z
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN UYÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 THỊ TRẤN TÂN UYÊN
THUYẾT MINH SÁNG KIẾN
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TỶ LỆ
CHUYÊN CẦN CHO HỌC SINH BẢN NÀ NỌI”
Đồng tác giả:
Vũ Thị Hoa Lý - Chức vụ: Giáo viên - Trình độ chuyên môn: ĐHTH
Tạ Thị Thúy - Chức vụ: Giáo viên - Trình độ chuyên môn: CĐTH
Hoàng Xuân Lưu - Chức vụ: Giáo viên -Trình độ chuyên môn: ĐHTH
Nơi công tác: Trường Tiểu học số 2 thị trấn Tân Uyên
Tân Uyên, ngày 25 tháng 03 năm 2016
1
I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: "Một số biện pháp nâng cao tỷ lệ chuyên cần cho học
sinh bản Nà Nọi."
2. Đồng tác giả
2.1. Họ và tên: Vũ Thị Hoa Lý
Năm sinh: 25/10/1974
Nơi thường trú: Khu 3 thị trấn Tân Uyên - huyện Tân Uyên - tỉnh Lai Châu.
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học.
Chức vụ công tác: Giáo viên.
Nơi làm việc: Trường Tiểu học số 2 thị trấn Tân Uyên.
Điện thoại: 01689162862
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 33,4%.
nhà trường tiểu học là hết sức quan trọng. Muốn dạy và học đối với học sinh dân
tộc thiểu số có hiệu quả, việc đầu tiên đối với giáo viên dạy vùng dân tộc thiểu
số là phải duy trì tốt sĩ số học sinh hàng ngày. Làm như vậy mới đảm bảo và
nâng cao được chất lượng dạy và học trong nhà trường nói riêng cũng như
ngành giáo dục nói chung trong giai đoạn đổi mới của đất nước hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: Công tác duy trì số lượng, nâng cao tỉ lệ chuyên cần
ở trường tiểu học giữ vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học
tập cho học sinh cũng như công tác duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ
cập giáo dục tiểu học. Đó chính là nền tảng để giúp các em tiếp thu kiến thức
một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt. Vậy mà hiện nay ở hầu hết các
trường học, đặc biệt là các trường tiểu học thuộc vùng sâu, xa có hoàn cảnh kinh
tế-xã hội đặc biệt khó khăn, công tác duy trì số lượng, nâng cao tỉ lệ chuyên cần
còn gặp rất nhiều trở ngại. Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên là phần
lớn học sinh trong địa phương thuộc con em gia đình hộ nghèo, nhiều gia đình
đông con, nhà xa trường học, vì tập trung cho phát triển kinh tế gia đình nên một
số gia đình ít có điều kiện quan tâm đến việc học tập của các con em mình.
Ngoài ra, một số em khả năng nhận thức còn chậm dẫn kết quả học tập chưa cao
nên không thích đi học, không thích đến trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
tỉ lệ chuyên cần của học sinh trên lớp. Chính vì thế, việc các em nghỉ học, không
ra lớp đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc lĩnh hội kiến thức của các em.
3
Với nhiều năm công tác tại đơn vị trường chúng tôi luôn suy nghĩ và đặt
cho mình câu hỏi: “Làm thể nào để duy trì số lượng học sinh và nâng cao tỉ lệ
chuyên cần?". Đây là một "bài toán" mà nếu chúng ta tìm ra cách giải sẽ có đóng
góp lớn trong việc giúp các em tiếp thu bài đầy đủ, nâng cao kết quả học tập và
tiếp tục con đường học vấn của mình. Chính vì lẽ đó, chúng tôi cùng tìm hiểu,
nghiên cứu nhằm đưa ra "Một số biện pháp nâng cao tỷ lệ chuyên cần cho học
sinh bản Nà Nọi" với mong muốn được góp một phần công sức của mình vào
tỉ lệ chuyên cần của học sinh ở hầu hết các lớp còn thấp.
Thực tế này là do nhiều nguyên nhân, song ở đây chúng tôi xin nêu ra một
số nguyên nhân cơ bản sau:
a) Về phía phụ huynh
- Còn nhiều gia đình chỉ vì một lí do nào đó như: kinh tế, tâm lý,... mà
chưa quan tâm đến việc học tập của con em, còn phó thác mọi việc học hành của
con em cho thầy cô, cho nhà trường. Từ đó các em không có ý thức tự giác khi
thực hiện nhiệm vụ học tập.
- Một số gia đình vì quá nuông chiều con cái như khi con xin nghỉ để đi
chơi, đi mua sắm, ... gia đình cũng đồng ý cho con nghỉ học. Đó chính là đồng
phạm góp phần làm con em mình yếu kém về kiến thức dẫn đến các em chán
học, không thích đến trường.
b) Về phía giáo viên
- Một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề, chưa có những biện
pháp cụ thể, hiệu quả để giúp đỡ các em vươn lên trong cuộc sống cũng như
trong học tập. Từ đó kết quả học tập của các em trở nên sa sút, thua kém những
bạn cùng trang lứa dẫn tới các em chán học, không tự vươn lên trong học tập.
- Có những giáo viên còn chưa chú ý đúng mức đến từng đối tượng học sinh
yếu kém. Một số giáo viên mới còn thiếu kinh nghiệm nên phương pháp, hình thức
dạy học còn chưa phong phú, do đó chưa thu hút được các em đến trường.
c) Về phía học sinh
- Hầu hết là do các em mải chơi, chưa nhận thức được vai trò của việc học tập.
- Một số em do gia đình nuông chiều nên ý thức chấp hành kỉ luật chưa cao.
- Có những em bị thiếu hụt, hổng kiến kiến thức do ốm đau không đi học
được nên khi học những bài học sau không nắm bắt kịp từ đó sinh ra chán học.
3.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
5
Từ thực tế trên, chúng tôi cùng nghiên cứu và đưa ra "Một số biện pháp
c) Biện pháp 3: Trách nhiệm của giáo viên bộ môn về nâng cao tỷ lệ
chuyên cần.
c1) Mục tiêu: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm
của giáo viên bộ môn.
c2) Cách thực hiện
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của giáo viên bộ môn về mục đích, ý
nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao tỷ lệ chuyên cần trong nhà trường.
Giáo viên bộ môn phối hợp chặt chẽ với các giáo viên chủ nhiệm cùng
theo dõi nắm bắt sĩ số học sinh và ghi danh sách những em vắng mặt trên lớp,
phản ánh kịp thời về tình hình của lớp để giáo viên chủ nhiệm tiện theo dõi.
Cùng với giáo viên chủ nhiệm thường xuyên kiểm tra việc học bài, cách
ghi vở của học sinh. Cuối mỗi tiết học cần đánh giá, động viên về kết quả đạt
được của học sinh trong giờ học nhằm tạo môi trường thân thiện và hứng thú
cho học sinh, từ đó giúp các em xóa bỏ mặc cảm, tự ti, tạo điều kiện để các em
hòa đồng với các bạn cùng trang lứa.
Giáo viên luôn luôn là người động viên, khích lệ để phát huy tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh và dành nhiều thời gian để các em trao đổi tự
nhận xét và nhận xét lẫn nhau, cùng nhau tìm phương pháp học tập ở lớp cũng
như ở nhà.
Dưới đây là những hình ảnh và một trong những hoạt động mà chúng tôi
đã thực hiện theo biện pháp trên:
Khi thấy lớp 4A2 có em Lý A Châu thường xuyên nghỉ học, chúng tôi
thăm hỏi, chia sẻ với em và được em cho biết: “Cha mẹ bắt em nghỉ học ở nhà
trông em”. Nắm được điều đó, chúng tôi phối hợp với giáo viên bộ môn, trưởng
thôn bản đến để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn cha mẹ em lên kế hoạch, sắp
xếp công việc gia đình, giúp cha mẹ em hiểu việc học là rất quan trọng đối với
em, từ đó tạo điều kiện để em có thời gian đi học. Cùng với sự nỗ lực và quyết
tâm cao của các thầy cô, em đã nhận thức được việc nghỉ học ở độ tuổi này là rất
thiệt thòi cho em và sau đó em đã quay trở lại lớp học với các bạn”, ...
Thứ năm
Trước giờ
truy bài
(7h 10')
Đầu giờ
Truy bài
Truy bài
Truy bài
Truy bài
Giữa giờ
Thể dục
Múa-hát
Nhảy dân vũ,
phát thanh măng non
Múa-hát
Đầu giờ
Truy bài
Học sinh
Truy bài
Học sinh
vui chơi
Tổ chức các hoạt động giao lưu thể dục thể thao, văn hóa-văn nghệ, trò
chơi dân gian, ... trong những ngày lễ lớn như: 20/11; 22/12; 26/3; ... có trao giải
để gây hứng thú, tạo động lực cho các em đến trường.
Hằng ngày Đội cờ đỏ tiến hành kiểm tra, đôn đốc, chấm điểm các hoạt động
của các Chi đội, ghi vào Sổ theo dõi theo sự hướng dẫn của Chuyên trách Đội.
Hằng tuần, vào tiết Hoạt động đầu tuần các bạn trong Đội cờ đỏ làm rõ
phần đánh giá tình hình hoạt động của Liên đội, các chi đội trong tuần qua. Xếp
loại thi đua các Chi đội. Biểu dương những học sinh tiêu biểu nhằm động viên
khuyến khích tinh thần học tập của các em cũng như động viên, giáo dục những
9
học sinh cá biệt; đề ra được những hoạt động của Liên đội trong tuần tới.
Phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn thăm hỏi, động
viên kịp thời các em có hoàn cảnh khó khăn.
Sau đây là một vài hoạt động minh họa cho các hoạt động trên:
e) Biện pháp 5: Phối hợp với nhà trường
e1) Mục tiêu: Giúp học sinh có điều kiện học tập tốt hơn.
e2) Cách thực hiện
Ngay từ đầu năm học nhà trường tổ chức Hội nghị phụ huynh để bầu Ban
đại diện cha mẹ phụ huynh học sinh trong nhà trường, quan tâm hơn những thôn
bản, đặc biệt bản Nà Nọi có tỉ lệ học sinh chuyên cần chưa cao.
Tham mưu với lãnh đạo chính quyền địa phương, phối kết hợp với các
ban ngành đoàn thể trong địa bàn kịp thời vận động, động viên con em trong bản
đến trường, đến lớp chuyên cần.
tôi là đội ngũ giáo viên, với trách nhiệm của mình đã cùng nhau nghiên cứu,
cùng với nhà trường triển khai và thực hiện các biện pháp một cách cụ thể ngay
từ đầu năm học, kết quả đạt được như sau:
100% cán bộ, giáo viên phụ trách công tác chủ nhiệm, giảng dạy học sinh
ở bản Nà Nọi có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trong việc thực
hiện nhiệm vụ nâng cao tỷ lệ chuyên cần học sinh. Các cán bộ, giáo viên thường
xuyên cập nhật, ghi chép đầy đủ nội dung các buổi sinh hoạt, hội thảo về việc
nâng cao tỷ lệ chuyên cần và áp dụng vào thực tế đạt hiệu quả cao. Hiện nay,
việc nâng cao tỷ lệ chuyên cần thực sự là chủ đề được mọi người thường xuyên
quan tâm trao đổi, chia sẻ, tháo gỡ những khó khăn.
Huy động được 178/179 học sinh trong độ tuổi đến trường (01 học sinh bị
11
Suy tim nặng) đạt tỷ lệ 99,4%; tỷ lệ chuyên cần ở các lớp đạt từ 98-100%, chất
lượng giáo dục có chuyển biến so với đầu năm học: tỷ lệ học sinh chưa đạt
chuẩn kiến thức - kỹ năng còn 06/178 em tham gia đánh giá, chiếm 3,4%, giảm
17,9% so với thời điểm đầu năm học. Học sinh tham gia Giao lưu học sinh năng
khiếu cấp trường đạt 14 em, tham gia Giao lưu học sinh năng khiếu cấp huyện
07 em.
Học sinh đi học đầy đủ, chuyên cần giúp giáo viên có nhiều giờ dạy tốt,
học sinh có nhiều giờ học hay, góp phần nâng cao chất lượng của giáo viên và
học sinh trong nhà trường. Cụ thể: Số cán bộ - giáo viên phụ trách công tác chủ
nhiệm, giảng dạy học sinh ở bản Nà Nọi 15 đ/c, xếp loại giờ dạy Giỏi: 07 đ/c,
Khá: 08 đ/c. Số giáo viên dạy giỏi cấp trường: 13/15 đ/c đạt 86,6%, bảo lưu cấp
huyện: 09/15 đ/c đạt 60%, bảo lưu cấp tỉnh: 02/15 đạt 13,3%,
Kết qủa xếp loại thi đua cuối HKI: Xuất sắc: 12/15 = 80,1%, Khá: 02/15 =
13,3%, TB: 01/26 = 6,6%.
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Các giải pháp trên được triển khai và tổ chức thực hiện khá hiệu quả đối