LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bồi THƯỜNG THIỆT hại DO HÀNH VI xâm PHẠM QUYỀN tác GIẢGÂY RA lý LUẬN và THỰC TIỄN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

BÀI BÁO CÁO LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 34: 2008 – 2012
ĐỀ TÀI:

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI
XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

Phan Văn Dư

Bộ môn: Tư pháp

Mã số Sinh viên: 5085949
Lớp: Tư pháp 1

Cần Thơ, 2012


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cha mẹ, những người đã hết
sức lo cho tôi trong bốn năm đại học, chính nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ mà tôi mới có

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 3
5. Kết cấu đề tài ........................................................................................................ 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA....................................... 4
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển chế định bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra............................................................................. 4
1.1.1. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005 ...................................................... 4
1.1.2. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác

1.6.2.2. Đối với công chúng ........................................................................ 25
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA.............................. 27
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra.............................................................................................. 27
2.1.1. Có thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra......................... 27
2.1.1.1. Thiệt hại về vật chất ....................................................................... 27
2.1.1.2. Thiệt hại về tinh thần...................................................................... 36
2.1.2. Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền tác giả................................. 37
2.1.2.1. Hành vi xâm phạm quyền nhân thân .............................................. 37
2.1.2.2. Hành vi xâm phạm quyền tài sản ................................................... 38
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm
quyền tác giả........................................................................................................... 39
2.1.4. Có lỗi của chủ thể xâm phạm quyền tác giả ........................................... 40
2.2. Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra ............................................................................................................... 42
2.2.1. Mức bồi thường đối với thiệt hại về vật chất.......................................... 43
2.2.1.1. Khi xác định được lợi nhuận bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm
quyền tác giả........................................................................................................... 43
2.2.1.2. Khi xác định được giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền
tác giả ..................................................................................................................... 44
2.2.1.3. Bồi thường thiệt hại theo luật định................................................. 45
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

2.2.2. Mức bồi thường đối với thiệt hại về tinh thần ........................................ 47


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

3.2.2.1. Tồn tại............................................................................................. 81
3.2.2.2. Kiến nghị ........................................................................................ 82
3.2.3. Một số quy định về xác định thiệt hại trùng nhau và mức bồi thường thiệt
hại theo luật định chưa hợp lý ................................................................................ 83
3.2.3.1. Tồn tại............................................................................................. 83
3.2.3.2. Kiến nghị ........................................................................................ 86
3.2.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên đưa ra yêu cầu không đúng chưa
được quy định rõ ràng............................................................................................. 87
3.2.4.1. Tồn tại............................................................................................. 87
3.2.4.2. Kiến nghị ........................................................................................ 89
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, nước ta
chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra còn nhiều hạn chế, nhiều
vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại do hành vi xâm pham quyền tác gây ra
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

1

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

đang tồn tại trên thực tế mà pháp luật về bồi thường này chưa dự liệu được. Do vậy,
với những hạn chế về các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định
này trong quan hệ bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
hiện nay chưa bảo vệ được đầy đủ quyền và lợi ích chính đáng của các bên chủ thể
trong vụ kiện về bồi thường thiệt hại đối với quyền tác giả bị xâm phạm.
Xuất phát từ những lý do trên nên người viết chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn” cho luận văn kết
thúc khóa học. Với đề tài này người viết sẽ tìm hiểu về mặt lý luận, thực tiễn, cũng
như những bất cấp trong các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành
vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, để từ đó đưa ra những kiện nghị nhằm góp phần
xây dựng và hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại này,
giúp cho việc áp dụng chế định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả trên thực tế đạt hiệu quả cao hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với việc nghiên cứu về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra, người viết hướng đến mục đích làm sáng tỏ chế định pháp luật về bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra và việc áp dụng chế định
này trên thực tế. Qua đó, giúp chúng ta hiểu thêm về các quy định về bồi thường
thiệt hại này, chẳng hạn như điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại,

phần này người viết tập trung nghiên cứu một số vụ án về bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, từ đó tìm ra những hạn chế trong việc áp
dụng các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại này và đưa ra những giải
pháp khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp cơ
bản. Đầu tiên, để có tư liệu cho việc nghiên cứu, người viết đã sử dụng biện pháp
sưu tầm, tìm kiếm tài liệu, phân loại tài liệu, tham khảo các thông tin qua báo đài,
tạp chí, để chọn lọc, sắp xếp, cơ cấu cho phù hợp vào nội dung từng chương. Tiếp
đó, trong quá trình viết cũng sử dụng các phương pháp phân tích luật viết, các biện
pháp liệt kê, so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật với nhau, đồng thời để tạo ra
sự dễ dàng cho người đọc trong việc tiếp cận luận văn, người viết cũng đã sử dụng
các biện pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để phân tích, chứng minh hay giải thích
vấn đề. Tất cả các phương pháp trên được trình bày đan xen trong luận văn, tùy
từng nội dung mà áp dụng phương pháp cho phù hợp để tạo ra sự hài hòa, cân đối
mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời cảm ơn, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra.
Chương 2: Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra.
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Một số tồn tại và kiến nghị.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

3


Tuy nhiên, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ về quyền tác giả
nêu trên mang nặng yếu tố hành chính và hình sự khi xử lý hành vi xâm phạm
quyền tác giả, chưa quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 (BLDS 1995) thì
quyền tác giả chủ yếu được điều chỉnh tập trung bởi bộ luật này. BLDS 1995 cũng
đã dành cả phần 6 (quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) để quy định về
quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả và quyền này được tôn trọng và bảo
vệ tốt hơn ở khía cạnh là một quyền dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả chính thức xuất hiện, cụ thể như sau: “tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

4

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

tác phẩm có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công
khai, bồi thường thiệt hại”1.
Tuy vậy, BLDS 1995 chủ yếu quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
liên quan đến quyền tác giả, chưa ghi nhận rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, chẳng hạn như chưa đưa ra một khái
niệm về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, cũng chưa
quy định cụ thể những thiệt hại cần được bồi thường cho người bị thiệt hại, mà chỉ
có thể suy đoán từ quyền tác giả là một quyền dân sự để áp dụng cho việc bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, điều này có nghĩa là
quyền tác giả là một tài sản được quy định trong BLDS 1995, do đó khi có hành vi


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

tuệ gây ra nói chung và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây
ra nói riêng.
1.1.2. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra của Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trong điều kiện khoa học công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, các sản
phẩm trí tuệ của quyền tác giả được tạo ra ngày càng nhiều với giá trị kinh tế và xã
hội cao. Xuất phát từ giá trị to lớn đó của các sản phẩm trí tuệ đã dẫn đến thực trạng
xâm phạm quyền tác giả ngày càng phổ biến. Hầu hết những vụ xâm phạm quyền
tác giả được xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự, những biện pháp xử lý
này chưa thực sự có hiệu quả, bởi lẽ các biện pháp này chỉ nhằm răn đe chủ thể vi
phạm chứ không khắc phục được thiệt hại cho chủ thể có quyền. Tuy nhiên, một
trong những biện pháp xử lý vi phạm quyền tác giả hiệu quả nhất là biện pháp dân
sự, cụ thể là bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra vì việc
bồi thường thiệt hại này sẽ khắc phục được toàn bộ hoặc một phần thiệt hại xảy ra
cho chủ thể bị thiệt hại, đồng thời giáo dục được ý thức của người gây ra thiệt hại.
Với các quy định về bồi thường thiệt hại do hành xâm phạm quyền tác giả gây
ra của BLDS 2005, chưa thể đáp ứng yêu cầu được điều chỉnh một cách đặc thù của
quyền tác giả. Chính vì vậy, mà chủ thể bị thiệt hại ít chọn phương thức bồi thường
thiệt hại khi quyền tác giả của mình bị xâm phạm. Trước tình thế cấp thiết đó Luật
sở hữu trí tuệ 2005 ra đời và có hiệu lực ngày 01/07/2006 và được sửa đổi, bổ sung
năm 2009 (Luật SHTT 2005). Theo đó, các quy định về quyền tác giả trở nên hoàn
thiện hơn và các biện pháp chế tài dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả
cũng được quy định cụ thể hơn (Điều 202 quy định các biện pháp dân sự xử lý hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả). Đặc biệt, Luật SHTT

bắt đầu từ Quốc triều hình luật dưới thời đại nhà Lê, tiếp đến Hoàng Việt luật lệ của
triều đại nhà Nguyễn,…cho đến BLDS 2005. Như vậy, chế định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài gắn liền với các giai
đoạn lịch sử. Tuy nhiên, khi xem xét lại các văn bản pháp luật Việt Nam có liên
quan đến chế định bồi thường thiệt hại thì những văn bản pháp luật này chỉ quy
định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường
thiệt hại, năng lực chiu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thời hạn hưởng bồi thường
thiệt hại,… nhưng không quy định rõ về khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Như vậy, để đưa ra được khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cần
làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, trách nhiệm pháp lý là gì, theo đó trách nhiệm pháp lý được hiểu
là: “ trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm
pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm
pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi
phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được
quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật”2. Với cách định nghĩa trên thì trách
nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật,
những chủ thể vi phạm pháp luật thì sẽ phải gánh chịu chế tài của pháp luật. Hơn
nữa, trách nhiệm pháp lý không chỉ là sự trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp
luật mà còn thể hiện tính đền bù, có nghĩa là khôi phục lại tình trạng ban đầu tương
đương với phần hậu quả mà người vi phạm pháp luật gây ra.
Thứ hai, thiệt hại là gì, thiệt hại xảy ra khi nào. Thiệt hại là sự mất mát hoặc
giảm sút về vật chất và tinh thần mà một bên chủ thể của quan hệ pháp luật phải
gánh chịu do hành vi xâm phạm của chủ thể khác. Những thiệt hại có thể kể đến đó
2

Xem: Đại học luật Hà Nội, “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2009, Tr.508

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

quyền tác giả gây ra
Để đưa ra khái niệm về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra thì ta cần làm rõ các nội dung sau:
Trước tiên, có thể hiểu “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”4. Với cách định nghĩa như trên thì
quyền tác giả được hiểu là: một người tạo ra sản phẩm trí tuệ thông qua hoạt động
sáng tạo của mình bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (các tác phẩm
tiểu thuyết, thơ; các tác phẩm điêu khắc, hội họa,…) được gọi là tác giả, thì người
này có quyền đối với sản phẩm trí tuệ mà mình tạo ra hoặc chủ thể không trực tiếp
tạo ra sản phẩm trí tuệ bằng sự sáng tạo của mình nhưng có được tài sản này thông
qua hợp đồng chuyển nhượng đối tượng quyền tác giả, nhận thừa kế quyền tác
giả,…gọi là chủ sở hữu quyền tác giả thì cũng có quyền đối với sản phẩm trí tuệ
3
4

Xem: Khoản 1, Điều 604, BLDS 2005
Xem: Khoản 2, Điều 4, Luật SHTT 2005

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

8

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

này. Quyền đối với tài sản trí tuệ được nhắc đến ở đây bao gồm: quyền nhân thân và
quyền tài sản (sẽ được phân tích ở mục 2.1.2, chương 2 của luận văn).
Tiếp đến, hiểu như thế nào là hành vi xâm phạm quyền tác giả, theo đó một


Xem: Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Phương, “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề lý
luận và thực tiễn”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.9
6
7

Xem: Mục 1.2.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại, tr.7-8 của luận văn
Xem: Điều 202, Luật SHTT 2005

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

9

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhằm bù đắp những thiệt hại mà mình gây
ra cho người bị thiệt hại.
1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra là
một loại trách nhiệm dân sự, cho nên nó mang đầy đủ những đặc điểm của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, cụ
thể ở Chương XXI của BLDS 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành của bộ luật
này. Do vậy, khi một người có hành vi xâm phạm quyền tác giả và gây ra thiệt hại
cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì họ phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

của mình, đồng thời tài sản này cũng mang lại giá trị sử dụng khác biệt so với tài
sản hữu hình. Do tính chất đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác
giả nói riêng nên vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra mang những đặc điểm riêng biệt sau đây:
Một là, do quyền tác giả có những thuộc tính, đặc điểm riêng biệt so với các
loại tài sản hữu hình khác của pháp luật dân sự, cho nên cùng với Bộ luật dân sự
2005 thì chế định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
được điều chỉnh bởi pháp luật riêng của nó đó là Luật SHTT 2005 và các văn bản
hướng dẫn thi hành luật này.
Hai là, thiệt hại được xác định để bồi thường do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần. Nhưng thiệt hại về tinh thần
chiếm tỉ lệ khá quan trọng trong quan hệ về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyên tác giả gây ra. Bởi vì, ngoài việc mang lại lợi ích về kinh tế cho chủ thể
quyền tác giả thì đối tượng quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học được tạo ra cũng nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người,
một số tác giả khi tạo ra những tác phẩm là không vì mục tiêu kinh tế mà muốn chia
sẽ với công chúng một vấn đề nào đó trong cuộc sống, khi đó nếu có hành vi xâm
phạm quyền tác giả thì người sáng tạo ra tác phẩm bị tổn thất về tinh thần nhiều hơn
là tổn thất về vật chất. Do vậy, thiệt hại được xác định để bồi thường do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra trong một số trường hợp phần lớn là thiệt hại về tinh
thần.
Ba là, thiệt hại phát sinh do quyền tác giả bị xâm phạm chủ yếu là những thiệt
hại gián tiếp, bởi vì các sản phẩm trí tuệ của quyền tác giả là tài sản vô hình nên
những hành vi xâm phạm quyền tác giả không gây ra thiệt hại trực tiếp cho các đối
tượng quyền tác giả mà chủ yếu là gây ra thiệt hại gián tiếp cho chủ thể quyền tác
giả đó là làm cản trở khả năng thực hiện quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, qua đó làm hại đến kết quả khai thác tài sản là quyền tác giả của chủ thể quyền.

sản vô hình, là một quyền không tuyệt đối,…Tuy nhiên, quyền tác giả và quyền sở
hữu công nghiệp mang những đặc điểm riêng của mình. Chính những đặc điểm
riêng này sẽ tạo nên sự khác biệt trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp gây ra, cụ thể như sau:
Thứ nhất, quyền tác giả được bảo hộ tự động, có nghĩa là khi tác giả sáng tạo
ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học mang tính nguyên gốc thì sẽ được pháp
luật về quyền tác giả thừa nhận và bảo vệ kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới
hình thức vật chất nhất định, mà không cần phải qua thủ tục đăng ký bảo hộ quyền
tác giả. Do đó, khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả vào bất cứ thời điểm nào
kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định mà gây thiệt hại cho
chủ thể quyền tác giả thì người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại (trừ trường
hợp quyền tài sản của quyền tác giả hết thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp
luật). Khác với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ
tục đăng kí và theo thời hạn của văn bằng bảo hộ (trừ trường hợp đối tượng quyền
sở hữu công nghiệp là tên thương mại và bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng).
Vì sao có sự khác nhau này, bởi vì những tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân, vì vậy mà không thể có hai tác phẩm giống hệt
8

Xem: Mục 1.2.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, tr 8-9 của luận

văn
Xem: Khoản 4, Điều 4, Luật SHTT 2005

9

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

12

hại. Ví dụ, A bộc lộ ý tưởng của mình về việc sáng chế một chiếc máy gặt lúa trong
một bài viết đã được đăng trên tạp chí, theo đó A sẽ được hưởng quyền tác giả đối
với bài báo, tức là không ai được sao chép, sửa chữa, cắt xén nội dung của bài
báo,… nếu không có sự đồng ý A. Sau đó, A đã đi đăng kí bảo hộ độc quyền sáng
chế đối với ý tưởng tạo ra chiếc máy gặt lúa. Giả sử B đã lấy ý tưởng trong bài báo
của anh A để sáng chế ra một chiếc máy gặt lúa và gây thiệt hại cho anh A, khi đó
hành vi của B không được xem là vi phạm pháp luật về quyền tác giả mà hành vi
của B là vi phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Do đó, B
chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với sáng chế.
Thứ ba, đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học, những đối tượng này của quyền tác giả không những phục vụ lợi ích về vật
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

13

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

chất cho chủ thể quyền tác giả mà còn đáp ứng nhu cầu về tinh thần, giải trí của con
người, cho nên thiệt hại trong quan hệ bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra bao gồm cả thiệt hại vật chất về tinh thần. Trong khi đó, đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp là: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh, những đối tượng này chủ yếu nhằm để áp dụng cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp phần lớn gây ra
thiệt hại về tài sản như: làm giảm sút về doanh thu, lợi nhuận bán hàng,…Vì vậy,
khi xác định thiệt hại bồi thường do xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

thực tế cho thấy hình thức bồi thường bằng tiền là được các bên chủ thể lựa chọn
phổ biến nhất, bởi vì khi người gây ra thiệt hại bồi thường cho chủ thể quyền tác giả
một khoản tiền theo thỏa thuận thì sẽ giúp cho người bị thiệt hại nhanh chóng khắc
phục được thiệt hại trước mắt, người bị thiệt hại có thể dùng khoản tiền được bồi
thường để ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm như: trả tiền cho việc thông
báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm
quyền tác giả.
Thứ ba, các bên có thể thỏa thuận về phương thức bồi thường thiệt hại, theo
đó việc bồi thường thiệt hại có thể thực hiện một lần hoặc nhiều lần vào bất cứ thời
điểm nào, kể từ khi xảy ra tranh chấp tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên.
Tuy nhiên, pháp luật quy định các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường
thiệt hại, hình thức bồi thường thiệt hại, phương thức bồi thường thiệt hại, các thỏa
thuận này không được trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Như
vậy, với nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra, thể hiện sự tôn trọng ý chí của các bên chủ thể người bị thiệt hại và
người gây ra thiệt hại của pháp luật. Qua đó, góp phần giải quyết nhanh chóng và
thỏa đáng vụ việc xâm phạm quyền tác giả.
1.5.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời
Bên cạnh, nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại, pháp luật còn quy định
bồi thường thiệt hại phải toàn bộ, được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 605 BLDS
2005. Do đó, nguyên tắc bồi thường toàn bộ được áp dụng khi các bên chủ thể
không có thỏa thuận, thỏa thuận bị vô hiệu hoặc pháp luật không cho phép thỏa
thuận về bồi thường thiệt hại. Theo đó, nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại
được hiểu là việc bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào thiệt hại thực tế mà chủ thể

khoản bồi thường lớn hơn so với thiệt hại thực tế xảy ra, thì sẽ không phù hợp với
quan điểm của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại mang tính bù đắp chứ
không phải mang tính trừng phạt.
Như vậy, với nguyên tắc bồi thường toàn bộ thì cho dù chủ thể có trách nhiệm
bồi thường có lỗi cố ý hay vô ý mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ.
Khác với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đối với pháp luật Việt Nam
trước đây thì nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ chỉ được áp dụng khi người
gây ra thiệt hại có lỗi vô ý, còn nếu người gây ra thiệt hại với lỗi cố ý thì mức bồi
thường thiệt hại gấp nhiều lần so với thiệt hại thực tế xảy ra, theo đó người gây ra
thiệt hại phải bồi thường:“ thêm hai lần đối với tang vật của công, bồi thường thêm
một lần đối với các tội tạp phạm. Trong trường hợp nghiêm trọng thì bồi thường
thêm năm lần, nếu cố ý tái phạm thì bồi thường thêm chín lần”12. Qua đó, cho thấy
pháp luật Việt Nam về bồi thiệt hại ngày càng có sự thay đổi theo chiều hướng tiến
bộ phù hợp với các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh về bồi thường thiệt hại
của hệ thống pháp luật dân sự. Đối với việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra thì yếu tố lỗi không có nhiều ý nghĩa trong việc xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do vậy, trong quan hệ bồi thường này người gây
ra thiệt hại có lỗi hay không có lỗi thì cũng phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả theo Khoản 1 Điều 605 BLDS 2005.
Cùng với nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại, thì nguyên tắc bồi thường
kịp thời cũng được quy định tại khoản 1 Điều 605 BLDS 2005 đã góp phần giúp
10

Xem: Nguyễn Văn Cương và Chu thị hoa, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí nghiên cứu lập

pháp số 04/2005, http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2007/10/14/0766/[ truy cập ngày 10/01/2012]
Xem: Trần Ngọc Thành, “Một số vấn đề về nguyên tắc bồi thường đầy đủ trong dân sư”, Tạp chí Tòa án.

11


thì phải bồi thường. Không vì lỗi cố ý hay vô ý mà tăng hay giảm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo luật định thì
người có trách nhiệm bồi thường được giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể
được quy định tại Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005 “người gây thiệt hại có thể được
giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế trước mắt và lâu dài của mình”. Như vậy, người gây thiệt hại chỉ có thể được
xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại khi có đủ hai điều kiện đó là:
Thứ nhất, người gây ra thiệt hại phải do lỗi vô ý, theo đó chủ thể gây ra thiệt
hại phải không cố ý gây ra thiệt hại, không mong muốn hậu quả bất lợi xảy ra đối
với người bị thiệt hại nhưng do tính không cẩn thẩn hay gọi là cẩu thả hoặc do quá
tự tin mà gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại. Do đó, khi người gây ra thiệt hại với
lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp thì sẽ không xét đến việc giảm mức bồi thường thiệt
hại.
Thứ hai, thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài
của người gây ra thiệt hại, điều này có nghĩa là thiệt hại mà chủ thể vi phạm gây ra
lớn hơn gấp nhiều lần so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt và lâu dài của họ bao
13

Xem: Điểm b, Mục 2, Phần I, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

17

SVTH: Phan Văn Dư



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status