng được Dự thảo pháp lệnh thương mại điện tử,
nhưng như thế là chưa đủ, nếu so sánh với trình độ lập pháp của các nước trong
khu vực, Thái Lan, Singapore…(đều có Luật giao dịch điện tử). Trong kế hoạch
sắp tới, Quốc hội đã có kế hoạch xây dựng luật Giao dịch điện tử vào năm 2005,
nhưng để Luật trên đi vào thực thi, thì cần phải thay đổi một số quy định nằm rải
rác trong các luật liên quan. Bên cạnh đó, dựa vào những quy định của luật, Dự
thảo người viết sẽ sử dụng những kiến thức đã học để đưa ra những dự liệu, một
số phương án có thể trong thực tế sẽ khác xa những gì luật quy định…Dựa trên
những số liệu thống kê để biết được thực trạng phát triển của thương mại điện tử
trên thế giới và Việt Nam, để biết được Việt Nam đang ở đâu trong bản đồ
thương mại điện tử thế giới, và trong thời gian tới chúng ta cần phải thay đổi
những gì, có những gì cần phải xây dựng mới hoàn toàn để đảm bảo cho thương
mại điện tử phát triển theo kịp với thế giới.
Trong quá trình tìm hiểu về đề tài này, người viết đã tìm đến nhiều nguồn
thông tin khác nhau, nguồn thông tin khai thác được chủ yếu là từ mạng, sau đó
tổng hợp tất cả những gì liên quan, và chọn lọc những thông tin phục vụ cho việc
tìm hiểu đề tài này để đưa ra phân tích, và tìm hiểu xem giữa những quy định của
pháp luật quốc tế và Việt Nam có gì khác nhau…
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thương mại điện tử là lĩnh vực khá rộng, ngày nay, hầu như tất cả các hợp
đồng đều có thể tiến hành giao kết qua mạng, nhưng trong phạm vi đề tài này
người viết chỉ tiến hành nghiên cứu hợp đồng mang tính chất thương mại được
giao kết qua mạng, và các văn bản làm cơ sở pháp lý chính cho việc nghiên cứu
là Bộ luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Pháp luật thươmg mại quốc tế
Liên hợp quốc (UNCITRAL), Bộ luật mẫu về chữ ký điện tử của UNCITRAL,
Dự thảo 6 Pháp lệnh thương mại điện tử do Bộ thương mại chủ trì soạn thảo, bên
cạnh những so sánh với các quy chế pháp lý hiện hành đang được áp dụng cho


Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

CHƯƠNG I.
TÌM HIỂU KHÁI QUÁT VỀ GIAO DỊCH TRONG THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ
I. THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Thương mại điện tử là một khái niệm mới trên thế giới, hiện nay đang
tồn tại hai quan điểm về thương mại điện tử.
Uỷ Ban Châu Âu đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau:
Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh qua
các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới
dạng text, âm thanh và hình ảnh.1 Và thuật ngữ thương mại cần được diễn giải
theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh ra từ mọi mối quan hệ mang
tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. “Các mối quan hệ mang
tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây : bất cứ giao dịch nào về
cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ ; thỏa thuận phân phối; đại
diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng
các công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác
hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức hợp tác khác về hợp tác công
nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hoặc hành khách bằng
đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”.2Tức là tất cả các hoạt

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như
Internet.4
Như vậy, thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm những hoạt động
thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các
phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex...
Tuy nhiên, sẽ là hợp lý hơn khi quan niệm rằng thương mại điện tử là
cách thức tiến hành kinh doanh thông qua các phương tiện điện tử, tức là bao
gồm các phương tiện như điện thoại, điện báo, telex….Luật Thương mại Việt
Nam cũng thừa nhận các phương tiện điện tử kể trên là các phương tiện có thể
dùng để giao kết hợp đồng (k3 Đ49 Luật Thương mại 1997)5, như vậy luật Việt
Nam có xu hướng theo quan điểm thương mại điện tử theo nghĩa rộng, khi xem
các phương tiện điện tử ngoài mạng là phương tiện chính được sử dụng trong quá
trình thỏa thuận, giao kết hợp đồng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại điên tử, song về bản chất,
các hoạt động thương mại điện tử đều có những điểm chung sau đây :
-Giao dịch thương mại điện tử được thực hiện trên cơ sở các giao dịch
thương mại truyền thống, vì vậy nhiều công việc và quá trình giao dịch thương
mại điện tử có liên quan đến thương mại truyền thống.
-Thương mại điện tử là một hệ thống bao gồm nhiều giao dịch thương
mại. Các giao dịch này không chỉ tập trung vào việc mua bán hàng hóa và dịch
vụ để trực tiếp tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp, mà bao gồm nhiều giao dịch hỗ
trợ để tạo ra lợi nhuận như kích thích, gợi mở nhu cầu đối với hàng hóa & dịch
vụ, hỗ trợ việc chào bán, cung cấp các dịch vụ khách hàng hoặc tạo điều kiện

Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG

MẠI ĐIỆN TỬ6
Có nhiều khái niệm khác nhau để chỉ việc tiến hành công việc kinh
doanh trên mạng, và xoay chung quanh nó là rất nhiều khái niệm còn hết sức mới
mẻ, nếu không được quy định cụ thể trong các văn bản luật, và được hiểu một
cách thống nhất thì sẽ rất khó cho các doanh nghiệp khi tiến hành công việc kinh
doanh của mình khi những thuật ngữ không chỉ đơn thuần liên quan đến luật
pháp mà còn mang nặng tính kỹ thuật nữa. Điều 2 Bộ luật mẫu về thương mại
điện tử của UNCITRAL, nêu ra một số định nghĩa của những thuật ngữ có liên
quan đến thương mại điện tử như sau:
-“Thông điệp dữ liệu” có nghĩa là các thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận
được và lưu trữ lại bằng phương pháp điện tử, quang học hay các phương pháp
khác tương tự bao gồm, mà không hạn chế , các thông điệp dữ liệu điện tử được
trao đổi (EDI), thư điện tử, điện tín telegram, telex hoặc telecopy. Ở đây chúng
ta có thể hiểu một cách đơn giản về thông điệp dữ liệu bằng cách làm một phép
so sánh tương đương. Trong thương mại truyền thống, các hình thức như văn bản
(trên giấy tờ), lời nói hay hành vi cụ thể là các hình thức của hợp đồng thì thông
điệp dữ liệu cũng có nghĩa là hình thức hợp đồng, có khác chăng là nó được tiến
hành trong môi trường điện tử. Thông điệp dữ liệu có thể bao gồm nhiều dạng
như e-mail, hay một cơ sở dữ liệu được mã hoá, các thông tin quảng cáo được
truyền qua mạng, bản fax…
-“Trao đổi thông tin điện tử (EDI)” có nghĩa là sự chuyển thông tin từ
máy tính này sang máy tính khác theo tiêu chuẩn cơ cấu thông tin đã được thỏa
thuận; Thương mại truyền thống sử dụng những phương tiện để trao đổi thông
tin mà từ trước tới nay chúng ta vẫn hay quen thuộc đó là qua đường bưu điện,


Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

+Người gửi vừa là người khởi tạo trong trường hợp bức thông điệp
do người khởi tạo tạo ra gửi trực tiếp đến người nhận, trường hợp này có thể xảy
ra khi các đối tác thực hiện giao dịch thông qua phương tiện điện tử là điện thoại,
hoặc gửi đến một số fax cụ thể của một cơ quan hay đơn vị nào đó.
+Người gửi và người khởi tạo là hai chủ thể hoàn toàn khác biệt.
Khi các đối tác thực hiện giao dịch thông qua mạng máy tính thì đều này được
phân biệt một cách rõ ràng hơn, vì các thông điệp trước khi đến được địa chỉ
(trên mạng) của người nhận thì phải thông qua nhiều server (máy chủ trung gian)
khác nhau. Ví dụ như một đối tác ở Mỹ muốn chuyển một thông điệp dữ liệu cho
một bạn hàng ở Việt Nam, thì thông điệp dữ liệu đó trước khi đến địa chỉ bạn
hàng mà người khởi tạo có chủ ý gửi đến, thì ít ra cũng phải đi qua trung gian là
máy chủ của khu vực châu Á. Trong trường hợp này, người gửi chỉ là một server
trung gian, còn người khởi tạo có server nằm ở Mỹ.
-“Người nhận” thông điệp dữ liệu là người mà người khởi tạo muốn gửi
thông tin tới nhưng nó cũng không bao hàm người đóng vai trò trung gian trong
việc chuyển thông điệp dữ liệu; Đơn giản đây như là những khách hàng, những
đối tác trong thương mại truyền thống vậy, “người nhận” đóng hai vai trò là
người nhận thông điệp dữ liệu và người nhận cũng chính là người khởi tạo khi
người khởi tạo nhận được thông tin phản hồi từ thông điệp mà mình gửi đi.
Tương tự như cách phân biệt giữa người gửi và người khởi tạo ở trên, người
nhận thông điệp dữ liệu theo cách hiểu của Bộ luật mẫu về thương mại điện tử là
người cuối cùng, là người mà chính người khởi tạo có chủ đích gửi thông điệp dữ
liệu đến, chứ không tính đến người nhận là các server trung gian.
-“Trung gian”, với ý nghĩa chỉ thông điệp dữ liệu cụ thể nào đó, có
nghĩa là người, hoặc trên danh nghĩa người đó gửi đi, nhận lại hay lưu trữ thông
điệp dữ liệu hoặc cung cấp các dịch vụ khác liên quan đến thông điệp dữ liệu;
Trong thương mại truyền thống có một dạng trung gian rất cổ điển đó là Bưu

định nghĩa chữ ký điện tử là dữ liệu điện tử nằm trong, được gắn hoặc kết hợp
một cách hợp lý với thông điệp dữ liệu nhằm xác minh người ký và chỉ ra sự
chấp nhận của người ký đối với thông tin trong thông điệp dữ liệu; chứng chỉ
điện tử là thông điệp dữ liệu hoặc dữ liệu khác xác lập mối liên hệ giữa người ký
với dữ liệu tạo chữ ký điện tử, nhà cung cấp dịch vụ chứng thực là tổ chức, cá
nhân cấp phát chứng chỉ điện tử và cung cấp các dịch vụ khác liên quan đến chữ
ký điện tử (ở khía cạnh này luật chưa đề cập đến là liệu rằng các tổ chức cấp phát
chứng chỉ điện tử nước ngoài hoạt động tại Việt nam thì chứng chỉ họ cấp phát
có hiệu lực hay không ?). Theo luật Doanh nghiệp, thì các tổ chức nước ngoài,
người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam (Đ9) không được phép thành
lập doanh nghiệp để tiến hành công việc kinh doanh tại Việt Nam, điều này nếu
áp dụng vào môi trường kinh doanh điện tử là không còn hợp nữa. Bởi vì, các
doanh nghiệp khi tiến hành công việc kinh doanh trên mạng, có rất nhiều chủ thể
ở những quốc gia khác nhau, có thể họ đã tiến hành việc đăng ký chứng thực về
chữ ký ở quốc gia họ, khi tiến hành công việc kinh doanh ở Việt Nam lại phải
đăng ký với tổ chức chứng thực của Việt Nam một lần nữa thì rất gây phiền hà
cho các doanh nghiệp, và như thế sẽ cản trở việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam, đi ngược lại chính sách hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Do đó
cần thay đổi quy định này của luật doanh nghiệp về chủ thể không được phép
thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam (không được tiến hành công việc kinh
doanh), và cho phép cả những chủ thể ở nước ngoài (có server ở nước ngoài)
thực hiện việc cung cấp chứng thực - chứng thực đó được nhận biết toàn cầu thì
nó cũng có hiệu lực pháp lý tại Việt Nam. Trong tương lai, khi Dự thảo 6 pháp
lệnh thương mại điện tử đưa vào thực thi, thì Nhà nước ta cũng sẽ thừa nhận giá
trị pháp lý của chứng thực của các tổ chức nước ngoài (Đ20)7.

3. SỰ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ
Thương mại điện tử đem lại những lợi ích tiềm tàng, giúp người tham gia
thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí tiếp thị và

nước, khu vực và quốc tế.
-Giảm chi phí sản xuất :
Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn
phòng. Các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí
tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm tải nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như
được bỏ hẳn). Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng
khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa
đến những lợi ích to lớn lâu dài, nếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ chiến lược.
-Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị :
Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và tiếp thị. Bằng
phương tiện Internet/web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất
nhiều khách hàng, catalogue điện tử trên web phong phú hơn nhiều và thường
xuyên được cập nhật so với các ấn phẩm quảng cáo thường xuyên lỗi thời.
-Giảm chi phí giao dịch :
Thương mại điện tử qua Internet/ web giúp người tiêu thụ và các doanh
nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá
trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng,
giao dịch thanh toán). Ngày nay, chúng ta có thể tìm đối tác một cách dễ dàng
hơn thông qua các công cụ tìm kiếm trên Internet, đặc biệt là đối tác tại các nước
phát triển, nơi có tỷ lệ phổ cập Internet rất cao. Chúng ta chỉ cần vào một trong
những công cụ tìm kiếm như www.google.com, www.yahoo.com gõ vào vài từ
khóa liên quan đến vấn đề cần tìm, chỉ vài giây sau chúng ta đã có một danh sách
khá dài. Sau vài giờ phân loại, sàng lọc thông tin, chúng ta đã có thể có trong tay
một danh sách các đối tác tiềm năng. Để xem thông tin chi tiết về một đối tác
cũng như sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp, chúng ta có thể vào trực tiếp các
website của họ. So với cách làm truyền thống là qua các danh bạ điện thoại, các
catalogue, phương pháp mới này có rất nhiều ưu điểm : nhanh hơn, chính xác
hơn, tiết kiệm hơn. Nói một cách khác hiệu quả hơn nhiều. Nếu chúng ta muốn
tìm kiếm một loại sản phẩm dịch vụ nào đó cho doanh nghiệp mình, cũng qua
Internet, trong nháy mắt chúng ta đã có danh sách các nhà sản xuất. Bảng so sánh

nước đang phát triển sẽ bị bỏ rơi hoàn toàn.
Lợi ích của thương mại điện tử là tiềm tàng, để có thể khai thác nó mang
lại hiệu quả to lớn, chúng ta cần hiểu rằng thương mại điện tử đã và đang đặt ra
hàng loạt vấn đề phải giải quyết trên tất cả các bình diện : doanh nghiệp, quốc
gia, quốc tế tới những đòi hỏi tất yếu và những vấn đề cần quan tâm của thương
mại điện tử.
Ngoài những lợi ích nêu trên, thương mại điện tử cũng không phải là chỉ
bao gồm những thuận lợi.
Trước tiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì đôi khi chi phí để
thiết lập một website và duy trì website đó nhiều hơn lợi nhuận thu lại được, thế
thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn phải cân nhắc xem có nên tham gia thương
mại điện tử hay không, vừa làm sao tận dụng những lợi thế do thương mại điện
tử đem lại vừa hạn chế những mặt bất cập của nó, không phải luôn lúc nào các
doanh nghiệp cũng làm được tốt cả hai vấn đề cùng một lúc. Đây là một thiệt thòi
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận với các thị trường mới,
những đối tác mới…
Thứ hai, việc mua bán hàng trên mạng quả là có tiết kiệm rất nhiều thời
gian, nhưng việc ấy cũng gây ra một số khó khăn nhất định, để tiến hành việc
mua bán thành công, thì hầu như các đối tác phải tin nhau, ngoài điều đó ra thì
không có gì bảo đảm. Việc cung cấp các thông tin về tài khoản cá nhân hay
những thông tin cá nhân khác là điều bắt buộc trong thanh toán điện tử, nhưng
không có gì đảm bảo là thông tin đó được an toàn tuyệt đối, không thiếu gì
trường hợp các tài khoản bị đánh cắp, và số tiền mất đi thì khó mà tìm lại được.
Tiếp theo là các bí mật về công nghệ hay bí quyết kinh doanh, rất có thể
sẽ không còn là bí mật nữa khi các hacker vào cuộc. Các biện pháp bảo mật
thông tin luôn được cải tiến nhưng nó không phải là biện pháp an toàn nhất cho
mọi lúc.
Tính bằng chứng của các tài liệu điện tử tuy đã được đảm bảo, nhưng
không ai dám chắc rằng nó đảm bảo độ tin cậy tuyệt đối và sẽ không có trường
hợp cung cấp bằng chứng giả, khi mà các biện pháp bảo mật đối với chữ ký điện

1. KHÁI NIỆM VỀ GIAO DỊCH TRONG THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ
Giao dịch trong thương mại điện tử là một hệ thống bao gồm không chỉ
các giao dịch liên quan đến mua bán hàng hóa và dịch vụ, tạo thu nhập mà còn là
các giao dịch có khả năng trợ giúp quá trình tạo ra thu nhập : kích thích nhu cầu
đối với hàng hóa dịch vụ, cung ứng dịch vụ trợ giúp bán hàng, trợ giúp người
tiêu dùng, hoặc trợ giúp trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp. Các hình thức
như gửi thư chào hàng thông qua mạng, thư chào giá, hay các cách trao đổi dữ
liệu khác như fax, điện thoại dẫn đến việc ký kết hợp đồng, tất cả những cái đó
có chung một cái tên gọi là giao dịch trong thương mại điện tử
Do hoạt động với thông tin số hóa trong các mạng điện tử, thương mại
điện tử đem lại một số cơ hội mới cho việc tiến hành các hoạt động thương mại.
Nó làm cho các nhóm khác nhau hợp tác với nhau được dễ dàng hơn. Các nhóm
này có thể là các phòng, ban chia sẻ thông tin trong nội bộ công ty nhằm lập kế
hoạch một chiến dịch Marketing, các công ty phối hợp cùng nhau thiết kế và chế
tạo sản phẩm hoặc dịch vụ mới, hoặc doanh nghiệp chia sẻ thông tin với khách
hàng của họ nhằm cải thiện quan hệ khách hàng.
Việc tiến hành các hoạt đông thương mại trên các mạng điện tử cũng loại
bỏ một số giới hạn vật lý nhất định. Thí dụ, các hệ thông máy tính trên Internet
có thể được lắp đặt để cung cấp dịch vụ trợ giúp khách hàng 24 giờ/ 1 ngày và 7
ngày/ 1 tuần. Các đơn đặt hàng đối với hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp
cũng có thể được tiếp nhận bất kỳ khi nào, bất kỳ ở đâu.
Các giao dịch này được tiến hành thông qua mạng và các phương tiện
điện tử khác, công việc thanh toán cũng vậy, được tiến hành một cách nhanh
chóng thông qua các mạng điện tử, chỉ duy nhất việc vận chuyển hàng hoá là
được tiến hành một cách hữu hình, bằng phương pháp vật lý thông thường như
trong thương mại truyền thống.

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo


mà không cần qua khâu trung gian hỗ trợ của bất cứ công ty thương mại nào.
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia, từ các vùng xa xôi hẻo
lánh, đến các đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều
có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi
hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau.
Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại
của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện
trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu).
Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Thương mại điện tử càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa
sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Không chỉ các công
ty hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay cả một
công ty vừa mới khởi sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không
biên giới ngay ở đầu ngón tay của mình. Với thương mại điện tử, một doanh
nhân dù mới thành lập đã hoàn toàn có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức, Chi
Lê....., mà không phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều
năm.

8

Thông tin khoa học pháp lý – Bộ tư pháp, 8/2000

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

9

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông
tin về cửa hàng mình lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên
Web bằng cách mở cửa hàng ảo.
Tóm lại, trong thương mại điện tử bản chất của thông tin không thay đổi.
Thương mại điện tử chỉ biến đổi cách thức khởi tạo, trao đổi, bảo quản và xử lý
thông tin, hoàn toàn không thay đổi những chức năng cơ bản của thông tin đối
với các bên tham gia truyền thống của hợp đồng.
Việc mã hoá, số hoá nội dung của các thông tin, chứng từ và tài liệu giao
dịch làm cho thương mại điện tử cho dù hoạt động trong khuôn khổ quốc gia hay
quốc tế, có sự khác biệt so với thương mại truyền thống chủ yếu dựa trên chứng
từ bằng giấy tờ. Trong thương mại truyền thống (bằng giấy tờ) nếu có nhiều bên
tham gia thì phải tốn một khối lượng lớn giấy tờ giao dịch về hợp đồng. Trong
khi đó, nếu giao dịch được thực hiện thông qua thương mại điện tử, thì tiết kiệm
được rất nhiếu giấy tờ và thời gian. Tuy nhiên, các chứng từ được thể hiện bằng

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

10

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

giấy tờ, cho đến nay lại có ưu thế hơn trong vai trò chứng cứ khi xảy ra tranh
chấp”
Cả thương mại truyền thống lẫn thương mại điện tử đều có những mặt
thuận lợi và hạn chế, những khác biệt, nhưng so về hiệu quả kinh tế mang lại thì

Các doanh nghiệp bán các hàng hóa vật thể trực tiếp đến từng cá nhân
người tiêu dùng cuối cùng. Trên gốc độ thương mại điện tử, cần phân biệt qui mô
các doanh nghiệp bán lẻ: các doanh nghiệp lớn thường đi liền với những yêu cầu
phức tạp về hệ thống thông tin, trong khi các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ chỉ
dừng lại ở các yêu cầu cơ bản (và với ngân sách nhỏ) đối với Internet. Người tiêu
dùng có thể sử dụng máy tính của mình đặt hàng các công ty ở khắp nơi trên thế
giới, trong loại hình thương mại điện tử này, giữa hai đối tác thì một trong số đó
thực hiện giao dịch nhằm mục đích tiêu dùng.
Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B-to-B) :
GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

11

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

Các doanh nghiệp bán buôn thông qua các catalogue bán hàng trực
tuyến cho các doanh nghiệp khác. Khi nghiên cứu mô hình này, người ta thường
chú ý tới thương mại hàng hóa phục vụ duy trì, sửa chữa và vận hành (thí dụ, các
linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp các sản phẩm điện, điện tử). Bán buôn, bán
thành phẩm thường thực hiện qua các đơn đặt hàng sản xuất lớn. Tất nhiên, các
hệ thống và công nghệ thương mại trực tuyến (như hệ thống trao đổi dữ liệu điện
tử - EDI) cũng được sử dụng trong trao đổi bán buôn các mặt hàng này.
Thương mại thông tin ( Information Commerce ) :
Đây là một lĩnh vực rộng bao gồm các doanh nghiệp phân phối trực
tuyến các hàng hóa số (sản phẩm và dịch vụ thông tin ) qua mạng. Các nhà xuất

mại điện tử, song các văn bản pháp luật để áp dụng riêng cho nó thì chưa theo
kịp với thực tế phát triển đó, các chủ thể khi tham gia vào thương mại điện tử thì
chỉ có thể áp dụng những quy định của pháp luật dành cho thương mại truyền
thống trong hoàn cảnh của một môi trường kinh doanh có nhiều điểm khác biệt

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

12

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

so với thương mại truyền thống như cách thức tiến hành giao kết hợp đồng,
phương thức thanh toán, bảo mật thông tin…
Trong khi chờ đợi một văn bản
pháp luật chính thức về vấn đề thương mại điện tử, thì chúng ta hãy cùng tìm
hiểu xem hiện tại trên thế giới và Việt Nam đã có những quy chế pháp lý nào
dành cho loại hình kinh doanh này hay chưa, quy chế pháp lý dành cho các hợp
đồng giao kết qua mạng có gì khác biệt so với hợp đồng truyền thống, và liệu có
cần ban hành một quy chế pháp lý dành riêng cho nó hay không ?

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

13

SVTH: Phan Huy ền Trân


I. HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG VÀ
HỢP ĐỒNG “ĐIỆN TỬ”.
Thương mại điện tử không giới hạn, biên giới quốc gia là vô nghĩa,
thương mại điện tử giúp tiết kiệm chi phí…. Tất cả những điều đó nghe rất hấp
dẫn, nhưng thương mại điện tử cũng có những giới hạn (đã đề cập ở phần trên),
và có rất nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình ứng dụng thương mại điện tử,
cũng giống như rất nhiều hoạt động xã hội khác, thương mại điện tử cần một
khung pháp luật mới, để cho những ai tham gia vào thương mại điện tử biết mình
đang tiến hành những công việc được pháp luật bảo vệ….
Các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong thương mại truyền thống cũng
là vấn đề sẽ được tìm hiểu trong thương mại điện tử như vấn đề chủ thể hợp
đồng, hình thức, nội dung hợp đồng, thời gian và địa điểm giao kết, hiệu lực
pháp lý, giải quyết tranh chấp.

1. CHỦ THỂ :
Tại điều 47 Luật Thương mại: “chủ thể của quan hệ mua bán hàng hoá là
thương nhân hoặc một bên là thương nhân. Nhưng, ai là người đủ tư cách là

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

14

SVTH: Phan Huy ền Trân


Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

Luận văn tốt nghiệp – k26


người được người đứng đầu pháp nhân uỷ quyền.
Các thương nhân là pháp nhân chủ yếu bao gồm các loại sâu đây:
+ Các doanh nghiệp Nhà nước
+ Các hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã
+ Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
9

Điều 17 LTM 97
Điều 94 BLDS

10

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

15

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

-Thương nhân là tổ hợp tác, hộ gia đình: hộ gia đình là chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hoá không phải hiểu theo nghĩa thông thường của một hộ gia đình
có quan hệ huyết thống, mà là hộ gia đình có đặc điểm tham gia hoạt động kinh
tế chung.
-Có một chủ thể khác có thể tham gia vào các giao dịch dân sự hay thươmg

-Cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Nhân dân sử dụng tại sản của Nhà nước và
công qũy để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
-Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức
-Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân
-Cán bộ lãnh đạo quản lý nghiệp vụ trong các cơ quan Nhà nước, trừ những người được cử làm
đại diện để quản lý phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp khác
-Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám
đốc), chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá
sản không đựơc quyền thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời
hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, trừ các trường hợp quy định tại luật
phá sản
-Tổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

16

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

đăng ký kinh doanh tiến hành việc thông báo bán đấu giá một mặt hàng nào đó
trên mục đăng quảng cáo miễn phí của một trang web, và khả năng có một cá
nhân khác cũng không có đăng ký kinh doanh thực hiện giao dịch với cá nhân
đăng quảng cáo trên là có thể xảy ra, thế thì hợp đồng đó được điều chỉnh bởi

cách chủ thể của các hợp đồng truyền thống cho các hợp đồng điện tử.
Quy định về Năng lực hành vi dân sự của cá nhân, đây là cơ sở để xác
định một người liệu có khả năng tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung
hay các giao dịch thương mại nói riêng hay không. Vấn đề này, đặt ra đối với các
hợp đồng giao kết qua mạng là vô cùng khó xác định và nếu không nói là không
thể xác định được vì khi giao kết hợp đồng theo hình thức này thì các đối tác
không gặp nhau trực tiếp. Đây là điều rất gây trở ngại cho các bên khi giao kết.
Liệu rằng một người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, khi giao kết
hợp đồng qua mạng thì hợp đồng ấy có bị xem là đương nhiên vô hiệu hay
không? Làm sao để xác định được năng lực hành vi dân sự của một người ở cách

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

17

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

xa ta hàng ngàn cây số? Chỉ có thể tin vào sự “hợp tác” của đôi bên, và hy vọng
rằng mỗi bên đều xác định rõ rằng khi có một trong hai bên lừa dối khi tiến hành
giao kết, thì hậu quả là họ có thể bị thiệt hại nhiều hơn người bị lừa dối.
Thêm vào đó sẽ là cả một vấn đề khi xác định rằng một người nào đó có
đang ở trong tình trạng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang trong
thời gian bị Toà án tước quyền hành nghề hay không? Để giải quyết tất cả những
vấn đề trên, chắc chắn rằng trong 5 hay 10 năm tới cũng không thể làm được mà
phải mất nhiều năm sau đó nữa, bởi vì muốn kiểm tra những thông số liên quan

cụ thể khi xét xử Toà án/Trọng tài sẽ dựa vào tình huống cụ thể mà đưa ra phán
quyết cuối cùng.
Có một điều khoản mà luật Thương mại quy định cho thương mại truyền
thống hợp đồng mua bán với thươngnhân nước ngoài phải tiến hành đăng ký tại
cơ quan có thẩm quyền (là cơ sở để tính thuế xuất nhập khẩu), sẽ không còn hợp
lý trong môi trường thương mại điện tử, vì yếu tố thương nhân nước ngoài xảy ra
hàng giờ trong các giao dịch trên mạng (thương mại điện tử là không biên giới),
do đó cơ quan thuế sẽ phải có những biện pháp khác để tiến hành kiểm soát các

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

18

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

hợp đồng với thương nhân nước ngoài (bằng một phần mềm tổng quan chẳng
hạn, ở đây vấn đề lại thuộc một phạm trù khác hoàn toàn với khả năng chuyên
môn của người viết, nên các giải pháp đưa ra đối với vấn đề này có thể là không
thoả đáng).

2. HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG
Đối với các loại hợp đồng truyền thống, vấn đề hình thức hợp đồng, pháp
luật dân sự, kinh tế, thương mại Việt Nam đều qui định hình thức của hợp đồng,
theo đó hợp đồng có thể được thực hiện bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể tuỳ
theo tính chất của từng loại hợp đồng. Điều 400 Bộ luật dân sự qui định : “Hợp

vô hiệu.

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

19

SVTH: Phan Huy ền Trân


Luận văn tốt nghiệp – k26

Quy chế pháp lý dành cho các hợp đồng giao kết qua mạng

Nếu trong thương mại truyền thống, các hợp đồng được ký kết và được
thể hiện trên giấy tờ, thì đối với thương mại điện tử, chúng ta phải làm quen với
một loại văn bản mới là văn bản điện tử. Tại điều 11, Bộ luật mẫu về thương mại
điện tử, thừa nhận rằng thông điệp dữ liệu cũng là dạng thức của hợp đồng, và nó
có giá trị pháp lý ngang như hợp đồng được giao kết và tiến hành trên giấy tờ,
giá trị pháp lý của nó được thừa nhận một cách bắt buộc (Điều 12)13 . Theo Dự
thảo lần 6 Pháp lệnh Thương mại điện tử, hình thức của hợp đồng dưới dạng cơ
sở dữ liệu thì cơ sở dữ liệu đó phải chắc chắn là truy cập tới được để dùng vào
mục đích tham chiếu sau này.14
Đối với một phương tiện điện tử đặc thù như điện thoại, khi các bên thực
hiện giao dịch thông qua điện thoại, và sau đó tiến hành thực hiện hợp đồng trên
cơ sở đã thỏa thuận mà không hề có bất cứ bản ghi nhận nào về quá trình đã
thương lượng trước đó, sẽ không là vấn đề gì nếu các bên thực hiện đúng những
gì đã cam kết (bằng hành vi cụ thể, giao hàng và chuyển tiền). Nhưng sẽ là vấn
đề khi phát sinh tranh chấp, vì các bên thường hay cố gắng giảm thiểu thiệt hại
của mình đến mức ít nhất bằng cách hạn chế những phần lỗi của mình xuống
mức thấp nhất, và đổ lỗi cho phía đối tác, lúc này thật khó cho Tòa án hay Trọng

chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể được truy cập tới để sử dụng vào mục đích tham chiếu sau này
b.Khoản (a) áp dụng trong trường hợp đòi hỏi pháp lý là một nghĩa vụ hoặc trong trường hợp
pháp luật qui định về những hậu quả đối với thông tin không được thể hiện ở dạng văn bản.

GVHD: Ths.Đặng Thị Thu Thảo

20

SVTH: Phan Huy ền Trân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status