VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ THANH HƯƠNG
KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI-2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ THANH HƯƠNG
KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngành: Tâm lý học
Mã số: 9.31.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. PHẠM TẤT DONG
HÀ NỘI-2018
tôi hoàn thành luận án.
Gia đình, người thân, bạn bè luôn bên cạnh, động viên, khích lệ, ủng hộ,
chia sẻ những khó khăn, giúp tôi hoàn thành luận án.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảo trợ xã hội
BTXH
Công tác xã hội
CTXH
Điểm trung bình
ĐTB
Độ lệch chuẩn
ĐLC
Giao tiếp
GT
Kỹ năng
KN
1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG
GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC
XÃ HỘI
8
1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
8
1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
16
Tiểu kết chương 1
21
Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ
KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
22
2.1. Kỹ năng giao tiếp
22
76
3.3. Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá
85
Tiểu kết chương 3
89
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI
TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
90
4.1. Thực trạng chung kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên
công tác xã hội
90
4.2. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của nhân viên công
tác xã hội với trẻ khuyết tật (n=353)
130
4.3. Thực nghiệm tác động nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật vận động
Bảng 3.2. Độ tin cậy của thang đo kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác
xã hội với trẻ khuyết tật.
73
Bảng 3.4. Đặc điểm khách thể nghiên cứu nhân viên công tác xã hội
75
Bảng 3.4: Mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công
tác xã hội
87
Bảng 4.1. Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã
hội với trẻ khuyết tật
92
Bảng 4.2. Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã
hội với trẻ khuyết tật theo biến số
93
Bảng 4.3. Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết
tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh
hoạt
97
thục, linh hoạt
111
Bảng 4.10. Thực trạng mức độ kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ
khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở các biến quan sát
114
Bảng 4.11. Thực trạng mức độ thực hiện đặc điểm kỹ năng xây dựng niềm
tin giữa nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật.
116
Bảng 4.12. Thực trạng mức độ kỹ năng xây dựng niềm tin giữa nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh
hoạt
119
Bảng 4.13. Thực trạng mức độ kỹ năng xây dụng niềm tin của nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở các biến quan sát
121
Bảng 4.14. Thực trạng mức độ kỹ năng tư vấn thuyết phục của nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở tính đúng đắn, thuần thục và linh hoạt
124
88
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ xác xuất chuẩn về biểu hiện kỹ năng giao tiếp của
nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật.
88
Biểu đồ 4.1. Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của
nhân viên công tác xã hội
91
Biểu đồ 4.2. Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ
khuyết tật của nhân viên công tác xã hội
93
Biểu đồ 4.3.Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết
tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh
hoạt
94
Biểu đồ 4.4. Thực trạng mức độ kỹ năng tạo cảm xúc tích cực với trẻ
khuyết tật của nhân viên công tác xã hội
101
Biểu đồ 4.5. Thực trạng mức độ kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Kỹ năng giao tiếp giúp cá nhân có khả năng thích ứng với những ảnh hưởng
xấu của các khủng hoảng trong cuộc sống, còn những cá nhân hạn chế về kỹ năng
giao tiếp phải trải qua tình trạng tồi tệ, căng thẳng khi gặp khủng hoảng (Segrin,
2000) [62, tr.2] do đó kỹ năng giao tiếp là nền tảng xây dựng và phát triển các mối
quan hệ cá nhân, là điều kiện tồn tại và phát triển của một tổ chức, một xã hội.
Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp cụ thể ở một nghề, một lĩnh vực góp phần hình thành,
phát triển giá trị nghề và kỹ năng giao tiếp đặc thù với đối tượng của nghề.
Nghề công tác xã hội (CTXH) hiện đã được phát triển ở 84 nước trên toàn
thế giới, được coi là một nghề có ý nghĩa quan trọng, mang tính nhân văn cao cả,
luôn hướng tới mục tiêu phục vụ con người. Đặc biệt, nghề CTXH góp phần giải
quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và
cộng đồng những người yếu thế. Một trong những đối tượng yếu thế được xã hội
quan tâm hiện nay là Trẻ khuyết tật (TKT). Người khuyết tật là người bi khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện
dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Điều 2, Bộ luật
Người khuyết tật. Có nhiều dạng khuyết tật khác nhau, mỗi dạng khuyết tật có hoạt
động và giao tiếp khác nhau, việc thực hiện quan hệ xã hội cũng mang đặc điểm
riêng, bản thân trẻ và các đối tượng giao tiếp với trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp làm cho
quá trình tiếp nhận các biểu tượng từ hiện thực khách quan không đầy đủ, ảnh
hưởng đến nhận thức, cảm xúc của trẻ khuyết tật.
Vai trò của nhân viên CTXH có ý nghĩa rất lớn đối với trẻ khuyết tật. nhân
viên CTXH làm cầu nối cho TKT tiếp cận với các nguồn lực xã hội, tư vấn cho họ
phát huy khả năng, trình độ để TKT trở nên hữu dụng, tự tin, sống độc lập, hòa
nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội. Mặt khác, nhân
viên CTXH cũng sẽ tham vấn cho TKT về điều kiện tiếp cận nguồn lực để họ được
chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, kiếm việc làm, trợ
giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắt được các quyền của họ theo quy định của
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật và
những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội,
2
nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy “Kỹ năng giao tiếp với
trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội” đã được tác giả chọn làm đề tài luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng kĩ năng giao tiếp với
trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
này. Đề xuất biện pháp tâm lý – sư phạm và tổ chức thực nghiệm nhằm nâng cao kĩ
năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật trong và ngoài nước để xác định cơ sở lý luận của
luận án.
2.2.2. Xác định cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã
hội với trẻ khuyết tật, xác định những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến kỹ năng giao
tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội.
2.2.3. Làm rõ thực trạng về biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ
khuyết tật của nhân viên công tác xã hội, mức độ tác động của các yếu tố chủ quan
và khách quan tới kĩ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội.
2.2.4. Đề xuất biện pháp tâm lý - sư phạm và tổ chức thực nghiệm nâng cao
một số kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên
công tác xã hội.
& Lawrence (1979) thấy rằng các nền văn hóa khác nhau tạo ra các hệ thống giá trị
khác biệt về nhận thức và ý nghĩa, cách giao tiếp của con người bị ảnh hưởng bởi
các giá trị được phản ánh trong môi trường văn hóa họ giao tiếp. Chính vì vậy, khi
nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật thì phải tìm
hiểu những giá trị văn hóa trong chính môi trường mà nhân viên CTXH giao tiếp
với trẻ khuyết tật, từ đó nhân viên CTXH cần nhận thấy sự khác nhau khi giao tiếp
với trẻ khuyết tật, khi giao tiếp với các dạng trẻ khuyết tật cũng như khi giao tiếp
4
với người bình thường.
4.1.2. Phương pháp tiếp cận hoạt động: Hoạt động – giao tiếp có vai trò
quyết định trực tiếp đến sự hình thành nhân cách. Động cơ, mục đích của hoạt động
giao tiếp đều gắn với thang giá trị, định hướng giá trị của xã hội, cộng đồng, gia
đình, của từng cá nhân... như vậy nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của nhân viên công
tác xã hội cần thông qua những hoạt động để thấy được hành động giao tiếp và
phương thức giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật.
4.1.3. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Kỹ năng giao tiếp của nhân viên
công tác xã hội với trẻ khuyết tật được xem xét như là kết quả của sự tác động từ
nhiều yếu tố khác nhau: yếu tố chủ quan và khách quan. Do vậy cần nghiên cứu Kỹ
năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật trong mối quan hệ
tương hỗ của các yếu tố.
4.1.4. Phương pháp tiếp cận quyền con người: Quyền con người là quyền
được học hành, lao động, sinh sống, trẻ khuyết tật có quyền được sống bình đẳng
trong xã hội, được phát triển bình thường, được bảo vệ và có quyền được tham gia
bày tỏ quan điểm. Nghiên cứu kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với
trẻ khuyết tật nhằm thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy tiến trình thay đổi ở trẻ khuyết tật,
giúp trẻ thực hiện quyền con người.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và làm phong phú lý
thuyết về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên CTXH trong lĩnh vực
Tâm lý học và Công tác xã hội.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thực trạng mức độ và các
yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án trước hết là làm tài liệu tham khảo
để giảng dạy và học tập chuyên đề kỹ năng công tác xã hội dành sinh viên ngành tâm
lý học của Khoa Giáo dục, trường Đại học Sài Gòn và làm tài liệu tham khảo cho nhân
viên công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật.
6
7. Cấu trúc của luận án.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị; danh mục các công trình đã công
bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp với trẻ
khuyết tật của nhân viên công tác xã hội.
Chương 2. Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân
viên công tác xã hội.
Chương 3. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết
tật của nhân viên công tác xã hội.
7
Chương 1
Tóm lại các tác giả nhấn mạnh KNGT rất quan trọng trong quá trình tương
tác, tạo ấn tượng ban đầu và xây dựng mối quan hệ mang lại hiệu quả công việc.
1.1.1.2. Những nghiên cứu tập trung làm rõ về kỹ năng thành phần của kỹ
năng giao tiếp
VP.Zakharov cho rằng để có năng lực GT cần có các kĩ năng sau: kỹ năng
thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp; kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể
và đối tượng giao tiếp; kĩ năng nghe và biết lắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc
hành vi; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu,
ngắn gọn, mạch lạc; kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong GT; kỹ năng thuyết phục
trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp [dẫn theo 30, tr83]. Theo tác
giả muốn có KNGT phải thực hiện đầy đủ các kỹ năng này, mỗi kỹ năng tác giả đưa
ra 3 biểu hiện thành phần và có xây dựng thang đo trắc nghiệm cho từng kỹ năng.
Nghiên cứu của V.P.Zakharov là một cơ sở xây dựng thang đo cho luận án.
Nghiên cứu của McCarthy (1978), đã chỉ ra truyền thông là để người nói và
người nghe hiểu nhau, để truyền đạt mệnh lệnh đúng tiêu chuẩn, để chia sẻ kiến
thức; để người nghe chấp nhận và thống nhất về văn bản được tiếp nhận, phải nói
trung thực, chân thành, để người nghe có thể tin tưởng, (McCarthy (1978), tr.272357) tác giả nhấn mạnh các yêu cầu về tính dễ hiểu, sự thật, sự đúng đắn, chân
thành phải được nghiên cứu [Dẫn theo 81, tr.36].
Jack N. Wismer (1998), truyền thông hiệu quả có 3 thành phần:(1) Cảm xúc
bản thân, (2) Truyền cảm xúc, (3) Thể hiện hành vi [85, Tr 30-36] nghiên cứu của
tác giả chỉ ra rằng truyền thông hiệu quả phụ thuộc vào cảm xúc của người sở hữu
thông tin, họ có trách nhiệm truyền thông tin đến người nhận một cách trung thực,
cởi mở tập trung vào vấn đề cần giải quyết không tập trung vào thể hiện hành vi của
người gửi vì người gửi thường bắt đầu bằng chữ “tôi” có thể người gửi đã đặt một
phần cảm xúc chủ quan của mình vào thông điệp.
Teri K.Gamble và M. Gamble (2002), đã đề ra kĩ năng giao tiếp cơ bản để
thiết lập mối quan hệ liên nhân cách, bao gồm các KN lắng nghe; KN phản hồi; KN
sử dụng các phương tiện giao tiếp; KN làm chủ cảm xúc; KN trình bày [58]. Tác giả
1.1.1.3. Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong lĩnh vực nghề nghiệp
Lull Funk và Piersol (1955), hiệu quả làm việc của quản lí phụ thuộc và khả
năng giao tiếp bằng miệng, không chỉ là cách triển khai chính sách của công ty mà
10
còn cả cách định hướng cho nhân viên làm việc, cách chia sẻ, động viên, cách trách
mắng và áp dụng kỷ luật [75,tr 17-20]. Như vậy đòi hỏi nhà quản lý phải có nhiều
kỹ năng, làm tốt cả những công việc họ được phân công và cả những công việc mà
nhân viên họ quản lý được phân công. Họ nhạy cảm, trách nhiệm với công việc, là
người lắng nghe thấu cảm, chia sẻ chính xác, đầy đủ thông tin đến nhân viên [103].
Nghiên cứu dẫn đến kết luận rằng có mối tương quan giữa truyền thông hiệu quả và
các yếu tố sau: năng suất lao động, sự hài lòng cá nhân, các mối quan hệ bổ ích,
cách giải quyết vấn đề.
Kitty O. Locker (1997), nghiên cứu GT trong lĩnh vực hành chính và kinh
doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như GT trực tiếp mặt đối mặt, điện thoại, email,
... [66] tác giả cho rằng, hiệu quả GT phụ thuộc rất nhiều vào mô hình, mạng lưới
GT của mỗi tổ chức vì từ mạng lưới đó sẽ quyết định tính chất của kênh truyền tải
thông tin. Tác giả nhấn mạnh đến các KNGT là KN lắng nghe, KN viết, KN trình
bày có liên quan chặt chẽ đến kết quả hoạt động của lĩnh vực này. Tác giả cũng chỉ
ra có 9 yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ trong tổ chức như: luôn mỉm cười, thái
độ tích cực, lạc quan, biết quan tâm đến người khác, gọi người đang giao tiếp bằng
tên riêng, luôn sẵn lòng giúp đỡ, suy nghĩ trước khi hành động, biết lắng nghe...
Trong lĩnh vực kinh doanh thì Jay (2005) đã viết rằng “Giao tiếp hiệu quả
nhất chính là biết khi nào phải ngừng nói chuyện và bắt đầu nghe, đặc biệt quan
trọng hơn khi những cảm xúc trong đội thống nhất và khi nhân viên đang chia sẻ
những ý tưởng” [63,tr 87–90]. Shulman (2005) viết: “Kỹ năng sử dụng từ và trình
bày văn bản là những công cụ mạnh mẽ có thể tác động đến chiến lược về kinh
doanh”[102].
rằng, bệnh của họ sẽ tiến triển theo chiều hướng tốt hơn, đã đem lại hiệu quả chữa
bệnh cao hơn”
Pamela Trevithick et al (2004), trình bày trong nghiên cứu quan điểm của 2
tác giả (Pierson và Thomas) về tầm quan trọng của truyền thông trong công tác xã
hội với cộng đồng người yếu thế. Nhằm đạt chất lượng cao thì nhân viên CTXH cần
hỗ trợ họ nhận thức được ngôn ngữ cơ thể, có kỹ năng lắng nghe hiệu quả [99].
Kevin Barnes-Ceeney and Amanda Naylor (2005), KNGT là nền tảng cho
tất cả các chuyên gia làm việc với khách hàng, sử dụng KNGT một cách hiệu quả,
tạo điều kiện cho một mối quan hệ giúp đỡ được phát triển. Nhân viên xã hội
12
thường phải giao tiếp trong những tình huống mà các điều kiện có thể gây ra nhiều
rào cản đối với truyền thông. Họ cũng có thể làm việc với những cá nhân không
muốn truyền thông và đề kháng với sự thay đổi [67]. Tác giả chỉ ra, để GT hiệu quả
thì nhân viên CTXH phải là chuyên gia sử dụng thuần thục các KN sau: (1) Lắng
nghe; (2) Kích thích cá nhân có cái nhìn sâu sắc về bản thân; (3) Hỗ trợ và tư vấn
cho những người bị căng thẳng; (4) Giải quyết xung đột với các khách hàng tức
giận hoặc hung dữ; (5) Thay đổi thái độ hoặc thói quen không tích cực của khách
hàng; (6) Phát triển các phương pháp truyền thông khác nhau cho những người
không sử dụng GT bằng ngôn ngữ nói. Tác giả chỉ ra rằng nhân viên CTXH sử
dụng KNGT thúc đẩy khách hàng giải quyết vấn đề theo cách của họ để vượt qua
giai đoạn khó khăn.
Trong nghiên cứu của Donald Forrester et al (2007), đã trình bày "Giao tiếp
tốt là trọng tâm của việc thực hành tốt nhất trong CTXH” (Social Care Institute for
Excellence (SCIE) 2004a, tr.1) [55, tr. 41-51], trong công trình các tác giả cũng chỉ
ra một số KNGT được xác định trong CTXH gồm: KN thấu cảm; KN sử dụng câu
hỏi đóng, mở. (Trevithick, 2000, tr87), cho thấy rằng "các câu hỏi mở tạo nên thành
phần chính của cuộc gặp gỡ ban đầu"; KN phản xạ giúp thăm dò sâu hơn về tình
đặc biệt đi sâu vào các KNGT bao gồm: KNGT không lời được thể hiện qua việc sử
dụng thời gian, sử dụng những cử động cơ thể (ánh mắt, nụ cười, tay, đầu...), sử
dụng giọng nói (tốc độ, nhịp độ, thời lượng, cách diễn đạt), sử dụng môi trường
giao tiếp (khoảng cách, trang trí, trang phục, vị trí) và KNGT bằng lời như: lắng
nghe, phản hồi, đặt câu hỏi. Đây là các kĩ năng rất cơ bản để người trợ giúp có thể
thiết lập sự tin tưởng đối với thân chủ, thu thập thông tin và trợ giúp hiệu quả.
Hepworth, Rooney và Larsen (1997, tr180 – 181; 183 -190) chỉ rõ, nhân
viên CTXH phải biết quan sát, biết tự đánh giá các vấn đề về các mô hình hành vi
giao tiếp. Họ nhấn mạnh đến các giá trị tham dự, những tương tác bằng mắt, về vị
trí cơ thể, nhận thức về những khác biệt văn hóa và các mô hình giao tiếp không lời.
Họ cũng nhấn mạnh đến những rào cản giao tiếp bằng lời như chuẩn mực đạo đức,
những lời khuyên, hay những giải pháp mang tính thuyết giảng [21].
Dalzell R and Chamberlain C (2006), đã chỉ ra những kỹ năng mà nhân
viên CTXH sử dụng để giao tiếp hiệu quả với trẻ em gồm: KN tự tin; KN lắng nghe
14
tích cực; KN đồng cảm với quan điểm của trẻ; KN xây dựng mối quan hệ tin tưởng;
KN giao tiếp phi ngôn ngữ; KN giải thích, tóm tắt, cung cấp thông tin rõ ràng [52],
các tác giả nhấn mạnh nhân viên CTXH cần điểu chỉnh phong cách làm việc tùy
theo tốc độ thay đổi của trẻ, đòi hỏi nhân viên CTXH cần kiên nhẫn, cần có thời
gian và được hỗ trợ về tài nguyên khi giao tiếp với trẻ.
Winter (2011), đưa ra các rào cản ảnh hưởng đến việc phát triển các mối
quan hệ có ý nghĩa gồm nhiệm vụ, niềm tin, lý thuyết, đào tạo, công cụ, thời gian…
và thông qua phân tích các ví dụ thực tế để đưa ra cơ sở lý luận về KNGT với trẻ
em, được phân tích qua 3 giai đoạn của quá trình truyền thông: giai đoạn mở đầu sử
dụng KN thiết lập mối quan hệ, giai đoạn giữa gồm các KN quản lý cảm xúc (Trẻ
và bản thân nhân viên CTXH), công nhận và tôn trọng vốn xã hội của trẻ, các KN
nghe, KN đặt câu hỏi; giai đoạn kết thúc phải được lên kế hoạch tránh cho trẻ cảm