Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Tìm hiểu Lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang - Pdf 48

BÀI DỰ THI:
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
Tìm hiểu Lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang

Môn học chính: Lịch sử
Môn học tích hợp: Địa lý, Văn học và Tin học

1


1. Tên tình huống: Tìm hiểu lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang
2. Mục tiêu giải quyết tình huống
- Vận dụng kiến thức liên môn để tìm hiểu về nơi mình sinh sống để qua đó
thêm yêu mến và hiểu biết về địa phương.
3. Tổng quan về nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
- Lịch sử: Lịch sử địa phương
- Địa lý: Điều kiện địa lý, khí hậu, sông ngòi,dân cư, kinh tế,… của địa
phương
- Văn học: Sử dụng từ ngữ, câu, văn học dân gian, phương pháp thuyết minh
- Tin học: Sử dụng thành thạo Word và tìm kiếm thông tin trên mạng
4. Giải pháp giải quyết tình huống:
Tìm hiểu, tra cứu tư liệu, hình ảnh liên quan đến địa phương thông qua mạng
internet và các tư liệu ở thành phố Bắc Giang.
5. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống

TỈNH BẮC GIANG
I. Vị trí địa lí, lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Bắc Giang:
1. Vị trí địa lí:
Là một tỉnh thuộc tiểu vùng đông bắc, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, phía
đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái
Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải

Năm 1950, tỉnh Bắc Giang thuộc Liên khu Việt Bắc (1949-1956) và gồm 7
huyện: Hiệp Hoà, Lục Ngạn, Yên Thế, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hữu
Lũng.
3


Ngày 22 tháng 2 năm 1955, huyện Sơn Động từ tỉnh Quảng Yên trả về tỉnh Bắc
Giang.
Ngày 1 tháng 7 năm 1956, khi thành lập Khu tự trị Việt Bắc, huyện Hữu Lũng
sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc.
Ngày 21 tháng 1 năm 1957, chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện
Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam.
Ngày 6 tháng 11 năm 1957, chia huyện Yên Thế thành 2 huyện: Yên Thế và Tân
Yên.
Năm 1959, đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Bắc Giang nhập với Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và
đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Bắc Giang có
tỉnh lị là thị xã Bắc Giang và 9 huyện: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Lục
Ngạn, Sơn Động, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế.
Ngày 7 tháng 6 năm 2005, chuyển thị xã Bắc Giang thành thành phố Bắc Giang.
Ngày 3 tháng 12 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số
2168/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Giang là đô thị loại II trực thuộc
tỉnh Bắc Giang
BẮC GIANG – XƯA VÀ NAY
Cầu sông Thương

Cầu sông Thương, phủ Lạng Thương nhìn từ bờ phía Nam năm 1902
(Ảnh tư liệu)

4


Quảng trường 3/2 (thành phố Bắc Giang) - nơi diễn ra nhiều sự kiện chính
trị quan trọng của tỉnh

Nhà nhà treo cờ Tổ quốc hưởng ứng 120 năm ngày kỷ niệm thành lập tỉnh
(10/10/1895 - 10/10/2015)

8


Băng rôn, khẩu hiệu đỏ rực khắp các tuyến đường chính.
2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
* Diện tích: Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự
nhiên của Việt Nam. Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của
Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%;
còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất
* Địa hình: Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng: Miền núi và trung du có đồng
bằng xen kẽ. Vùng trung du bao gồm các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên và thành
phố Bắc Giang. Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục
Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang. Trong đó một phần các huyện
Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao.
Đặc điểm chủ yếu về địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) là chia
cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều vùng đất đai tốt, nhất là ở
các khu vực còn rừng tự nhiên.
Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như: Vải
thiều, cam, chanh, na, hồng, chè, đậu tương, lạc...; thuận tiện để chăn nuôi các
loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản.
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là
đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực. Vùng trung du có khả năng




- Nhóm đất phù sa: Diện tích khoảng 50.246 ha, chiếm 13,14% diện tích đất tự
nhiên. Loại đất này được phân bố chủ yếu ở vùng địa hình bằng phẳng ven các
sông. Đây là nhóm đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp với các loại cây
nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng ngắn ngày.
- Nhóm đất bạc màu: Diện tích khoảng 42.897 ha, chiếm 11,22% diện tích đất
tự nhiên, là loại đất bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở các huyện: Việt
Yên, Tân Yên, Hiệp Hòa. Đây là nhóm đất bằng, nghèo đạm, lâm, giàu ka-li, tơi,
xốp, thoát nước tốt, thích hợp với các loại cây lấy củ, hạt như: Khoai tây, khoai
lang, cây đậu đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày.
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Diện tích khoảng 6.546 ha, chiếm
1,71% diện tích đất tự nhiên. Loại đất này phân bố chủ yếu ở các thung lũng nhỏ,
kẹp giữ các dãy núi. Đây là loại đất được hình thành và phát triển trên sản phẩm
rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất nên thường có độ phì khá, rất thích
hợp với các loại cây trồng như: Ngô, đậu, đỗ và cây công nghiệp ngắn ngày.
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích khoảng 241.358 ha, chiếm 63,13% diện tích đất
tự nhiên. Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất ở Bắc Giang.
Loại đất này thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng tùy theo mẫu chất, quá trình
phong hóa và quá trình tích lũy hữu cơ.

11


- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Diện tích 1.008 ha, chiếm 0,27% diện tích
đất tự nhiên, phân bố ở các ngọn núi cao giáp dãy núi Yên Tử và giáp tỉnh Thái
Nguyên.
- Nhóm đất xói mòn: Diện tích khoảng 18.809 ha, chiếm 4,92% diện tích đất tự
nhiên. Loại đất này có đặc điểm là tầng đất mỏng, độ phì kém, khó khăn cho sản
xuất nông nghiệp.

là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm
4,5%; người Tày 2,6%;người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân
tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%...
* Văn hóa Bắc Giang có các điểm đặc trưng sau:
- Tính chất đan xen đa văn hóa. Đan xen không phải hòa đồng mà tất cả cùng tồn
tại tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Bắc Giang.
- Tính chất tụ hội văn hóa người Việt. Trong lịch sử lâu dài của đất nước người
dân từ nhiều nơi như Thanh Hóa, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên...
đã lên đây sinh sống. Họ mang theo tập tục của mình và có những biến đổi theo
người dân bản xứ trên đất Bắc Giang và ngược lại người dân Bắc Giang ở trước
đó cũng bị những tác động của cư dân mới đến.
- Con người Bắc Giang vốn là những cư dân đồng cam cộng khổ, cưu mang nhau
vượt qua thiên tai địch họa, khai phá rừng hoang lập làng, lập bản. Tính chất hào
hùng còn dễ nhận thấy hơn qua các cuộc bảo vệ đất nước của dòng họ Giáp, họ
Thân và đặc biệt hơn là cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
- Bắc Giang là sự giao thoa giữa hai miền văn hóa Việt cổ (Bắc Ninh) và văn hóa
Tày Nùng (Lạng Sơn). Những người dân tộc Thái, dân tộc Dao… vẫn có nét
riêng trong sinh hoạt nhưng họ học tiếng Kinh, mặc quần áo người Kinh.
- Văn hóa Bắc Giang là tính chất đoàn kết, sáng tạo. Từ vùng rừng thiêng nước
độc cộng đồng dân cư Bắc Giang sinh sống đã tạo nên những vẻ đẹp riêng có cả
về văn hóa vật thể và phi vật thể. Bắc Giang có hơn 500 lễ hội lớn nhỏ.
Người dân Bắc Giang tự hào là cái nôi của quan họ cổ với 23 làng ven sông
Cầu, tồn tại như một sự kết duyên song song với quan họ ở Bắc Ninh. Đất quan
họ Bắc Giang còn là nơi có tục kết chạ từ lâu đời đến nay vẫn tồn tại trong cuộc
sống cộng đồng, có đóng góp tích cực làm đẹp thêm đời sống xã hội.
Bắc Giang có chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - cái nôi đào tạo phật pháp thiền
phái Trúc Lâm; chùa Bổ Đà (Việt Yên) phản ánh tính chất cổ kính gần với phật
giáo Ấn Độ, đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) được dựng vào cuối thế kỷ XVI từng
được mệnh danh là "Đệ nhất Kinh Bắc". Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên
địa bàn Bắc Giang cách đây khoảng hai vạn năm có người thời đại đồ đá khai



Khu công nghiệp Quang Châu, diện tích 426 ha;



Khu công nghiệp Vân Trung, diện tích khoảng 442 ha;



Khu công nghiệp Châu Minh - Mai Đình diện tích 207 ha



Cụm công nghiệp cơ khí ô tô Đồng Vàng, diện tích khoảng 38 ha.



Ngoài các khu, cụm công nghiệp trên, hiện nay tỉnh Bắc Giang dự kiến quy
hoạch một số khu, cụm công nghiệp khác, tập trung ở các huyện Yên Dũng, Việt
Yên, Hiệp Hoà và huyện Lạng Giang với diện tích các khu khoảng từ 200 ha đến
trên 1.000 ha.
Bắc Giang đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; ưu tiên đầu tư
kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; quan tâm đào tạo, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và đặc
biệt chú trọng cải cách thủ tục hành chính theo hướng đảm bảo công khai, minh
bạch với cơ chế "một cửa liên thông", nhà đầu tư chỉ cần đến một địa chỉ là Ban
quản lý các Khu công nghiệp hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư là được cấp giấy
chứng nhận đầu tư, mã số thuế và con dấu.
14

BigC, Co.op mart… Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt
17.200 tỷ đồng, tăng bình quân 19,6%/năm. Phương tiện vận tải tăng bình quân
11%/năm; phủ sóng điện thoại di động và Internet tới tất cả các xã. Hệ thống dịch
vụ tài chính, tiền tệ phát triển khá, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp, vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các dịch vụ giáo dục, y
tế, tư vấn pháp luật, bảo hiểm, du lịch... tiếp tục phát triển phong phú, đa dạng.
- Giao thông:
Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông để tạo điều kiện thuận lợi
cho việc kết nối với các tỉnh bạn và các vùng kinh tế động lực. Đã phối hợp triển
khai cải tạo, nâng cấp các quốc lộ 1, 31, 37; đầu tư nâng cấp nhiều tuyến đường
tỉnh: 293, 398, 295B, 296, 297, 298, 299... Tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ
thống giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong 5 năm đã cải
tạo, nâng cấp, cứng hóa 215 km đường tỉnh; 240 km đường huyện; 695 km
đường liên xã, trục xã; 654 km đường thôn, bản; nâng tỷ lệ cứng hóa đường
15


huyện từ 50% (năm 2010) lên 85%; đường xã từ 21,5% lên 58,5%; đường thôn,
bản đạt 47,6%.
- Danh lam thắng cảnh và du lịch:
- Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử thuộc Quần thể di tích danh thắng Yên
Tử đang được 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh lập hồ sơ đề nghị UNESCO công
nhận di sản thế giới.

- Đình Lỗ Hạnh (Đông Lỗ-Hiệp Hòa)- Đình cổ nhất Kinh Bắc

16


- Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt


Công tác phát triển du lịch của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai
nhiều công trình, dự án đầu tư phát triển các điểm du lịch để xây dựng các tour,
tuyến du lịch như: Dự án xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng, Quy
hoạch xây dựng bảo tồn di tích, danh thắng chùa Vĩnh Nghiêm; Dự án xây dựng
Khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử...; đầu tư xây dựng các tuyến giao thông
(đường tỉnh 293) để kết nối các điểm du lịch trong tỉnh và kết nối với các tỉnh
trong khu vực. Toàn tỉnh có 330 cơ sở lưu trú, trong đó có 01 khách sạn 4 sao, 10
khách sạn 2 sao, 15 khách sạn 1 sao và trên 300 nhà nghỉ, với khoảng 4.000
buồng nghỉ, trong đó có 3.750 buồng nghỉ đạt tiêu chuẩn. Tốc độ tăng khách du
lịch bình quân đạt 23,8%/năm, năm 2015 ước đạt 400 nghìn lượt người; doanh
thu từ du lịch có tốc độ tăng bình quân đạt 37%/năm, năm 2015 ước đạt 262 tỷ
đồng.
* Giáo dục và đào tạo:
Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển. Mạng lưới các trường được bố trí hợp lý,
bảo đảm mỗi xã có đủ 03 trường (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở); tỷ lệ
trường chuẩn quốc gia đạt 80%, vượt mục tiêu đề ra. 100% đội ngũ cán bộ, giáo
viên đã đạt chuẩn và trên chuẩn. Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5
tuổi hoàn thành trước một năm so với kế hoạch; phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi mức độ 2 đạt 70,8% số xã (tăng 56,5% so với năm 2010). Giáo dục - đào
tạo duy trì vị trí trong nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; thi học sinh giỏi
văn hóa cấp quốc gia năm 2015 xếp thứ 12 về số lượng giải, xếp thứ 9 về chất
lượng giải và luôn ở vị trí từ 1 đến 3 các cuộc thi cấp khu vực, toàn quốc.

*

Danh nhân:







Nhà thơ Anh Thơ.



Cô Bắc tức Nguyễn Thị Bắc.



Thân Nhân Trung.



20




Trạng nguyên Giáp Hải.



Dương Quốc Cơ



Sáu Hà.


Ngày xưa, ở Bố Hạ nhà nghèo cũng có vài chục gốc cam còn nhà giàu thì có đến
vài nghìn gốc. Cam cũng là nguồn thu nhập quan trọng và cũng là niềm tự hào
của người dân Bố Hạ. Thế mà trải qua những thăng trầm của thời gian, một vùng
cam với những giống cam qúy đặc sản như vậy đang dần bị thoái hoá, mai một
bởi nhiều nguyên nhân.Những người dân trồng cam và lãnh đạo địa phương có
tâm huyết với giống cam quý đặc sản này đang day dứt, trăn trở: "tìm cách duy trì
phát triển giống cam quý của tổ tiên"..


Bánh đa Kế

Bánh đa Kế xuất phát từ làng nghề truyền thống bánh đa xã Dĩnh Kế, Bắc Giang.
Điều đặc biệt, cái vị của nó vừa giòn, vừa ngọt của gạo mới và thơm thơm của
nắng quê Bắc bộ.Độ nở của chiếc bánh cũng là một đặc điểm để phân biệt.Để ra
lò một chiếc bánh đa Kế hoàn hảo phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp. Với
bàn tay khéo léo của người dân Dĩnh Kế, kỹ năng quạt bánh thủ công bằng than
hoa khiến chiếc bánh luôn luôn nở đều, đầy đặn, tròn vạnh như mặt trăng đêm
rằm và không bị cháy sém. Ngoài ra kỹ thuật rắc vừng, lạc sao cho màu đen, màu
vàng điểm lốm đốm đều trên bánh.Bánh đa Kế luôn luôn tạo ra được một nét
riêng, không thể lẫn vào đâu. Nó trở thành một thứ đặc sản đậm chất đồng quê
Bắc Bộ.


Mỳ Chũ

Dù có từ lâu đời nhưng mỳ Chũ chỉ thực sự để lại ấn tượng cho người ăn cách
đây vài năm. Khi mới xuất hiện, thứ mỳ gạo này ít được biết đến, tuy nhiên theo
thời gian, cùng với những ưu điểm nổi trội như cái ngọt của bột bao thai hồng,
sợi mỳ dai không bị nhừ nát mà loại mỳ của thị trấn Chũ đã có tên và được biết
đến trong cuộc sống đời thường của người dân quanh vùng. Không chỉ có thế, mỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status