A.PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt lí luận
Một trong những tư tưởng đổi mới GD & ĐT hiện nay la tăng cường giáo dục
đạo đức cho học sinh và giảm nguy cơ bỏ học của học sinh được thể hiệ trong
nghị quyêt của Đảng , luật giáo dục và các văn bản của BGD & ĐT. Luật GD đã
xác định " Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản hình thành nhân
cách con người..."
1.2 Về mặt thực tiễn
Gần đây, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hìnhđã lên tiếng khá
nhiều về hiện tượng học sinh bỏ học tụ tập băng nhóm, gây gổ đánh nhau, có vụ
dẫn đến tử vong. Vấn đề này đã trở thành " Chủ đề nóng hổi" của dư luận xã
hội, nhất là đối với gia đình và nhà trường.
Trong đó việc giáo dục, quản lí học sinh và ngăn chặn nguy cơ bỏ học của học
sinh là vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và
đang trở thành một thách thức rất lớn không chỉ riêng ngành giáo dục.
Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về
đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng
đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý trí kém phát triển, không có tính tự chủ
dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.
Đối với Trung tâm GDTX Bảo Yên nói riêng và nhà trường phổ thông nói
chung số học sinh vi phạm đạo đức, có dấu hiệu bỏ học có chiều hướng tăng,
tình trạng học sinh kết thành băng nhóm đầu xanh đầu đỏ, đi xe máy chở số
người quá quy định không đội mũ bảo hiểm lạng lách đánh võng gây nguy hiểm
cho người tham gia giao thông và bạo hành trong trường học đáng được báo
động. Một số cán bộ quản lí, giáo viên còn thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục
tình cảm đạo đức cho học sinh.
1.3. Về cá nhân
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn ở trên, qua thực tế việc nắm dõ nguyên nhân
dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh và đề ra các biện pháp về ngăn chặn tình
6.2. Phương pháp quan sát thực tế
Khảo sát thực tế công tác giáo dục học sinh cá biệt và làm giảm tỉ lệ nguy
cơ bỏ học của học sinh khối lớp 10 và lớp 11 Trung tâm GDTX Bảo Yên trong
năm hoc qua. Để có số liệu, chất lượng thực tế nhằm đưa ra các giải pháp về
việc thực hiện công tác giáo dục.
2
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. Cơ sở lí luận
1.1. Các khái niệm
Học sinh: là những người đang đi học (học văn hóa và học nghề)
Bỏ học: Là hiện tượng xảy ra trong phạm vi nhà trường. Đó là hiện tượng học
sinh rời khỏi ghế nhà trường khi đang ở giai đoạn được giáo dục thuộc cấp học
mà học sinh đó được tuyển sinh.
Học sinh bỏ học trước hết là ảnh hưởng đến bản thân, sau đó ảnh hưởng đến gia
đình và xã hội. Đối với bản thân học sinh: sẽ làm cho học sinh không đủ những
kiến thức cơ bản để đi vào cuộc sống lao động sản suất hoặc tiếp tục học lên
nữa. Hiện nay, trong lao động sản xuất đòi hỏi người lao động phải có một trình
độ về văn hóa phổ thông và trình độ về kỹ năng nghề nghiệp. Bỏ học ở cấp bậc
THPT còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Gia đình phải tốn kém hơn về
kinh tế, phải bỏ ra một khoản tiền đầu tư thêm cho con em mình học lại, xã hội
phải tốn kém hơn về công sức và tiền của trong việc đầu tư sức lực, kinh phí để
giải quyết việc nâng cao dân trí. Mặt khác học sinh bỏ học sẽ làm ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục, sẽ không hoàn thành chỉ tiêu của
nghành mà Đảng và nhà nước đã giao. (Nghị quyết TW 2- Khóa VIII)
Biện pháp: Là cách làm cách giải quyết cụ thể.
Giảm tỷ lệ: là làm cho cái xấu cái không hay đang có khả năng xảy ra nhiều sẽ
Trong những năm qua, giáo dục của nước ta đang gặp nhiều khó khăn: nhu cầu
học tập ngày càng tăng do dân số và trình độ dân trí phát triển song lao động dư
thừa nhiều, khả năng đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp.
Những chậm trễ trong việc cải cách hành chính, đổi mới quản lý kinh tế ,tài
chính, sử dụng lao động, chính sách tiền lương… Là những yếu tố cản trở việc
giải quyết những vướng mắc của ngành giáo dục.
Ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn nguồn tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị và
đầu tư cho giao dục còn nhiều thiếu thốn, trong lúc nhu cầu của xã hội đối với
giáo dục tăng mạnh.
Từ những nguyên nhân trên đã có tác động không nhỏ đến phụ huynh và học
sinh. Một số em không xác định được động cơ học tập, các em không hứng thú
khi đến trường, đến lớp. Từ đó các em chán học rồi bỏ học, trong khi đó cha mẹ
các em luôn bận bịu với cuộc sống hàng ngày không quan tâm đến việc học
hành của con em mình, không quản lý được các em. Bên cạnh đó nhiều phụ
huynh, không xác định được động cơ cho con ăn học.
Từ cơ sở trên việc đưa ra biện pháp làm giảm tỷ lệ bỏ học của học sinh ở Trung
tâm GDTX còn nói chung và học sinh lớp 10, 11 nói riêng là vấn đề vô cùng
thiết thực và cấp bách, góp phần thực hiện mục tiêu nhiệm vụ giáo dục của Đảng
và nhà nước đề ra.
2. Cơ sở thực tiễn.
Học sinh của Trung tâm GDTX Bảo Yên đa số là con nhà nông ở các xã vùng
sâu, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, ý thức học
tập của các em còn yếu. Đặc biệt là có nhiều gia đình học sinh có cha mẹ đi làm
ăn xa hoặc cha mẹ bỏ nhau không quản lý được các em dẫn đến nhiều em hư
hỏng, chán học, học yếu rồi bỏ học.
Hầu hết các em vừa học vừa lao động giúp gia đình, nhiều em còn là lao động
chính trong gia đình, ít được cha mẹ quan tâm giúp đỡ trong học tập.
Một số em có vợ, chồng sớm bận rộn với cuộc sống gia đình, con cái dẫn đến
bỏ học.
Một số gia đình sống bằng nghề buôn bán, kinh doanh… nên đời sống kinh tế
Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra: "tâm điểm của giáo dục và đào tạo năm nay
không phải là tuyển sinh, thi tốt nghiệp hay học phí… mà là tình trạng bỏ học
của học sinh từ cấp tiểu học lên đến cấp THPT trên toàn quốc". Mặc dù nhìn vào
bảng thống kê số học sinh bỏ học qua từng năm có giảm nhưng số lượng bỏ học
vẫn ở mức cao, đó là chưa kể trên thực tế số lượng học sinh bỏ học còn cao hơn
nhiều so với những số liệu được thồng kê.
Tổ tự nhiên chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đưa ra được cái nhìn
khái quát về tình trạng bỏ học của học sinh trong cả nước cũng như tại Trung
tâm GDTX Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
1.2 Tình trạng bỏ học của học viên tại Trung tâm GDTX Bảo Yên
Tỉnh Lào Cai nói chung, cũng như Trung tâm GDTX Bảo Yên là một tỉnh miền
núi, vùng sâu vùng xa biên cương của tổ quốc. Về mặt xã hội, kinh tế, văn
hóa…còn gặp rất nhiều khó khăn và đang được tháo gỡ dần. Hiện nay toàn tỉnh
có trường THPT và 11 trung tâm giáo dục thường xuyên. Qua số liệu khảo sát
học sinh bỏ học cấp THPT của tỉnh Lào Cai năm 2011 – 2012 như sau: Nhìn
chung, học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như học sinh bị kỉ luật
buộc thôi học, do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, do học lực quá
yếu…
Học sinh bỏ học tập trung ở các huyện có kinh tế phát triển chậm, đặc biệt nơi
có con em đồng bào dân tộc chiếm đa số.
2. Nguyên nhân bỏ học của học viên Trung tâm GDTX Bảo Yên
Nâng cao chất lượng giáo dục là một nhu cầu cấp thiết của thời đại và là chỉ tiêu
phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, giáo dục luôn được coi là quốc
sách hàng đầu. Vì vậy, trước thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay đòi hỏi các
cấp ban ngành và tổ chức có liên quan phải tìm mọi cách để ngăn chặn và khắc
phục. Tuy nhiên, trước hết phải tìm hiểu và xác định được nguyên nhân của tình
5
trạng này là do đâu. Qua quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin, tổ tự nhiên
đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy và học: khuôn viên trường không có, trường lụp
xụp nhà cấp bốn, không có phòng học chức năng, mùa hè rất nóng, mùa đông lại
lạnh…Ngoài ra còn có nguyên nhân là trường học xa đối với một số em ở các
xã, các em phải đi những quãng đường dài đến lớp (có trường hợp đi đến 1, 2
giờ đồng hồ) đặc biệt nếu điều kiện thời tiết xấu trong một thời gian dài (bão,
lụt, nước dâng…) thì các em buộc phải nghỉ học. Ở đây cũng phải nói thêm
rằng, chính sách hỗ trợ học sinh THPT và học viên bên GDTX là không công
bằng, các em bên THPT được hỗ trợ tiền ăn, đi lại và cũng là em đấy, cùng xã
đấy nhưng ở bên GDTX lại không có gì.
Thứ năm, Bộ giáo dục và Đào tạo đã siết chặt kỷ cương trong thi cử, đánh giá,
nhất là học viên có học lực yếu khiến các em bị áp lực, không học nổi và không
thi được. Vì vậy, từ tâm trạng chán, tự ty và xấu hổ với bạn bè, các em ngại đến
lớp dẫn đến tình trạng bỏ học.
6
Thứ sáu, do bản thân các em không có ý chí vươn lên trong học tập, ngại khó,
ham chơi…Học viên không muốn học vì nhiều lí do, lại không được sự quan
tâm của gia đình nên các em trường bỏ học để đi chơi hoặc chơi game. Bên cạnh
đó sự dụ dỗ lôi kéo của bạn bè đã khiến các em không còn quan tâm đến việc
học, chỉ biết chơi suốt ngày và lâu dần trở thành thói quen. Mặt khác, tâm lý của
các em đang ở lứa tuổi mới lớn, đây là lứa tuổi dễ dao động nhất, nếu như có
biện pháp uốn nắn tốt các em sẽ đi theo hướng tích cực và ngược lại các em sẽ
trở nên hư hỏng.
Nhìn chung có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh và ở
mỗi vùng miền cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại thì có một vài
nguyên nhân như đã nói ở trên và từ ciệc phân tích những nguyên nhân này
chúng ta sẽ tìm ra hướng giải quyết hữu hiệu nhất.
3. Giải pháp đối với vấn đề bỏ học của học viên lớp 10 và lớp 11 Trung tâm
GDTX Bảo Yên
7
chuyển nhận thức của phụ huynh học viên – học chính là con đường chính để
thoát khỏi đói nghèo một cách vững chắc nhất.
3.2 Giải pháp dài hạn
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh siết chặt kỉ cương trong thi cử, đánh giá kiểm tra
để nhằm phát hiện ra những học viên có học lực yếu kém qua các kỳ thi, bài
kiểm tra. Từ đó có những biện pháp bồi dưỡng, phụ đạo thêm các em có một
khối kiến thức vững chắc để có thể học tốt hơn ở các lớp trên.
Thứ hai, thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập trong Trung tâm GDTX.
Hiện nay một sô giáo viên về nghiệp vụ sư phạm chưa được tốt, trong quá trình
giảng dạy có thể gây cho học viên có cảm giác nhàm chán. Chính vì vậy, nên
quan tâm để bồi dưỡng, đào tạo thêm về chuyên môn như cách giảng bài, cách
truyền đạt kiến thức ngắn gọn, dễ hiểu và gây được hứng thú học tập cho học
viên, giúp các em biết tư duy sáng tạo và độc lập trong suy nghĩ.
Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo các cấp chính quyền trong việc đưa
các em đến trường, ngăn chặn tình trạng bỏ học. Tăng cường công tác tuyên
truyền, vận động, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng người dân và của cộng
đồng dân cư trong quá trình triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dục, góp
phần hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh. Có chính sách hỗ trợ đặc biệt, đủ
mạnh cho các địa phượng khó khăn. Các công ty đóng trên địa bàn cấp học
bổng, xe đạp cho các học viên thuộc diện xóa đói giảm nghèo hoặc các học viên
có điều kiện khó khăn để tiếp tục có điều kiện học tập.
Cần đầu tư xây dựng trường lớp với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho quá dạy
và học, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được tiếp thu như những em
học sinh ở đồng bằng.
8
mà toàn ngành Giáo dục đang tích cực hưởng ứng “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”. Tổ chức Đoàn cũng cần xây dựng và nhân rộng mô
hình “đôi bạn cùng tiến”; tổ chức các cuộc thi về kiến thức, kỹ năng phù hợp với
độ tuổi để thu hút học sinh tham gia; thực hiện tốt phương châm “Mỗi ngày đến
trường là một niềm vui”…
Như vậy, việc giảm học sinh bỏ học, lưu ban trong thời gian tới sẽ có hiệu quả
khi vai trò của các tổ chức trong trung tâm, vai trò của giáo viên được phát huy
một cách đồng bộ, có trách nhiêm. Việc duy trì sĩ số, hạn chế học sinh bỏ học,
lưu ban là nhiệm vụ quan trọng, phải được quan tâm thường xuyên của ngành
Giáo dục, của các trung tâm giáo dục thường xuyên; tỷ lệ tốt nghiệp ở các cấp
9
học cao chỉ có giá trị khi tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học thấp. Thiết nghĩ, làm tốt
điều này cũng có nghĩa là chúng ta đang giảm dần sự cách biệt về trình độ dân
trí, chất lượng giáo dục ở các vùng, miền-một vấn đề đang được các cấp quản lý,
các địa phương quan tâm.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
11