Một số biện pháp ứng dụng CNTT trong quản lý trường mầm non - Pdf 48

1.Những nội dung lý luận có liên quan trục tiếp đến vấn đề................................................................3
2.1. Thuận lợi:......................................................................................................................................3
2.2. Khó khăn.......................................................................................................................................4
2.3 Khảo sát thực trạng:......................................................................................................................4
3.2.2. Bồi dưỡng chuyên môn:.........................................................................................................10
3.3. Biện pháp 3: Đưa thi đua ứng dụng CNTT vào hội thi, hội giảng.............................................13
3.5. Biện pháp 5: Thành lập kho dữ liệu về ứng dụng CNTT và nhóm giáo viên phụ trách về nội
dung này............................................................................................................................................17
4. Hiệu quả SKKN...................................................................................................................................20

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ........................................................................24
1. Kết luận:.............................................................................................................................................24
2. Kiến nghị:...........................................................................................................................................25

1 / 26


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CNTT:

Công nghệ thông tin.

- KT-XH:

Kinh tế xã hội

- BGD&ĐT:

Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- GDMN:

CNTT có hiệu quả, đó là vấn đề mà bất cứ người cán bộ quản lý hay giáo viên
đều đặt ra khi đưa CNTT vào các hoạt động của trẻ. Xuất phát từ việc ứng dụng
CNTT trong trường tôi đang công tác hiện nay, mặc dù đã có nhiều cố gắng
nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế.
Thực tế, trong trường mầm non của chúng tôi, nhà trường đã tiến hành
trang bị máy vi tính và máy in cho hầu hết các lớp từ những năm học trước
nhưng do khả năng bảo quản, sử dụng CNTT còn chưa cao, máy móc đã cũ nên
dẫn đến tình trạng liên tục hỏng phải sửa chữa. Khả năng sử dụng máy tính,
nhận thức về ứng dụng CNTT của đa số giáo viên còn nhiều hạn chế dẫn đến
việc ngại, e dè trong việc tổ chức các hoạt động ứng dụng CNTT... Đứng trước
thực trạng nêu trên cả ở góc độ cơ sở vật chất cũng như mức độ ứng dụng vào
chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên trong nhà trường bản thân tôi rất băn khoăn
1 / 26


với nhiệm vụ quản lý được giao.Vì vậy, để tìm ra những biện pháp tháo gỡ khó
khăn nêu trên trong điều kiện thực tế của nhà trường là vô cùng cấp thiết để đáp
ứng yêu cầu hiện nay.
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong các hoạt động
chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non".

2 / 26


II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Những nội dung lý luận có liên quan trục tiếp đến vấn đề.
Ngày nay, CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển KTXH, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so
với các nước đi trước, tạo khả năng thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH
đất nước, đã và đang tạo đà cho những thay đổi cơ bản trong công tác quản lý và

%
21 45.7

Khá
SL
18

Trung bình
SL
%

%
39.1

05

Yếu
SL
02

10.9

%
4.3

=> Từ số liệu trên cho thấy khả năng ứng dụng CNTT trong tổ chức các
hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên xếp loại khá tốt chiếm tỉ lệ cao.
Tuy nhiên bên cạnh đó số giáo viên xếp loại trung bình và yếu chiếm tỷ lệ khá
cao: 5 giáo viên có khả năng trung bình chiếm 10,9%, 02 giáo viên có khả năng
ứng dụng CNTT yếu chiếm 4,3% . Từ số liệu khảo sát cụ thể nhận thấy số giáo

%

8

32

SL
8

%
32

=> Từ số liệu trên cho thấy giáo viên cũng đã biết ứng dụng CNTT vào việc
tổ chức các hoạt động cho trẻ nhưng việc ứng dụng CNTT đạt được hiệu quả cao
chiếm số lượng thấp 8 hoạt động chiếm 32%, một số giáo viên do khả năng
CNTT còn chưa tốt nên việc ứng dụng CNTT dẫn đến hiệu quả chưa cao 9 hoạt
động chiếm 36%, còn lại là 8 hoạt động không ứng dụng CNTT chiếm tới 32%.
*/ Về cơ sở vật chất CNTT đầu năm học 2017-2018 tại 19 lớp:
- Số lượng máy tính hiện có: 19/19 lớp.
- Số lượng máy in hiện có: 19/19 lớp. Trong đó số máy in hỏng là: 3 máy.
- Số loa máy tính hiện có: 19/19 lớp. Trong đó 5 bộ loa hỏng hoàn toàn.
- 19/19 lớp được kết nối mạng Internet.
5 / 26


=> Qua quá trình điều tra tôi nắm được một số nguyên nhân sau:
- Giáo viên chưa tự học tập bồi dưỡng kỹ năng sử dụng và bảo quản máy
tính, kỹ năng sử dụng phần mềm dành cho trẻ trên máy tính còn nhiều hạn chế.
- Giáo viên chưa tích cực tìm tòi học hỏi về chuyên môn, chưa khám phá
sáng tạo những cái mới dựa trên điều kiện CNTT sẵn có để ứng dụng vào các

cách chia sẻ cùng các bậc phụ huynh để tìm được tiếng nói đồng thuận. Một
trong những thuyết phục cụ thể là gì? Tôi đã họp giáo viên lại để bồi dưỡng cách
tạo một số bài tập cho trẻ có ứng dụng CNTT để phát ở các lớp; gửi mail cho
các bậc phụ huynh về một số bài tập có thể dạy trẻ trên máy tính ở nhà; thực
hành làm bài tập, trò chơi trên máy tính… giúp các bậc phụ huynh nhìn thấy
được hiệu quả mà CNTT mang lại cho các bé.
- Giáo viên phối hợp chặt chẽ với ban chi hội của các lớp để tổ chức triển
khai. Ngoài việc tìm được sự ủng hộ của phụ huynh trong các hoạt động của nhà
trường nói chung, việc chia sẻ cũng như kêu gọi phụ huynh ủng hộ để trang bị
loa, máy in thực sự đã nhận được sự ủng hộ lớn từ phía phụ huynh, 100% ban
chi hội phụ huynh ở các lớp đó đưa vấn đề này để cùng bàn bạc với các bậc phụ
huynh trong lớp có con em mình theo học và đều được nhất trí cao theo tinh thần
phụ huynh có điều kiện ủng hộ nhiều, phụ huynh cũng khó khăn ủng hộ ít hoặc
không ủng hộ.
Thông điệp tôi muốn chia sẻ trong biện pháp này có thể nói đến đã là sự
tác động đồng bộ, bắt tay vào cuộc của tất cả các bộ phận trong nhà trường đặc
biệt là việc tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động có ứng dụng CNTT, phát
bài tập tự tạo tại một số lớp, bật nhạc trong mỗi giờ đón trả trẻ, thể dục sáng...
Hình thức này ngoài việc thay đổi nhận thức của các bậc phụ huynh mặt khác
còn góp phần tạo sự thi đua lành mạnh giữa các lớp trong nhà trường.
Kết quả: Với sự ủng hộ và chia sẻ nhiệt tình của các bậc phụ huynh, nhà
trường đã tiến hành sửa chữa những máy tính chưa hỏng hoàn toàn; Sửa chữa và
mua bổ sung 3 máy in mới để 19/19 nhóm lớp đều có máy in; Mua mới 5 bộ loa
để đồng bộ tất cả các lớp đều có loa cho cô và trẻ hoạt động. Ngoài việc đầu tư
mới nhà trường tiến hành bảo trì sửa chữa, nâng cấp toàn bộ máy móc thiết bị
sẵn có trong trường. Tiếp đó nhà trường đã tiến hành kết nối Internet đến 100%
các lớp với tổng số 28 máy được kết nối. Sự khởi sắc về mặt trang bị cơ sở vật
chất trong đó có sự chung tay ủng hộ vô cùng lớn lao của các bậc cha mẹ học
7 / 26


- Cùng BGH nhà trường rà soát tổng hợp máy tính, máy in
hỏng lên kế hoạch xã hội hóa giáo dục.
- Khảo sát chất lượng giáo viên về khả năng sử dụng máy
tính.
- Lên kế hoạch bồi dưỡng CNTT cho giáo viên – mở lớp tin

Tháng 10,11

học cơ bản.
- Bồi dưỡng chuyên môn sử dụng máy tính soạn thảo văn
bản…
- Bồi dưỡng chuyên môn về ứng dụng CNTT ở đâu, ứng dụng
như thế nào?
- Tìm hiểu và tham gia hội thi thiết kế bài giảng E learning do
Sở Giáo dục phát động.
- Bồi dưỡng giáo viên về việc tự tạo bài tập cho trẻ trên
Words.
- Phát động phong trào hội giảng có ứng dụng CNTT vào các

Tháng 12, 1

tiết hội giảng chào mừng 20/11.
- Bồi dưỡng chuyên môn về việc tự tạo các bài giảng
powerpoin.
- Dự giờ kiến tập 1,2 đồng chí giỏi chuyên môn và biết cách
ứng dụng CNTT vào các hoạt động đạt loại tốt.
- Phát động hội thi tạo bài tập tự tạo cho trẻ cấp trường.
- Bồi dưỡng chuyên môn từ 4 đĩa phần mềm hỗ trợ soạn giảng

Tháng 2,3

+ Khuyến khích giáo viên trong 5 phút nghĩ ra các hình thức có thể ứng
dụng CNTT, viết vào giấy, tập hợp lại.
+ Giáo viên kể ra có những thời điểm nào trong ngày có thể ứng dụng CNTT
cho trẻ của mình ở lớp.
+ Lấy ý kiến của 1 giáo việc đọc lên, các thành viên còn lại gạch trong giấy
của mình nếu thấy trùng. Cứ như vậy sau 2-3 giáo viên đã thấy được hết ý kiến
của các giáo viên khác. Đây là cách tổng hợp rất nhanh và hiệu quả.
+ Chốt các ý kiến phù hợp và bổ sung các thông tin cần thiết.
+ Giới thiệu và cùng giáo viên vào một số địa chỉ trang web hữu ích cho bậc
học mầm non.
Kết quả : Với cách làm này đã đem đến cho giáo viên một cái nhìn tổng thể
về việc có thể làm những gì trong ứng dụng CNTT vào các hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ mầm non. 100% các giáo viên trong buổi sinh hoạt đều nắm được
các ứng dụng cơ bản: soạn giáo án, làm bài tập tự tạo theo các lĩnh vực trên phần
mềm word, sử dụng power point với các hiệu hứng để tạo các bài tập, trò chơi
10 / 26


đưa vào các hoạt động, khai thác dữ liệu về âm thanh, hình ảnh trên internet,
thiết kế giáo án điện tử E-learning…; kết nối máy tính và một số phương tiện
khác như đàn, máy trợ giảng. Có nhiều trang web đã được cung cấp và chia sẻ
tại buổi sinh hoạt này.

Hình ảnh: Giáo viên tham gia sinh hoạt chuyên môn
3.2.2.2. Mở lớp học cho 46/46 giáo viên đứng lớp- buổi học thao tác trực
tiếp trên máy cho giáo viên về những ứng dụng gần nhất cho trẻ: Nội dung
hướng dẫn giáo viên trong buổi học với thời gian ½ ngày được đưa ra đó là:
+ Một số thao tác cơ bản khi sử sụng máy tính an toàn, cách sử dụng một số
phím tắt.
+ Hướng dẫn giáo viên cách làm bài tập tự tạo phù hợp với trẻ và mang lại



quả cao và không khó thực hiện với các trường mầm non trên địa bàn Thành phố
nếu Ban giám hiệu nhà trường là những người có khả năng hiểu biết và biết khai
thác ứng dụng CNTT hiệu quả để dễ dàng chia sẻ cho giáo viên
hiểu và cùng thực hiện.
3.3. Biện pháp 3: Đưa thi đua ứng dụng CNTT vào hội thi, hội giảng.
Một trong các hình thức đem lại nhiều hiệu quả trong các phong trào và hoạt
động chuyên môn trong các trường mầm non nói chung và trường tôi nói riêng
đó là việc phát động thi đua thành hội thi hoặc trong hội giảng…Cách đưa vào
hội thi hay hội giảng cũng cần phù hợp với điều kiện thực tế, khả năng hiện có
của giáo viên.

Hình ảnh: Giáo viên ứng dụng CNTT vào các đợt Hội giảng
Đưa vào ở 2 mức độ:
+ Thứ nhất: Khuyến khích giáo viên đưa ứng dụng CNTT vào tổ chức hoạt
động cho trẻ một cách phù hợp ở phần thi tổ chức một hoạt động trong hội
giảng.
+ Thứ hai, đặc biệt hơn phát động hội thi ứng dụng CNTT, nội dung trọng
tâm là xây dựng các bài tập tự tạo cho trẻ ở tất cả các nhóm lớp. Hội thi này

13 / 26


nhằm củng cố kết quả học tập chuyên môn của giáo viên trong buổi học đã tổ
chức trước đó. Biểu điểm chấm của hội thi làm bài tự tạo được đưa ra và triển
khai cụ thể tới tất cả các nhóm lớp:
TRƯỜNG MNNT

BIỂU ĐIỂM

điểm

giáo

tuổi

+ 10- 15 bài: 7
điểm

+ 10- 15 bài: 10

Mẫu

+ 7- 10 bài: 5
điểm

+ 7- 10 bài : 7

điểm

Mẫu giáo 4 tuổi

khich

+ 20- 25 bài: các
10 điểm

lớp

vượt các

- Hội thi bài tập tự tạo theo các lĩnh vực của trẻ thành công cao với 1 giải
nhất ở lớp A5, 02 giải nhì là lớp A6, A1; giải 3 là 4 lớp và thành công hơn cả đó
là đã tập hợp được kho dữ liệu về bài tập tự tạo trong toàn trường theo từng độ
14 / 26


tuổi. Số lượng bài tập này được các giáo viên khai thác và sử dụng hiệu quả trên
trẻ đem lại sự tin tưởng và ủng hộ cao của các bậc phụ huynh.
Sau hội giảng và hội thi giáo viên từ chỗ rất lúng túng với việc ứng dụng
CNTT vào chăm sóc giáo dục trẻ nay đã tiến bộ rất nhiều. Tuy nhiên để việc ứng
dụng CNTT thực sự có hiệu quả và không bị lạm dụng, đặc biệt là trong hoạt
động học, một số lưu ý rất cụ thể tôi đã chỉ đạo cho giáo viên:
- Cùng giáo viên bàn bạc và khẳng định CNTT dù có rất nhiều ưu điểm nổi
bật song đó cũng chỉ là một phương tiện phục vụ cho chăm sóc giáo dục trẻ
cùng với các phương tiện truyền thống khác góp phần nâng cao chất lượng chăm
sóc và giáo dục.
- Trong ứng dụng CNTT giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến phương pháp
dạy học tích cực, không nên lạm dụng CNTT mà quên đi các hoạt động
đặc thù của các môn học mà đặc biệt là các hoạt động trải nghiệm.
Từ hoạt động thực tế trên giáo viên của chúng tôi đã định hướng được về
mức độ hợp lý khi đưa ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ.
Bằng việc hiểu ý nghĩa của ứng dụng CNTT, xác định rõ đó là một
phương tiện sinh động nhưng không phải là duy nhất, đưa ứng dụng CNTT vào
trong các thời điểm trong ngày đặc biệt là trong các hoạt động có chủ định phù
hợp, không lạm dụng đã khiến trẻ của trường tôi khi tham gia các hoạt động này
hứng thú một cách tự nguyện.
=> Sau khi thực hiện biện pháp này tôi nhận thấy hiệu quả mà nó mang lại
vô cùng to lớn, khi có các cuộc thi, người giáo viên sẽ có thêm nhiều ý thức tự
tìm tòi mày mò, học hỏi để đưa ra những bài tập tự tạo, những tiết dạy có ứng
dụng CNTT hiệu quả để chứng tỏ bản thân với đồng nghiệp, lãnh đạo...và đó là


ngày cho trẻ đồng thời cũng nhận thấy những hạn chế trong ứng dụng tại thời
điểm nào còn yếu để khắc phục, bổ sung dần theo thời gian.
3.5. Biện pháp 5: Thành lập kho dữ liệu về ứng dụng CNTT và nhóm giáo
viên phụ trách về nội dung này.
Máy tính không những là nơi cung cấp cho chúng ta lượng thông tin khổng
lồ, mà bản thân nó cũng là nơi lưu giữ dữ liệu giống như một thư viện. Để việc
khai thác CNTT ứng dụng vào giáo dục trẻ được thuận tiện, an toàn cũng như có
một sự tập trung nhất định, coi đó như một căn cứ để nhìn lại hiệu quả hoạt động
của nội dung này, các nhà trường cần thiết phải xây dựng một kho dữ liệu riêng.
Cách xây dựng kho dữ liệu có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau:

Hình ảnh: Xây dụng kho học liệu chung của trường
- Tập trung khai thác trên mạng Internet các nội dung theo một chủ đề nào
đó: Ví dụ: cùng khai thác về hình ảnh động của chủ đề thực vật, các đoạn nhạc
hay video clip về nước và bảo vệ nguồn nước…gom lại đặt thành một tiêu đề.
- Khai thác kho hình ảnh động, âm thanh, video... vô cùng phong phú và
quý giá từ 4 đĩa phần mềm hỗ trợ soạn giảng mầm non do Sở Giáo Dục cung
cấp. Từ những đĩa phần mềm đó tôi phát động giáo viên xây dựng giáo án điện
tử, trò chơi tự tạo trên máy tính để lưu vào kho tư liệu của nhà trường.
17 / 26


- Khai thác “tài sản” hiện có của giáo viên: Phải khẳng định rằng giáo viên
ở mỗi lớp với nhiều cách trao đổi và học hỏi đều có những nguồn nhất định về
ứng dụng CNTT. Có giáo viên có bài dạy về các loại hình, có giáo viên có một
trò chơi bằng phần mềm power point nào đó….khai thác và tập hợp nội dung
này cũng là một nguồn để tạo kho dữ liệu phong phú.
- Tạo một lile lưu với các giáo án hay ở từng độ tuổi để các giáo viên tham
khảo. Hệ thống giáo án này cũng có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau: Khai

+ Thu thập và khai thác các phần mềm có thể ứng dụng trong chương
trình chăm sóc - giáo dục trẻ.
+ Thu thập, thống kê các bài tập do các cô giáo tự tạo tại các lớp. Sau đó,
phân loại và lưu giữ theo chủ đề của từng độ tuổi để kho dữ liệu ngày càng
phong phú.
=> Với cách làm như trên đã phát huy tính tích cực và chủ động trong các
giáo viên đặc biệt là các giáo viên trong nhóm phụ trách. Kho dữ liệu cũng như
hoạt động chuyên môn của nhóm phụ trách CNTT nhà trường sẽ được bồi đắp
hàng năm góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong nhà trường nói
riêng và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nói chung.
3.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên sử dụng CNTT trong việc tuyên truyền
tới các bậc phụ huynh về các hoạt động được diễn ra hàng ngày tại trường,
lớp.
Thực tế hiện nay mọi người đều sử dụng điện thoại thông minh và đa số các
bậc phụ huynh đều sử dụng internet để tham gia mạng xã hội đặc biệt là
facebook, hiểu được điều này tôi đã tham mưu và xin ý kiến Hiệu trưởng về việc
sử dụng CNTT để tuyên truyền tới các bậc phụ huynh qua phương tiện Internet
và được Hiệu trưởng nhà trường rất ủng hộ. Bằng việc đưa ra quy định mỗi tuần
ít nhất 1 lớp có 2 bài ảnh hoặc video đăng lên facebook nhà trường (nhà trường
được lập một tài khoản facebook riêng và kết nối với giáo viên, phụ huynh) và 1
tháng có 1 bài đăng trên trang web của nhà trường về các hoạt động của lớp như:
Ngày hội ngày lễ, các hoạt động học tập, vui chơi ăn ngủ vệ sinh, các sự kiện
đặc biệt diễn ra trong ngày... của các bé để phụ huynh dù ở xa nhưng vẫn có thể
nhìn được các hoạt động của lớp hàng ngày.

19 / 26


Hình ảnh: Sử dụng CNTT trong các buổi họp phụ huynh
Qua một thời gian chỉ đạo giáo viên thực hiện và đó có những phản hồi rất

thời lĩnh hội cả kiến thức tin học từ phía phụ huynh.
* Việc ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động
- Giáo viên đã tự tin hơn, mạnh dạn hơn khi sử dụng CNTT trong tổ chức
các hoạt động giáo dục trẻ. ( kết quả nêu ở phần trên)
- Số bài tập giáo viên tự tạo đến tháng 3 năm 2018 tăng lên gần 380 bài.
- 100% lớp lập kế hoạch hoạt động của trẻ trên máy vi tính.
- Đặc biệt, chúng tôi đã xây dựng được một nhóm gồm những giáo viên
có khả năng về tin học cũng như ứng dụng vào nhà trường. Đây là lực lượng
nòng cốt trong việc áp dụng CNTT trong giảng dạy, giúp cho nhà trường ngày
càng phát triển và làm tốt hơn công tác đổi mới phương pháp dạy học mà ngành
đã và đang tiếp tục phát động trong công cuộc đổi mới tư duy giáo dục
của đất nước.
* Kết quả trên trẻ:
Từ sự chuyển biến trong nhà trường về sử dụng CNTT trong tổ chức các
hoạt động cho trẻ mầm non đã và đang mang đến cho trẻ những điều mới lạ, sự
phong phú, hấp dẫn về hình ảnh, âm thanh…tạo cho trẻ hứng thú trong các hoạt
động. Từ đó đạt mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ ở cả năm lĩnh vực: thể
chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ.
21 / 26


=> Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 4:Kỹ năng sử dụng máy tính của giáo viên:
Thời điểm

Tổng số

khảo sát
T8/2017
T3/2018

SL
0
0

%
0
0

=> Từ bảng trên cho thấy số giáo viên có kỹ năng sử dụng máy tính đã có
sự thay đổi đáng khích lệ, số giáo viên có kỹ năng sử dụng máy tính tốt đã tăng
lên rõ rệt và đặc biệt không còn giáo viên có kỹ năng sử dụng máy tính xếp loại
trung bình, yếu.
Bảng 5:Khả năng ứng dụng CNTT trong tổ chức các hoạt động chăm
sóc, giáo dục trẻ của giáo viên.
Thời điểm

Tổng số

khảo sát
T8/2017
T3/2018

giáo viên
46
46

Tốt
SL
%
21 45.7

khảo
sát
Tháng
9/2017
Tháng
3/2018

Tổng

Ứng dụng CNTT

Ứng dụng

hiệu quả

CNTT chưa hiệu

số giờ

Không ứng dụng
CNTT

quả

dự

SL

%


24

0

0

22 / 26


=> Từ số liệu trên cho thấy giáo viên cũng đã biết ứng dụng CNTT vào việc
tổ chức các hoạt động cho trẻ đạt được hiệu quả cao hơn so với năm học trước
một cách rõ nét, từ 8 hoạt động ứng dụng CNTT có hiệu quả thành 19 hoạt
động, một số giáo viên do khả năng CNTT còn chưa tốt nên việc ứng dụng
CNTT dẫn đến hiệu quả chưa cao nhưng tỷ lệ khá thấp là 6 hoạt động chiếm
24%.
*/ Về cơ sở vật chất CNTT đến tháng 3/2017 tại 19 lớp:
- Số lượng máy tính hiện có: 19/19 máy = 100%
- Số lượng máy in hiện có: 19/19 máy in = 100%
- Số loa máy tính hiện có: 19/19 loa = 100%
- 19/19 lớp được kết nối mạng Internet.
Với những lợi ích cụ thể mang lại thì việc nhân rộng sáng kiến “Một số biện
pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong các hoạt động
chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non" là rất khả thi, có thể áp dụng phù hợp với
nhiều trường mầm non. Những giải pháp đưa ra trong sáng kiến đơn giản, dễ
thực hiện, chỉ với xuất phát điểm là đội ngũ giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình
trong công việc, điều kiện cơ sở vật chất như trên thì việc áp dụng và nhân rộng
sáng kiến là hoàn toàn khả thi và thu được kết quả cao về mặt kinh tế, xã hội.

23 / 26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status