TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2007 – 2011
Đề tài:
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ NGỌC TUYỀN
PHẠM CÔNG CÓ
MSSV: 5075013
Lớp: Tư pháp I – K33
Cần Thơ, Tháng 4 năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy (Cô) trong khoa Luật, trường
Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý
báu trong suốt thời gian học tập tại trường. Đặc biệt, Em xin chân thành cảm
ơn Cô Nguyễn Thị Ngọc Tuyền đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tài liệu, kiến
thức trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
...................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ........................ 4
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ .......................................................... 4
1.1.1. Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ .......................................... 4
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao
thông đường bộ .................................................................................................... 6
1.1.2.1. Khái quát trách nhiệm bồi thường thiệt hại .......................... 6
1.1.2.2. Khái niệm chung về nguồn nguy hiểm cao độ ...................... 10
1.1.2.3. Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là nguồn
nguy hiểm cao độ ............................................................................................... 11
1.1.2.4. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn
giao thông đường bộ ......................................................................................... 12
1.2. NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ .......................................................................................................... 13
1.2.1. Bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời........................................ 14
2.2.3. Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng ........................ 36
2.2.4. Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại ....... 37
2.2.5. Giảm mức bồi thường thiệt hại ...................................................... 38
2.3. THỂ THỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ .......................................................................................................... 38
2.3.1. Cách thức xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm............. 39
2.3.1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc
người bị thiệt hại trước khi chết ....................................................................... 39
2.3.1.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng............................................. 41
2.3.1.3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có
nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết .................................................................. 41
2.3.1.4. Bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần ...... 42
2.3.2. Cách thức xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ............... 43
2.3.2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức
khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại ......................... 44
2.3.2.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị
thiệt hại .............................................................................................................. 44
2.3.2.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người
chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị......................................... 45
2.3.2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt
hại ......................................................................................................... 47
2.2.3. Cách thức xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm ................... 47
2.3.3.1. Thiệt hại về phương tiện ......................................................... 47
2.3.3.2. Thiệt hại tài sản ........................................................................ 48
2.3.3.3 Thiệt hại đối với các công trình giao thông .............................. 49
2.3.3.4. Thiệt hại là lợi ích gắn liền với việc khai thác sử dụng tài
sản ....................................................................................................................... 49
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ............................................................................. 70
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 76
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
giao thông vận tải chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Hệ thống giao thông vận tải
đường bộ ở nước ta từng bước được đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới,
phương tiện vận tải tăng về số lượng, đa dạng về chủng loại, từng bước đáp ứng
được yêu cầu phát triển của nền kinh tế, an ninh quốc phòng, nhu cầu đi lại của nhân
dân. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay do sự mất cân đối giữa cầu, đường,
phương tiện, người tham gia giao thông, tình trạng tai nạn giao thông đã và đang
diễn biến ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe, về của
cải vật chất, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của nước ngoài, tâm lý lo lắng của
người dân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội và đang là mối quan tâm của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của mọi tầng lớp nhân dân.
Để làm giảm một cách cơ bản tai nạn giao thông đường, đòi hỏi phải có một
giải pháp đồng bộ. Một mặt, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật nâng
cao tự giác chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đầu tư
nâng cấp cơ sở vật chất, các điều kiện bảo đảm an toàn, năng lực quản lý an toàn
giao thông. Mặt khác, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm ngăn chặn tình trạng
vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời hoàn thiện các quy định của
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ gây
ra để khắc phục toàn bộ, kịp thời những thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của
công dân và tài sản của Nhà nước, góp phần phòng ngừa tai nạn.
Thực tiễn công tác giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ là một
vấn đề phức tạp không những về mặt lý luận mà cả thực tiễn. Vì vậy, đề tài chỉ giới
hạn ở phạm vi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản trong lĩnh vực dân sự và chủ yếu là
các các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ luận này về vấn đề bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông cơ giới đường
bộ gây ra. Trên cơ sở đó đưa ra một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ trong lĩnh vực dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp chứng
minh, phương pháp liệt kê… kết hợp với phương pháp sưu tầm và tổng hợp những
bài nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, các tập chí luật học, các bài báo để tìm ra
những điểm mới và những bất cập của luật để từ đó có một bài nghiên cứu tương đối
hoàn chỉnh.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn
giao thông đường bộ.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
2
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
may mắn bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của.1 Còn theo từ điển Tiếng
Việt, thì tai nạn là việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho con người.2
Các định nghĩa trên chỉ mới đưa ra tai nạn là cái xảy ra cho con người về người và
của mà chưa đưa ra được cái nguyên nhân gây ra tai nạn là gì. Thực tiễn cho thấy có
nhiều nguyên nhân gây hại cho con người có thể đó là do hành vi của con người hay
do thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn hay do một nguyên nhân nào khác. Thiệt hại xảy ra có
thể là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và thiệt hại về tinh thần
của con người.
Trong lĩnh vực pháp luật chưa có một định nghĩa chính thức về tai nạn nói
chung. Tuy nhiên, có một số quy phạm pháp luật của một số ngành luật và trong lĩnh
vực nghiên cứu khoa học pháp lý, đã có một số khái niệm về tai nạn. trong lĩnh vực
lao Động có quy định tai nạn tại Điều 105 Bộ luật lao động: “Tai nạn lao động là tai
nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động
hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắng liền với việc thực hiện công
việc và nhiệm vụ lao động.
Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm tai nạn và khái niệm tai nạn giao
thông đường bộ được một số tác giả đề cập đến. Theo Vũ Mạnh Thắng “ tai nạn là
1
2
Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội năm 1998
Từ điển Tiếng Việt , trung tâm ngôn ngữ, Hà Nội năm 1992
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
SVTH: Phạm Công Có
Ví dụ 2: C biết D vừa mới mua chiếc xe máy rất đẹp. Do ghét C có tính hay
khoe khoang nên có ý định làm hỏng chiếc xe máy của D. Biết D thường đi làm về
hay dựng xe máy bên vệ đường giao thông, C lấy xe ô tô của mình phóng nhanh
đâm vào xe máy của C với mục đích hủy hoại xe của C. Hậu quả xe của C hư hỏng
nặng. Đây không phải là vụ tai nạn giao thông mà một vụ cố ý hủy hoại tài sản của
người khác.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
5
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
Từ phân tích trên, có thể khái niệm tai nạn giao thông đường bộ là một sự
kiện do hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường
bộ, do đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham
gia giao thông của con người gây thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần
của con người hoặc thiệt hại về tài sản.
Vấn đề đặt ra là có phải tất cả các vụ tai nạn giao thông đều có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không? Theo quy định tại Điều 623 BLDS
2005, thì phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ và chủ
sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ
không phải bồi thường thiệt hại, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người
bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy trong những trường hợp này
cho dù có tai nạn giao thông đường bộ xảy ra thì không có phát sinh trách nhiệm bồi
thường.
cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể,
sức khỏe, tự do tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một
hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
nói chung và chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy
nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng
lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…Tiếp cận dưới góc độ khoa học
pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc
chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây
tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây
ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được
hiểu là bồi thường thiệt hại.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại
cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.3
Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
• Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm
dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất
cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một
quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều
307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
• Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả
mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ
dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không
phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách
nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên,
trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại
hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…
• Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể do luật định hoặc các bên tự thỏa
thuận áp dụng. Xuất phát từ nguyên tắc của quan hệ dân sự là “tự do, tự nguyện cam
kết thỏa thuận” trong khuôn khổ pháp luật. Các bên không những có thể thỏa thuận
để xác lập quyền và nghĩa vụ mà còn có thể tự do thỏa thuận về hình thức bồi
thường, mức bồi thường, phương thức bồ thường nếu thỏa thuận đó không trái với
quy định của pháp luật.
Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
• Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân
thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự
mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây thiệt hại cho
người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài
hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi
thường thiệt hại do mình gây ra.
• Căn cứ vào lợi ích bị xâm phạm và những thiệt hại xảy ra mà trách nhiệm
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
thường thiệt hại phát sinh khi tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại như hoạt động
của nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, cây cối đổ gẫy gây ra thiệt hại, nhà công
trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại, gia súc gây thiệt hại…
Việc phân loại hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đối với trường hợp bồi thường
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
9
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
thiệt hại do hành vi gây ra thì một điều kiện không thể thiếu là hành vi gây thiệt hại
phải là hành vi trái pháp luật. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra vì
không có hành vi nên điều kiện này không thể được xem xét đến.
Ngoài ra, việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường: Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây ra
thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối với bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc trách nhiệm lại thuộc về chủ sở
hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất
cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó.
• Căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của cả người gây thiệt hại và người bị
thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được phân thành trách nhiệm hỗn
hợp và trách nhiệm độc lập.
Trách nhiệm hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả
người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi.
Trách nhiệm độc lập là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt
thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất
độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn cao độ huy hiểm khác do quy định pháp
luật” (theo Điều 623 khoản 1 đoạn 1 BLDS). Theo quy định trên có thể khái quát
nguồn nguy hiểm cao độ chính là những đối tượng mà khi sử dụng, bảo quản, cất
giữ, trông coi tiềm ẩn sự nguy hiểm, sự rủi ro cao đối với tính mạng, sức khỏe, tài
sản của con người. Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ đang tồn tại những
tính chất, đặc điểm lý, hóa, yêu cầu kỹ thuật và các điều kiện an toàn khi sử dụng
các đối tượng đó. Có những đối tượng rất dễ nhận ra tính nguy hiểm của nó, chẳng
hạn như chất nổ, chất dễ cháy, thú dữ… Tuy nhiên có nhiều đối tượng rất khó nhận
ra cần phải có các tiêu chí xác định một đối tượng có phải là nguồn nguy hiểm cao
độ hay không, qua sự liệt kê các loại tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ,
trên cơ sở xem xét, đánh giá về các loại tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ
trong các văn bản hướng dẫn có thể đưa ra định nghĩa như sau:
Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định
luôn tìm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát
được một cách tuyệt đối 5
1.1.2.3. Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm
cao độ
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào chính thức đưa ra khái niệm
“Phương tiện giao thông vận tải cơ giới”. Khoản 18, Điều 3 Luật Giao Thông đường
bộ 2008 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009) quy định: “Phương tiện giao
thông vận tải cơ giới đường bộ (gọi là xe cơ giới) gồm: xe ô tô; máy kéo; rơ moóc
hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba
bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”. Tuy nhiên, phương
tiện giao thông vận tải cơ giới không chỉ giới hạn ở đường bộ còn có thể phương
tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt, phương tiện giao thông vận tải cơ giới
đường thủy và phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường hàng không.
Tuy nhiên, có phải tất cả các phương tiện giao thông vận tải cơ giới đều được coi là
nguồn nguy hiểm cao độ không? Pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản nào
tăng 1.915 vụ, giảm 31 người chết, tăng 2.652 người bi thương, cứ trung bình mỗi
ngày có hơn 31 người chết và khoản 30 người bị thương, thiệt hại về tài sản trị giá
hàng chục tỷ đồng.6
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là một loại tài sản có số lượng
lớn, đa dạng về chủng loại, có giá trị và mang tính xã hội cao, là đối tượng thường
được chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thế chấp, bảo đảm thực hiện các nghĩa
vụ dân sự mà trong đó cả việc thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
Pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều quy định phương tiện giao thông
vận tải cơ giới nói chung và phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ nói
riêng là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo quy định tại điều 623 BLDS ở nước ta quy
định phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ, cho nên
phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, bởi nó
là một trong những phương tiện giao thông vận tải cơ giới nói chung.
1.1.2.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao
thông đường bộ
Như đã phân tích ở trên, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là
nguồn nguy hiểm cao độ. Khi vận hành chúng và đưa chúng vào vận hành có thể
gây nguy hiểm cao độ cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân hoặc pháp nhân.
Phần lớn các vụ tai nạn giao thông đường bộ là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
dưới tác động của hành vi của con người với lỗi vô ý hoặc cố ý.
6
Theo thống kê của ủy ban an toàn giao thông năm 2010, ngày 29/12/2010
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Phạm Công Có
thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại có quyền
yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi
thường.”
Các nguyên tắc nêu trên thể hiện sự công bằng, hợp lý của pháp luật dân sự
Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc pháp
nhân khi quyền lợi của họ bị xâm phạm. Đồng thời thể hiện sự công bằng từ phía
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
13
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
người gây thiệt hại đó là họ chỉ chịu mức bồi thường tương ứng với mức độ lỗi,
trong trường hợp do lỗi vô ý mà mức bồi thường quá lớn so với khả năng kinh tế
trước mắt và lâu dài thì có thể được giảm mức bồi thường.
1.2.1. Bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời
Theo quy đinh tại khoản 1 Điều 605 BLDS “Thiệt hại phải được bồi thường
toàn bộ và kịp thời”.Vấn đề đặt ra là Bồi thường là gì?, Thế nào là toàn bộ và kịp
thời?
Theo Từ điển Tiếng Việt “bồi thường” là việc đền bù những thiệt hại mà mình
phải chịu trách nhiệm; “toàn bộ” là tất cả các phần, bộ phận của một chỉnh thể.
Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 có quy định “Thiệt hại
phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài
sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều
luật tương ứng của BLDS quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm
Đây là trường hợp người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ không đặt trường hợp
miễn giảm mức bồi thường thiệt hại giống như lỗi vô ý. Do đó, dù người gây thiệt
hại với lỗi cố ý, khi mức độ thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt hoặc
lâu dài của người đó thì cũng không được giảm mức bồi thường, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác.
• Khi người gây thiệt hại với lỗi vô ý. Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một
người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải
biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn
được.(Điều 308 khoản 2 đoạn 2 BLDS, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày
08/7/2006). Khi người có hành vi gây thiệt hại cho người khác với lỗi vô ý mà mức
bồi thường không lớn hơn khả năng kinh tế trước mắt hoặc lâu dài của người đó thì
phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị thiệt hại.
Với bồi thường toàn bộ là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi
thiệt hại xảy ra, nên bồi thường thiệt hại phải kịp thời, nhất là trong các trường hợp
xâm phạm tính mạng, sức khỏe. BLDS thừa nhận nguyên tắc bồi thường phải kịp
thời nhưng không nêu rõ nội dung bồi thường kịp thời là như thế nào. Theo một tác
giả: “Bồi thường kịp thời là không chậm trễ, có thể người gây thiệt hại phải bồi
thường ngay không cần chờ quyết định của tòa án”7. Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/7/2006 có quy định “Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án
phải giải quyết nhanh chống yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời gian luật
định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn
cấp tạm thời theo quy định của luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của
đương sự”.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời là nguyên tắc chủ đạo, đáp
ứng đúng mục đích và đảm bảo sự công bằng của việc bồi thường thiệt hại. Có như
vậy mới bảo vệ được quyền và lợi ích của người bị hại và làm cho cuộc sống của họ
nhanh chống được khôi phục lại hiện trạng ban đầu.
1.2.2. Căn cứ vào hình thức lỗi và mức độ lỗi
Theo quy định tại Điều 4 BLDS quy định “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận
trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật đảm bảo, nếu cam kết,
thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào áp đặt, cấm
đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cẳn bên nào”. Quy tắc này cũng được quy đinh trong
pháp luật tố tụng dân sự. vì vậy, trong trách nhiệm BTHH: “Các bên có thể thỏa
thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực
hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ pháp luật
có quy định khác” (Điều 605 BLDS, khoản 1)
Nguyên tắc này hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện và sự thỏa thuận của các
bên. Đây là một trong những quyền cơ bản của các đương sự trong quan hệ dân sự.
Hiện nay, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 cũng có quy định “Cần
phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, phương thức bồi thường,
nếu thỏa thuận đó không trái với pháp luật, đạo đức xã hội ”.
Tuy nhiên, nếu văn bản pháp luật cụ thể quy định không được thỏa thuận mà
phải tuân theo nguyên tắc bồi thường cụ thể, thì các bên phải tuân theo nguyên tắc
đó mà không được thỏa thuận khác đi.
1.2.4. Mức bồi thường phù hợp với thực tế
Đây là một nguyên tắc được quy định tại khoản 3 Điều 605 BLDS “Khi mức
bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
16
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
đó tòa án giải quyết mức bồi thường tương xứng kinh tế của người đó lúc đó nhưng
sau này khả năng kinh tế của người gây thiệt hại tăng lên thì người bị thiệt hại có
quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường.
Yêu cầu giảm mức bồi thường: khi ấn định mức bồi thường thiệt hại phù hợp
với khả năng kinh tế của người đó nhưng sau đó khả năng kinh tế của người gây
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
SVTH: Phạm Công Có
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp
thiệt hại gặp khó khăn không còn phù hợp với thực tế thì có quyền yêu cầu tòa án
giảm mức bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này người bị thiệt hại cũng có
quyền yêu cầu tòa án giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại. Nếu người gây
thiệt hại đã được giảm mức bồi thường nhưng họ vẩn không có khả năng thực hiện
việc bồi thường thì vẫn có thể yêu cầu giảm mức bồi thường, nhưng chỉ ở một mức
độ nào đó bảo đảm lợi ích cho người bị thiệt hại.
1.2.5. Nguyên tắc xem xét khả năng kinh tế của người gây thiệt hại
Ngoài yếu tố lỗi, quy định nguyên tắc giảm mức bồi thường thiệt hại căn cứ
vào khả năng kinh tế của người gây thiệt hại phù hợp với kinh tế xã hội. Khả năng
kinh tế là một khái niệm rất trừu trượng. Khả năng kinh tế của người gây thiệt hại là
yếu tố quan trọng để quyết định việc giảm hay không giảm mức bồi thường thiệt
hại. Xác định khả năng kinh tế là vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải có một tiêu chí để
đánh giá. Xác định chính xác khả năng kinh tế của người gây thiệt hại sẽ bảo vệ có
hiệu quả quyền lợi của các đương sự bảo đảm tính công bằng cho xã hội, tránh sự
gian lận hoặc lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm, đảm bảo khả năng thực thi pháp