Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA HỌC: 2007 – 2011
ĐỀ TÀI:
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC MUA, SỬ DỤNG HÀNG HÓA, DỊCH
VỤ
Giảng viên hướng dẫn:
ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH LÀO
MSSV: 5075116
LUẬT THƯƠNG MẠI 2 – K33
Cần Thơ, Tháng 5 - 2011
222222011
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 1
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC MUA, SỬ DỤNG HÀNG HÓA, DỊCH VỤ................................. 4
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng......................................................................... 4
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng ............................................................................... 4
1.1.2 Hành vi tiêu dùng .............................................................................................. 6
1.1.3 Sự cần thiết phải ghi nhận quyền lợi người tiêu dùng .................................... 8
1.2 Các chủ thể có liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng ......................................... 9
1.2.1 Doanh nghiệp .................................................................................................... 9
1.2.2 Cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ độc lập, thường xuyên
không phải đăng ký kinh doanh ................................................................................... 12
1.2.3 Cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ..................................... 14
1.3 Sự điều chỉnh của pháp luật về quyền lợi người tiêu dùng .................................... 16
1.3.1 Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 ............................................................................................................................... 16
1.3.2 Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999
đến khi có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 .................................... 18
1.3.3 Giai đoạn sau khi có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đến
nay.................................................................................................................................. 20
CHƯƠNG 2. CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC MUA,
3.1.2 Người tiêu dùng tẩy chay hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp .................. 40
3.1.3 Quyền lợi người tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ Nhà nước .......... 42
3.2 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng............ 44
3.2.1 Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng chưa đồng bộ và không hiệu quả .......... 44
3.2.2 Doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ..... 46
3.2.3 Vị thế của người tiêu dùng thấp kém ............................................................. 49
3.2.4 Hoạt động Hội bảo vệ người tiêu dùng không hiệu quả .............................. 50
3.3 Một số đề xuất về quyền lợi người tiêu dùng.......................................................... 52
3.3.1 Hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả của pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng ............................................................................................................................... 52
3.3.2 Nâng cao vị thế của người tiêu dùng ............................................................. 55
3.3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ............................................................................................................................... 56
3.3.4 Nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp ...................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 60
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 5
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
LỜI NÓI ĐẦU
dịch vụ theo quy định pháp luật hiện hành, người tiêu dùng có tất cả các quyền gì,
cách thức thực hiện các quyền ra sao. Thông qua đó người viết liên hệ đến thực tiễn,
tìm ra những điểm còn bất cập, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến quyền của
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 6
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
người tiêu dùng, cũng như các hệ quả và đưa ra những giải pháp cụ thể để đảm bảo
các quyền của người tiêu dùng được thực hiện triệt để và toàn diện nhất. Từ đó
người viết rút ra những khẳng định khoa học, đề xuất một vài nội dung để đóng góp
vào nền khoa học luật.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu, đạt được tính tường
minh và logic, người viết xác định đối tượng nghiên cứu là các quyền của người
tiêu dùng. Quyền lợi người tiêu dùng là một phạm trù tương đối rộng, nội hàm liên
quan đến rất nhiều lĩnh vực trong xã hội. Dựa trên những kiến thức được đào tạo tại
nhà trường cùng với những hiểu biết xã hội, người viết chỉ tập trung tìm hiểu các
quyền của người tiêu dùng theo bản hướng dẫn của Liên hiệp quốc và pháp luật
Việt Nam hiện hành. Phân tích các quyền của người tiêu dùng theo luật Bảo vệ
người tiêu dùng năm 2010 là nội dung trọng tâm và cũng là điểm nhấn chung nhất
của đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong nội dung nghiên cứu của đề tài này, người viết nhất quán sử dụng
phương pháp luận theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin
làm kim chỉ nam. Bên cạnh đó để cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao, người viết
hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Mặc dù cố gắng phấn đấu để hoàn thành
luận văn nhưng phần nào hạn chế về kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực
tiễn nên trong đề tài này người viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
Thầy, Cô và các bạn đóng góp ý kiến để người viết lĩnh hội thêm kiến thức và bổ
sung cho luận văn thêm hoàn thiện.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 8
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
LĨNH VỰC MUA, SỬ DỤNG HÀNG HÓA, DỊCH VỤ
Quyền lợi người tiêu dùng luôn tồn tại song song, gắn liền với bản thân người
tiêu dùng. Trong chương này người viết sẽ làm rõ người tiêu dùng bao gồm những
đối tượng nào, người tiêu dùng là ai, những hành vi nào là hành vi tiêu dùng. Đồng
thời đề cập đến sự ghi nhận của pháp luật qua các giai đoạn về các quyền của người
tiêu dùng, đồng thời người viết khái quát đến một số chủ thể liên quan đến quyền
lợi người tiêu dùng hiện nay.
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về người tiêu dùng, tùy thuộc vào thể chế
chính trị, mức độ phát triển của kinh tế, nền văn hóa, các yếu tố xã hội mà mỗi nước
có cách nhìn khác nhau về người tiêu dùng.
Ở Ấn Độ, Luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi vào năm 1986 nhằm hệ
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Ở Pháp, Bộ luật bảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm 1993, đây là kết
quả của sự pháp điển hóa hơn 600 văn bản luật, nghị định của Pháp, các văn bản
pháp luật của liên minh Châu Âu và các điều ước quốc tế, được xem là một tiến bộ
trong công tác bảo vệ người tiêu dùng của các nước theo hệ thống civil law2. Bộ
luật này chỉ áp dụng đối với các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
giữa nhà chuyên môn và người tiêu dùng. Mặc dù luật không quy định cụ thể,
nhưng trong khoa học pháp lý người tiêu dùng được hiểu là các cá nhân trực tiếp
mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ và trực tiếp tiêu thụ hàng hóa đó.
Theo quan điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành, không phải tất cả các đối
tượng đều là người tiêu dùng và mọi hành vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đều là
hành vi tiêu dùng. Căn cứ vào Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 thì người tiêu dùng là người mua, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.3 Theo đó người tiêu dùng
có thể là người mua và sử dụng hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình,
người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử
dụng, cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc
do được cho, tặng.
Căn cứ vào khái niệm trên cho thấy, tất cả những người mua hàng hóa, dịch vụ
không vì mục đích tiêu dùng mà phục vụ cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, tiêu
thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận không
được xem là người tiêu dùng. Bên cạnh đó, khái niệm khách hàng cũng được sử
dụng khá phổ biến, gần với khái niệm người tiêu dùng nhưng có nội hàm rộng hơn.
Khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc
dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua, sử dụng hàng
hóa dịch vụ đó.
Như vậy, người tiêu dùng gồm các đối tượng cá nhân, gia đình và tổ chức
nhưng phải thỏa mãn điều kiện mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt, học tập, nghiên cứu, vui chơi, giải trí và các mục đích phi lợi nhuận
được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố
như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề
ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của người
tiêu dung.
Theo Philip Kotler, “Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá
nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch
vụ. Đó là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua
sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm, dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh
nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ”.4
Như vậy, qua hai định nghĩa trên có thể xác định được một số đặc điểm của
hành vi tiêu dùng gồm có: Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân
hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm, dịch
vụ. Tiến trình này bao gồm những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những hoạt động
bao gồm mua sắm, sử dụng, xử lý của con người trong quá trình mua sắm và tiêu
dùng. Hành vi tiêu dùng có tính năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi
những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi trường.
Nhìn chung hành vi tiêu dùng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa như
dân tộc, tôn giáo, địa lý, lối sống, phong cách tiêu dùng có ảnh hưởng sâu rộng nhất
đến hành vi của người tiêu dùng. Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất
những mong muốn và hành vi của một người. Mỗi người ở một nền văn hóa khác
nhau sẽ có những cảm nhận về giá trị của hàng hóa, về cách ăn mặc… khác nhau.
4
PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh (Trường ĐH Ngoại thương Hà Nội)
Tìm hiểu hành vi tiêu dùng của người Hà Nội trong tiến trình toàn cầu hóa
www.cpv.org.vn/admin/Upload/News/2010/10/tieudungHN.gif
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 11
lý của người tiêu dùng như động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin cũng tác động
đến hành vi tiêu dùng, động cơ là một nhu cầu bức thiết đến mức buộc con người
phải hành động để thỏa mãn nó. Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người
cũng có nhiều nhu cầu. Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học như đói, khát, khó
chịu. Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý như nhu cầu được thừa nhận, được
kính trọng hay được gần gũi về tinh thần. Nhận thức là khả năng tư duy của con
người. Động cơ thúc đẩy con người hành động, còn việc hành động như thế nào thì
phụ thuộc vào nhận thức. Sự hiểu biết giúp con người khái quát hóa và có sự phân
biệt khi tiếp xúc với những hàng hóa có kích thước tương tự nhau, khi người tiêu
dùng hiểu biết về hàng hóa họ sẽ tiêu dùng một cách có lợi nhất.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 12
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
1.1.3 Sự cần thiết phải ghi nhận quyền lợi người tiêu dùng
Sự xuất hiện tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng có từ xa xưa
trong lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, quy mô, tính chất, mức độ của nó phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán và văn hóa tiêu dùng của
người dân ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia khác nhau. Một quy luật tất yếu là khi sản
xuất, giao lưu hàng hóa càng phát triển và sôi động, số lượng người tiêu dùng và
nhu cầu tiêu dùng càng lớn thì việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng ngày càng
gia tăng và đòi hỏi của xã hội đối với sự điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này
cũng tăng cao.
Quyền lợi người tiêu dùng đã xuất hiện trong pháp luật nước ta từ rất sớm,
Trang 13
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
dùng và bên bán hàng hóa, dịch vụ trở nên bất bình đẳng, bên tiêu dùng yếu thế và
cần phải được bảo vệ quyền lợi của họ. Trong lúc này các quy định về đàm phán,
giao kết hợp đồng, nghĩa vụ bảo hành, trách nhiệm sản phẩm trong luật dân sự vốn
sinh ra để điều chỉnh quan hệ mang tính bình đẳng giữa các bên đã không còn đủ
sức để bảo vệ người tiêu dùng. Nhu cầu phải có một ngành luật mới để ghi nhận
quyền lợi người tiêu dùng, chống lại các hành vi xâm hại đến người tiêu dùng càng
trở nên cấp thiết.
Mặt khác, song song với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự khốc liệt của
cạnh tranh kinh tế, tình hình vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ngày càng gia tăng.
Cạnh tranh đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm,
nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: Làm hàng
nhái, hàng giả, quảng cáo gian dối gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên tiêu dùng.
Không những vậy, mặt trái của tiến bộ khoa học công nghệ dẫn đến sự ra đời của
nhiều hoá chất độc hại cho sức khoẻ và tính mạng con người, gây ô nhiễm môi
trường, chất lượng an toàn sản phẩm trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.6 Để cải
thiện tình hình này cần thiết phải có một chuyên ngành luật riêng với mục đích bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức rõ quyền lợi của mình, cá
nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng chưa quan tâm đến việc ứng xử
hợp lý với người tiêu dùng, hành vi xâm phạm đến quyền của người tiêu dùng diễn
ra thường xuyên nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiên khắc.7
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung nhất do Nhà nước ban hành và được bảo
đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Về góc độ pháp lý, "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh." Trong đó hoạt độnh
kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng
nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng.v.v.
Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì hình thức pháp lý của các loại
hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các
thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.8
Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của
doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.9
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở
hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp
danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có
các thành viên góp vốn.10
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi
cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.11
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư
nước ngoài năm 1996 chưa đăng ký lại hay chuyển đổi theo quy định.
8
pháp luật về đo lường. Trường hợp pháp luật quy định hàng hóa, dịch vụ phải công
bố, đăng ký tiêu chuẩn và chất lượng, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, chứng
nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ phải thực hiện việc công bố, chứng nhận hoặc đăng ký theo quy định của
pháp luật và chịu trách nhiệm đảm bảo hàng hóa, dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật đã công bố hoặc đăng ký. Tuân thủ các quy định của pháp luật
về chất lượng, vệ sinh, an toàn và pháp luật có liên quan khác trong trường hợp sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng phải công bố tiêu chuẩn
và chất lượng. Thường xuyên kiểm tra hàng hóa, dịch vụ để đảm bảo tiêu chuẩn, đo
lường, chất lượng trước khi cung ứng đến người tiêu dùng. Phải kịp thời tiến hành
các biện pháp khắc phục, xử lý và thông báo công khai trên các phương tiện thông
tin đại chúng đối với các hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường không đạt tiêu
chuẩn, đo lường và chất lượng. Ngoài các trách nhiệm trên doanh nghiệp phải thực
hiện đầy đủ các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo
lường và chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
Trách nhiệm bảo hành:14 Doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành
đối với hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp theo thỏa thuận hoặc theo các quy định
của pháp luật có liên quan. Công bố các điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo
hành trước khi lưu hành hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Giải thích cho người tiêu
12
Điều 6, Nghị định 55 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh BVQLNTD
Điều 7, Nghị định 55 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh BVQLNTD
14
Điều 8, Nghị định 55 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh BVQLNTD
13
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh
doanh và không gọi là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại.17 Cụ thể
bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:
Hoạt động buôn bán rong, buôn bán dạo: Là các hoạt động mua, bán không
có địa điểm cố định, bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các
thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật
để bán rong.
15
16
17
Điều 9, Nghị định 55 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh BVQLNTD
Điều 10, Nghị định 55 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh BVQLNTD
Điều 3, Nghị định về cá nhân hoạt động thương mại
một cách độc lập,thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 17
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Hoạt động buôn bán vặt: Là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có
hoặc không có địa điểm cố định. Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn,
Ngoài ra cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ độc lập, thường xuyên
không phải đăng ký kinh doanh không được phép thực hiện các hoạt động thương
mại bất hợp pháp hoặc theo cách thức gây rối trật tự ảnh hưởng xấu đến môi trường,
sức khoẻ, an toàn và phúc lợi chung của cộng đồng, sử dụng các phương tiện điện
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 18
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
tử để thực hiện các hoạt động thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại
xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc làm ảnh
hưởng đến quyền bảo mật thông tin cá nhân.
1.2.3 Cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Mọi cơ quan Nhà nước đều có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên,
nhiệm vụ và phương thức thực hiện của các cơ quan Nhà nước liên quan đến bảo vệ
người tiêu dùng rất khác nhau.
Trong số các cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ Công Thương có nhiệm vụ là cơ
quan chuyên trách bảo vệ người tiêu dùng, Cục quản lý Cạnh tranh được giao nhiệm
vụ giúp Bộ Trưởng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như
quản lý Nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng trong phạm vi cả nước. Điều đó là phù
hợp với quy định tại Luật Cạnh tranh, theo đó Cục Quản lý cạnh tranh cũng có
nhiệm vụ điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh
và hành vi cạnh tranh không lành mạnh; xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Giao nhiệm vụ trên cho Cục Quản lý cạnh tranh tỏ ra là phù hợp, bởi
mục tiêu của pháp luật cạnh tranh cũng là bảo vệ người tiêu dùng (thông qua đảm
bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp). Như vậy, điểm
địa phương. Theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tất cả các loại tổ chức
này đều có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên19 của Mặt trận trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân tham gia các hoạt động bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng và thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy
nhiên, Pháp lệnh này cũng chỉ dừng lại ở quy định chung đó, chỉ có nghị định
hướng dẫn thi hành mới có quy định về loại tổ chức chuyên trách với tên gọi tổ
chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trên thực tế, ở phạm vi trung ương từ năm
1991 đã có Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) thực
hiện chức năng này.
Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được xác định là tổ chức xã hội
được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế,
dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ, nghề nghiệp, đại diện để bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng theo quy định của pháp luật. Các tổ chức này phải hoạt động theo
nguyên tắc đại diện cho người tiêu dùng, không liên quan đến việc khuếch trương
cho bất kỳ tổ chức, các nhân nào khác, không quảng cáo cho bất kỳ mục đích
thương mại nào trong các hoạt động của mình, không được khai thác thông tin,
hướng dẫn người tiêu dùng nhằm mục đích kinh doanh, không chịu ảnh hưởng hoặc
chịu lệ thuộc bởi việc nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
trong mọi hoạt động.
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các hoạt động
hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu, đại diện người tiêu dùng
khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng, cung cấp cho cơ quan quản
lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp
luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Độc lập khảo sát, thử
nghiệm, công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do
mình thực hiện, thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình, kiến nghị cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
Dựa trên những tư tưởng đó bộ Quốc triều hình luật được ban hành, đánh dấu
sự pháp triển trong quá trình lập pháp của chế độ phong kiến Nhà Lê lúc bấy giờ.
Với trên 700 điều, Quốc triều hình luật đã có nhiều nội dung liên quan hoặc đề cập
đến việc quản lý Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, chống tệ nạn làm hàng giả, cân
đo đong đếm sai quy định để thu lợi bất chính làm thiệt hại cho người tiêu dùng
cũng như tài sản quốc gia. Trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người
mua, bán không theo đúng cân, thước, thăng, dấu của Nhà nước mà tự làm riêng của
mình để mua bán thì xử tội Biếm hoặc tội Đồ.20 Điều này cho thấy trách nhiệm của
người sản xuất dụng cụ và người quản lý phải thực sự công tâm và thực hiện đúng
chức năng của mình chống lại tệ nạn quan liêu, hối lộ. Bên cạnh đó người dùng các
dụng cụ như: Thăng, đấu, cân, thước riêng để thêm bớt của công thì tội thêm một
bậc. Việc dùng chúng mua bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm.21 Như vậy,
hành vi làm hàng giả, cân đo đong đếm sai quy định để được có lời đã được xác
định là hành vi ăn trộm thì phải được xem xét và xử đúng với tội danh ăn trộm, cho
thấy thái độ dứt khoát của Nhà nước lúc bấy giờ đối với việc chống gian thương
nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vào khoảng thời gian từ khi thực dân Pháp xâm lược năm 1858, đất nước bị
chia cắt, mỗi Kỳ áp dụng một bộ luật riêng, Nam Kỳ thì bộ luật dân sự Nam Kỳ
giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại Trung Kỳ là
20
21
Điều 91 Quốc triều hình luật
Điều 94 Quốc triều hình luật
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 21
phải bảo đảm tính hợp pháp của hàng hoá bán ra. Cấm thương nhân nâng giá, bán
hàng giả, lừa dối khách hàng, gây nhầm lẫn, bán hàng kém chất lượng, sai quy cách
lẫn với hàng đã đăng ký, quảng cáo dối trá, ép giá gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Ngoài ra, Luật Thương mại năm 1997 còn ghi nhận người tiêu dùng được thành lập
tổ chức để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.24
22
Điều 8 Hiến pháp 1992
Điều 632 Bộ luật dân sự 1995
24
Điều 9 Luật Doanh nghiệp 1997
23
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trang 22
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
1.3.2 Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 đến khi có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Từ trước khi Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành,
người tiêu dùng được coi như những người mua, sử dụng hàng hóa trong quan hệ
mua bán bình đẳng và được điều chỉnh bằng pháp luật dân sự. Năm 1999, Ủy ban
thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
(Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/04/1999, có hiệu lực kể từ ngày
Trang 23
SVTH: Nguyễn Thanh Lào
Quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
chức khác trong công tác phối hợp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm
của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa.
Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn được đề cập tại các
văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự sửa
đổi, bổ sung năm 2009, Luật Thương mại năm 2005, Luật Cạnh tranh năm 2004,
Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi
năm 2005, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm2007, Luật An toàn thực phẩm
năm 2010, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, v.v…25
Hệ thống pháp luật nói trên đã ghi nhận những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng và các quyền cơ bản của người tiêu dùng, trong đó có các
quyền như quyền được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, được
thông tin, được lựa chọn, được lắng nghe, được khiếu nại và bồi thường, quyền
được giáo dục về tiêu dùng và quyền được có môi trường sống lành mạnh, bền
vững. Hệ thống quy định cũng đã đề cập đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ, trong đó có trách nhiệm bảo đảm chất lượng, trách nhiệm
thông tin, quảng cáo trung thực, trách nhiệm bảo hành và hướng dẫn người tiêu
dùng, trách nhiệm giải quyết khiếu nại và bồi thường, bồi hoàn cho người tiêu dùng
v.v... Ngoài ra, hệ thống pháp luật cũng đã ghi nhận quyền thành lập tổ chức bảo vệ
người tiêu dùng của người tiêu dùng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà
nước trong công tác bảo vệ người tiêu dùng cũng đã được quy định khá đầy đủ.
Tuy nhiên trước sự phát triển ngày càng nhanh chóng và đa dạng của nền kinh
tế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ
Căn cứ trên tình hình thực tiễn, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 đã đưa ra các quy định chi tiết và đầy đủ về các hành vi bị cấm như: cấm tổ
chức, cá nhân kinh doanh thực hiện những hành vi như lừa dối, gây nhầm lẫn cho
người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc cung cấp không đầy đủ, sai
lệch, không chính xác hoặc che dấu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, về uy tín, khả
năng kinh doanh; cấm việc tiếp xúc, liên hệ trái ý muốn của người tiêu dùng từ 2 lần
trở lên; cấm các hành vi quấy rối người tiêu dùng, gây cản trở, ảnh hưởng xấu đến
công việc và đời sống… Việc quy định cụ thể về các hành vi bị cấm đối với tổ
chức, cá nhân kinh doanh trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ tạo cơ sở
pháp lý cho người tiêu dùng được bảo vệ tốt hơn, đồng thời ràng buộc chặt chẽ
trách nhiệm liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. So với các quy định của Pháp lệnh Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 có nhiều điểm mới.26
Về trách nhiệm ràng buộc đối với bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về
hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng: Bên thứ ba ở đây có thể hiểu là những đơn
vị truyền thông, quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh tới
người tiêu dùng. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định khá chi
tiết trách nhiệm của bên thứ ba về các vấn đề như: phải bảo đảm chính xác, đầy đủ
thông tin về hàng hóa, dịch vụ cung cấp; yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh cung
cấp chứng cứ chứng minh tính xác thực và đầy đủ của thông tin; chịu trách nhiệm
liên đới trong việc cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác; từ chối cho tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản
lý trong trường hợp hành vi sử dụng có khả năng quấy rối ngưòi tiêu dùng.
Về đăng ký hợp đồng theo mẫu: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 quy định khá đầy đủ việc đăng ký hợp đồng theo mẫu đối với những hàng hóa,
dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ theo từng thời kỳ. Quy định này không
chỉ giúp bảo vệ người tiêu dùng trong quá trình mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
thiết yếu phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn giúp cơ quan Nhà nước về bảo vệ
26