LUẬN văn sư PHẠM địa vấn đề CHỦ QUYỀN của VIỆT NAM đối với QUẦN đảo HOÀNG SA và TRƯỜNG SA - Pdf 48

Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM ĐỊA LÍ
--------------------&--------------------

NGUYỄN VĂN NHIỀU
MSSV: 6075649

VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM ĐỊA LÍ KHÓA 33
MÃ SỐ: 16

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
CHÂU HOÀNG TRUNG

Cần Thơ, 05/05/2011
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

LỜI CẢM ƠN
Khi tôi bước chân vào trường Đại học Cần Thơ, Bộ môn Địa Lí lòng tôi tràn đầy tự
hào và hãnh diện. Khi đó tôi muốn nói với Cha, Mẹ tôi rằng “con đã làm được và không

Sinh viên thực hiện

NGUYỄN VĂN NHIỀU

GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC BẢNG
DANH SÁCH GIẢI THÍCH CÁC TÙ VIẾT TẮT, THUẬT NGỮ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................ 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .......................................................................................... 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ................................................................................... 2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ................................................................................ 2
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 2
5. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................................................. 2
6. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU ................................................................................ 2
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................................... 3

PHẦN NỘI DUNG..................................................................................... 4
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA ........................ 4
1.1 Vùng biển – đảo nước ta ....................................................................................... 4

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

2.1.3.3 Từ thời X ã Hội Chủ Nghĩa đến nay................................................................... 24
2.1.4 Một số tư liệu nước ngoài, Điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ................................................................. 27
2.1.4.1 Những bằng chứng thuyết phục của Việt Nam từ ngoài nước ............................ 27
2.1.4.2 Những tư liệu phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa................................................................................................ 28
2.1.4.3 Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa......................................................................................... 28
2.2 Cơ sở pháp lí ......................................................................................................... 32
2.2.1 Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối
với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa......................................................... 32
2.2.2 Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến Việt Nam cộng hòa................. 34
2.2.3 Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943....................................................................... 37
2.2.4 Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 ...................................................................... 37
2.2.5 Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8-9-1951 ................................................ 37

Chương 3: QUAN ĐIỂM, LẬP TRƯỜNG VÀ ỨNG XỬ CỦA ĐẢNG & NHÀ
NƯỚC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HAI QUẦN
ĐẢO ............................................................................................... 40
3.1 Tranh chấp chủ quyền ................................................................................ 40
3.1.1 Việt Nam phản đối Trung Quốc, Đài Loan xâm phạm chủ quyền trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa ....................................................................................... 40
3.1.1.1 Phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo


DANH MỤC HÌNH
Trang

1. Hình 2.1: Địa đồ trong cuốn“Quảng Đông toàn đồ” ở tờ 2, quyển 350 .................... 30
2. Hình 2.2: Địa đồ trong cuốn “Quảng Đông toàn tỉnh tổng đồ” ở trang 3, quyển 3 ... 31
3. Hình 2.3: Địa đồ trong cuốn “Quỳnh Châu phủ toàn đồ” ở trang 22, quyển 3 ......... 31
4. Hình 3.1: An Nam Đại Quốc họa đồ ......................................................................... 46

GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

DANH SÁCH GIẢI THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT, THUẬT NGỮ
1. Từ “B” là: Bắc – Bắc bán cầu.
2. Từ “Đ” là: Đông – phía Đông.
3. Từ “km/km2” là kilomet/kilomet vuông - đơn vị đo khoảng cách.
4. Từ “m” là: Mét – đơn vị đo khoảng cách.
5. Từ “mm” là: milimet – đơn vị đo khoảng cách.
6. Các kí tự ‘I, II, III, IV…..XV, XVI, XVII, XVIII, XIX, XX…: là số La Mã.
7. Từ “TB” là: trung bình.
8. Kí hiệu “0C” là: đơn vi đo nhiệt độ.
9. Kí hiệu “%” là: phần trăm.
10.Từ “kg” là: kilogam – đơn vị đo khối lượng.
11. Từ “UNCLOS” là: United Nations Convention on the Law Of the Sea - Công ước
Quốc tế về luật biển.


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đây là một vấn đề hết sức nóng bỏng và nhạy cảm mà đặc biệt là mổi người hễ là
con dân đất Việt đều cần nên biết đến và tìm hiểu. Bên cạnh biết và tìm hiểu mỗi người
chúng ta còn cần nắm rỏ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với đất nước như câu nói
của Bác đã nói “Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cù ng nhau giữ lấy
nước”, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu trên mọi lĩnh vực để tìm ra những
bằng chứng khẳng định chủ quyền của Ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa. Bên
cạnh đó chúng ta cũng cần phải theo dõi các thông tin đại chúng thườn g xuyên để nắm rỏ
tình hình chính trị của quốc gia để chúng ta có thể có một tinh thần chuẩn bị và tuyên
truyền cho người dân được nắm rỏ, tuy chính phủ và nhà nước luôn tìm mọi phương cách
để giải quyết bằng hòa bình.
Vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề vô cùng phức
tạp và căng thẳng giữa các quốc gia có liên quan. Đây không còn là vấn đề giữa các quốc
gia nữa mà nó đã trở thành vấn đề của khu vực và của cả thế giới. Nó đã thu hút rất nhiều
các nhà Bác học, khoa học trên toàn thế giới để phân tích, tìm hiểu, nghiên cứu… để có
thể đưa ra được một cách giải quyết hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia.
Là một sinh viên Sư Phạm Địa Lí và là con dân đất Việt, với một tâm hồn tràn đầy
nhiệt quyết và tin thần yêu nước vô ngần thì không thể không biết đến vấn đề đang nóng
bỏng và hết sức nhạy cảm của quốc gia như vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay. Vì
vậy, tôi không thể bỏ qua một cơ hội tìm hiểu vấn đề này trong khi có bạn bè và thầy cô
luôn bên cạnh tôi giúp tôi thêm nhiều kiến thức cần thiết cho bài nghiên cứu của tôi.
Nghiên cứu vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
không chỉ để biết, hiểu mà còn là cơ sở để tuyên truyền cho người dân được biết và là cơ
sở để tôi giảng dạy cho học sinh, cho thế hệ mai sau biết được chủ quyền của Ta trên hai
quần đảo là hoàn toàn chính đáng và đúng với luật pháp quốc tế hiện hành, từ đó làm cho
các hế hệ mai sau càng thêm yêu nước và tinh thần dân tộc càng cao.

dựng lòng tin của mọi người trước sự cám dỗ của các bài báo, tin đồn…không rỏ nguồn
gốc và những kẻ xúi giục trái pháp luật làm ảnh hưởng đến nhà nước, để người dân nâng
cao tinh thần và cảnh giác hơn trước những thông tin sai lệch đó.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đi vào tìm hiểu lịch sử và các tài liệu có ghi nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tìm các bài báo, hội nghị khẳng định quan điểm và lập trường của Ta về hai quần
đảo.
Sưu tầm, tập hợp các sơ đồ, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam là đúng sự
thật.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Với đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về các tài liệu có liên quan để minh chứng cho chủ
quyền của Việt Nam trên hai quần đảo là đúng sự thật và đúng với Luật của Quốc tế.
5. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hoàng Sa - Trường Sa là một vấn đề vô cùng phứt tạp, căng thẳng và rất nhạy cảm.
Trong khi Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.
Bên cạnh đó có đến 6 quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philipin, Brunây,
Malayxia đồng tuyên bố chủ quyền một phần trên quần đảo Trường Sa trong khi các
đường phân cách chủ quyền chồng chất lên nhau.
6. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài “Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa” là một đề tài vô cùng nhạy cảm và mang tính thời sự cao. Do đó, để nghiên cứu vấn
đề này là hết sức khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên đây là vấn đề rất hay, rất độc đáo và
thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là trong giai đoạn căng thẳng như hiện nay. Đòi
hỏi mổi quốc gia phải có tinh thần giải quyết trên cơ sở hòa bình, hữu nghị để không ảnh
hưởng đến tinh thần hữu nghị giữa các nước láng giềng và trong khu vực. Vì vậy, nên đưa
vấn đề tranh chấp giải quyết theo luật pháp Quốc tế là phương cách hữu hiệu nhất.

GVHD: Châu Hoàng Trung


lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện
tích đất liền: l triệu km2/330.000km2).
- Trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp
thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.
- Có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á
với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển.
- Có khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt.
- Có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm.
* Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực
tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân.
1.1.1 Tiềm năng và tầm quan trọng của biển
+ Về kinh tế.
- Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác
nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài. Trữ lượng cá ở vùng biể n nước ta
khoảng 3 triệu tấn/năm.
- Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng
cao và là nguồn dược liệu phong phú.
- Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con,
thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm. Muối ăn chứa trong nước
biển bình quân 3.500gr/m2.
- Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong
vùng triển vọng có dầu khí. Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể
chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông. Có thể khai thác từ 30-40 ngàn
thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của
toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có khí
đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m 3/năm.
- Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với
3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải sản.
Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương,

quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa,
Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô,
Bạch Long Vĩ...
+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Đó là các đảo
như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.
+ Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ
trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà,
huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn
Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên
Giang)...
+ Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc ta.
1.1.3 Vịnh Bắc Bộ
- Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc.
- Diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp
nhất khoảng 220km. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký tháng 12/2000 giữa Việt Nam
và Trung Quốc đã xác định biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân,
cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong
Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể theo mực nước trung bình thì ta được 53,23%, Trung
Quốc được 46,77% diện tích Vịnh.
- Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m.
Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gần đảo
Hải Nam của Trung Quốc.
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Baseline of Territorial waters, 12 tháng 11 năm 1982) thì khoảng cách đến bờ Cù lao Ré
thu ngắn lại dưới 121 hải-lý.
Từ đảo Tri Tôn này đến Mũi Ba Làng An (Cap Batangan 15°14'B, 108°56'Đ) tức đất
liền lục địa Việt Nam, khoảng cách đo được 135 hải lý.
Trong khi đó, khoảng cách đảo gần nhất tới bờ đảo Hải Nam xa tới 140 hải lý (đảo
Hoàng Sa 16°32B, 111°36 Đ và Ling Sui hay Leong Soi là 18°22 B, 110°03 Đ).
Khoảng cách từ Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Hoa còn xa hơn rất nhiều, tối thiểu là
235 hải lý.
Đoạn bờ biển từ Quảng Trị chạy dài xuống tới Quảng Ngãi đối mặt với các đảo
Hoàng Sa luôn hứng gió Mùa Đông Nam hay Đông Bắc thổi về nên thường tiếp nhận các
thuyền bị bảo làm hư hại ở vùng biển Hoàng Sa. Các Vua, Chúa Việt Nam hay chu cấp
phương tiện cho các thuyền bị nạn ấy về nước, nên họ thường tìm cách tạt vào bờ biển
của Việt Nam để nhờ cứu giúp. Chính vì thế Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết
đến, hết sức quan tâm, cùng xác lập và thực thi chủ quyền của mình.

GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trong khoảng 30 đảo, đá, bãi, cồn, hòn…hiện có 23 đã được đạt tên, gồm 15 đảo, 3
đá, 3 bãi, 1 cồn, 1 hòn. Các đảo trên kh ông cao, cao nhất là đảo hòn đá, thấp nhất là đảo
Tri Tôn. Các đảo chính gồm 2 nhóm:
+Nhóm Lưỡi Liềm ở phía Tây Nam của quần đảo.
+Nhóm An Vĩnh ở phía Đông Bắc của quần đảo.
1.2.1.1 Nhóm Lưỡi Liềm
Nhóm Lưỡi Liềm còn gọi là nhóm Trăng khuyết hay Nguyệt Thiềm, theo Sơn Hồng

bằng bãi cát dài. Một vài bản đồ địa chất ghi Quang Hòa thành hai đảo Quang Hòa Đông
và Quang Hòa Tây.
Quang Hòa Đông có rừng cây nhàu, một loại cây dùng để làm thuốc thường thấy ở
Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam. Cây Phosphorite mọc ở phía Tây của Đảo, nhiều cây cao
đến 5m. Phần đảo phía Đông trơ trụi chỉ có dây leo sát mặt đất. Chu vi của đảo khoảng
2700m, diện tích khoảng 0,48km2.
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quang Hòa Tây là một đảo nhỏ, gần như hình tròn, chu vi khoảng 1000m, diện tích
khoảng 0,09km2, cũng có những loại cây như đảo Quang Hòa Đông nhưng chỉ cao
khoảng 3m.
- Đảo Quang Ảnh: nằm ở tọa độ 111036’Đ, 16027’B do san hô tạo thành, nhô lên
mặt nước độ 6m, nơi cao nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm. Xung quanh đảo, bờ biển có
nhiều đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm tàu lớn không thể cặp neo được. các tàu lớn phải
neo ở ngoài khơi, muốn vào phải sử dụng thuyền nhỏ. Vì địa thế hiểm trở và trên đảo
không có nước ngọt nên ít vết chân người lui tới.
Đảo mang tên Phạm Quang Ảnh, một đội trưởng Hoàng Sa được vua Gia Long sai
đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa năm 1815, hiện có hậu duệ và nhà thờ họ ở Cù Lao Ré.
Đảo hình bầu dục, hơi tròn, chu vi khoảng 2100m, diện tích khoảng 0,3km 2. Có một
số cây lớn mọc ở giữa đảo cao đến 5m. Ở phía ngoài của đảo có các cây Phosphorite và
một loại cây khác giống cây mít nhưng không có trái.
1.2.1.2 Nhóm An Vĩnh
Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn và cao nhất thuộc quần đảo
Hoàng Sa, cũng là các đảo san hô lớn nhất cử biển Đông. Đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm.

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hai hòn đảo này như sinh đôi nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa, ngang vĩ độ
với Phan Rang (Ninh Thuận). Chính vì có vị trí này mà đội Bắc Hải hoạt động ở vùng này
từ cuối thế kỉ XVII lấy xuất đinh từ tỉnh Bình Thuận. Trên đảo có những cây cao trung
bình, nhiều phân chim có thể chế biến thành phân bón. Vòng quanh hai đảo này, về phía
Đông và Nam khoảng 5 hải lý có nhiều mỏm đá ngầm. Rong biển mọc rất nhiều ở đây.
Song Tử Đông hơi tròn, chiều dài khoảng 900m, rộng 250m, cao độ 3m, có nhiều
bãi cát và san hô bao quanh, nhiều cây cối, có một số cây dừ. Năm 1963, Việt Nam cộng
Hòa có xây dựng bia chủ quyền. Năm 1968, bị Philipin chiếm đóng.
Song Tử Tây hìnhlưỡi liềm, diện tích nhỏ hơn Song Tử Đông, dài 700m, rộng 300m,
có nước ngọt, có một vườn dừa và nhiều cây nhỏ. Có tháp ra đa thời Việt Nam Cộng Hòa.
Hiện Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đang chấn giữ cả hòn đảo.
Cum Song Tử cón có Đá Bắc, Đá Nam, phía Đông cụ Song Tử còn có nhiều bãi cạn
Đinh Ba ở phía Bắc và baic Núi Cầu ở phía Nam.
1.2.2.2 Cụm dảo Thị Tứ: ở phía Nam cụm Song Tử, gồm đảo Thị Tứ và các bãi Đá.
Đảo Thị Tứ nằ ở phía Đông Bắc của đảo Trường Sa với tọa độ: 114 017’Đ –
11002’7’’B. Do san hô tạo thành lẫn với các trắng và đá vôi. Đảo hình bầu dục, dài 700m,
rộng 550m, có giếng nước ngọt.Trên đảo có nhiều cây mù u, cây bàng, nhiều dây leo
chằng chịt. Xung quanh đảo có nhiều rong biển và các bãi đá ngầm. Quanh đảo có nhiều
cá, đồn đột, rong biển.
Phía Bắc đảo Thị Tứ gồm đá Hoài Ân, đá Tri Lễ, đá Vingx Hảo, đá Cái Vung…
Phía Nam đảo Thị Tứ gồm đá Xu Bi cách đảo Thị Tứ khoảng 14 hải lý.
1.2.2.3 Cụm đá Loai Ta: Nằm ở phía Đông cụm Thị Tứ, gồm đảo Loai Ta phía dưới và
cồn san hô lancan hay An Nhơn ở phía Đông. Cụm đảo Loai Ta có tọa độ: 114024’8’’Đ –
10040’7’’B, đảo hình tròn có đường kính 300m, cao khoảng 2m, có nhiều cây lớn mọc

xây dựng sân bay dài 800m.
Đảo không có cây lớn, nhiều nhất là nam sâm có dược tính, các loại rau sam, muốn
biển. Có loại chim hải âu trắng, sơn ca, chim én. Có giếng nước ngọt, khá sâu, khoảng
3m, song lại có mùi tanh của san hô.
1.2.2.7 Cụm đảo An Bang: nằm phía Nam cụm đảo Trường Sa, có 1 đảo và các bãi, đá: đá
Ba Kè, bãi Đất, bãi Đinh, bãi Vũng Mây, bãi Thuyền Chài, đá Hà Tần, đá Tân Châu, đá
Lục Giang, đá Long Hải, đá Trăng Khuyết, đá Công Đo, đá Kỳ Vân, bãi Kiệu Ngựa, đá
Hoa Lau, đá Sắc Lốt, đa Louisa.
Đảo duy nhất là đảo An Bang (112054’2’’Đ - 7052’2’’B), đảo An Bang giống như
một cái túi đáy nằm ở phía Đông và miệng thắt lại ở phía Tây. Đảo tương đối nhỏ và dài,
chỉ rộng 20m so với chiều dài 200m, cao 2m so với mực nước biển lúc ròng. Ngoài những
cỏ dại rất thấp, không có cây cao bóng mát nào.
1.2.2.8 Cụm đảo Bình Nguyên: nằm ở phía Đông, gồm đảo Bình Nguyên ( 115049’5’’Đ 10049’B) và đảo Vĩnh Viễn (115048’Đ - 10044’B). Phía Nam đảo Vĩnh Viễn có đá Hoa,
đá Đít Kim-Sơn, đá Đin, đá Hàn Sơn, đá Pét, cồn san hô Giắc-Xôn, về phía Nam xa hơn
nữa có đá Vành Khăn, bãi Cỏ Mây, bãi Cạn Suối, đá Bốc Xan, bãi cạn Sa Bin. Phía Đông
cụm đảo Bình Nguyên và đảo Vĩnh Viễn có đá Hợp Kim, bãi Mỏ Vịt, đá Ba Cờ, đá Khúc
Giác, đá Gò Già, bãi cạn Nam, đá Chà Và, bãi cạn Nâu, bãi cạn Rạch Vang, bãi cạn Rạ ch
Lấp, bãi cạn Na Khoai,…
Tóm tắt chương 1
Qua tìm hiểu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho ta thấy: đây là hai quần
đảo hết sức quan trọng cả về tiềm năng kinh tế, khoáng sản, du lịch, Quốc phòng.vv.. vì
thế, vấn đề bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo là hết sức quan trọng và cần thiết nhất là
trong tình hình chính trị hiện nay. Bởi đây là hai quần đảo chiến lượt về chính trị và nằm
trong vùng biển chiến lượt về kinh tế nên vấn đề tranh chấp là khó tránh khỏi, vì vậy đòi
hỏi các quốc gia trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng phải hết sức cẩn trọng
trong việc ứng xử và hành động vì đây là vấn đề liên quan đến lãnh thổ, liên quan đến
chính trị nên rất nhạy cảm. Đòi hỏi các nước phải tuân thủ và giải quyết trên tinh thần hòa
bình, hữu nghị và theo luật pháp Quốc tế nói chung và Luật Biển năm 1982 nói riêng để
có thể giữ được hòa bình trong khu vực, cùng nhau hợp tác và phát triển.
Tuy nhiên Việt Nam có đầy đủ bằng chứng để khẳng định chủ quyền của mình trên

kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh cãi về lãnh thổ được giải
quyết hay các nước tham gia đạt được thỏa thuận chung.
Một động cơ khác để tranh chấp là trữ lượng khai thác cá thương mại của vùng biển
quần đảo Trường Sa. Vào năm 1988, Biển Đông chiếm 8% tổng số lượng đánh bắt cá và
hải sản của thế giới, một con số chắc chắn còn có thể tăng lên. Trung Quốc đã dự đoán
rằng Biển Đông chứa lượng cá và các nguồn dầu mỏ, khí gas tự nhiên có giá trị lên đến
một nghìn tỷ đôla. Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa Philippin và các nước khác đặc biệt là Trung Quốc - về những tàu đánh cá nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh
tế của họ và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc.
Vùng này cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế
giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa ,
và hiện tại hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới chạy qua vùng biển này hàng
năm. Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Đông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh
Suez và gấp năm lần lượng tàu qua kênh đào Panama; gần 20% lượng dầu thô trên thế
giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông.
Có nhiều ám chỉ rằng Trung Quốc đã sáp nhập và chiếm các đảo không phải chỉ vì
mục tiêu khai thác tài nguyên mà còn để giám sát các hoạt động trên biển Đông. Ví dụ, đá
Vành Khăn là một điểm lý tưởng để quan sát các tàu của Hải quân Mỹ chạy qua vùng
biển phía tây Philipin. Việc Trung Quốc chiếm đảo này cũng có thể có mục đích đối chọi
với Đài Loan hơn là với Philipin bởi vì Trường Sa nằm ngang vùng biển thiết yếu của Đài
Loan. Đó cũng có thể chỉ đơn giản là một nỗ lực của Trung Quốc nhằm thông báo sự
củng cố quyền bá chủ trong vùng của họ.
Một xô xát diễn ra liên quan tới một tàu dân sự vào ngày 10 tháng 4 năm 1983, khi
một du thuyền của Đức bị bắn chìm. Không ai bị coi là chịu trách nhiệm về vụ này.
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

đầu tiên ở đảo ngầm Mischief, 130 dặm biển ngoài khơi Palawan. Việc này thúc đẩy
chính phủ Philipin đưa ra một kháng cáo chính thức đối với sự chiếm đóng hòn đảo của
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Hải quân Philipin bắt giữ sáu mươi hai ngư dân Trung
Quốc ở bãi cát ngầm Half Moon, cách Palawan 80km. Một tuần sau, sau sự xác nhận
của Fidel Ramos về việc ra lệnh tăng cường cho các lực lượng quân sự trong vùng, Cộng
hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng kết cấu đó là các chòi tạm dành cho ngư dân.
Tiếp theo sự tranh cãi đó, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước thành
viên ASEAN, với sự môi giới của ASEAN, đã đạt được một thoả thuận rằng một nước sẽ
thông báo tới các nước còn lại về hành động quân sự của mình bên trong vùng lãnh thổ
tranh chấp và sẽ không tiến hành xây dựng thêm các công trình. Thoả thuận nhanh chóng
bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Malaysia xâm phạm. Tuyên bố rằng vì bị hư hại do
bão, bảy tàu Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến vào vùng đó để sửa "các chòi ngư dân"
ở đảo ngầm Panganiban. Malaysia xây dựng một kết cấu trên Investigator Shoal và đổ bộ
tại đảo ngầm Rizal, cả hai chỗ này đều nằm bên trong vùng EEZ của Philipin. Để trả đũa
Philipin trao phản đối chính thức, yêu cầu dỡ bỏ các kết cấu đó, tăng cường tuần tra hải
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

quân ở Kalayaan và mời các nhà chính trị Mỹ tới giám sát các căn cứ của Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa bằng máy bay.
Tới năm 1998, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiếp tục sự sáp nhập các đảo của
mình, đặt các cột mốc lãnh thổ hay phao trên bãi cát Thomas thứ nhất và thứ hai, bãi cát
Pennsylvania, bãi cát Half Moon và đảo san hô vòng Sabina cùng đảo Jackson, vùng quần
đảo Trường Sa được đưa vào danh sách một trong tám điểm nóng xung đột trên thế giới.
Cuối năm 1998, các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bao quanh các tiền đồn

là kế hoạch lâu dài chứ không phải trước mắt.
Trung Quốc ngày càng gây hấn bằng vũ lực trên quần đảo Trườn g Sa. Vào tháng 4
năm 2007 Trung Quốc đã bắt 41 ngư dân Việt Nam và chỉ trả tự do cho họ sau khi những
người này nộp phạt. Đến ngày 9 tháng 7 tàu Hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số
thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, c ách Thành phố
Hồ Chí Minh 350 km làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, ít nhất một ngư dân
thiệt mạng và một số người khác bị thương. Nguyên nhân chính dẫn tới các mâu thuẫn
GVHD: Châu Hoàng Trung

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

gữa hai nước là trữ lượng trên 600 triệu thùng dầu của Việt Nam mà Trung Quốc tuyên bố
nằm trong vùng biển chủ quyền trong khi giá dầu thô có thể tăng lên đến 100USD vào
cuối năm 2007. Phía Việt Nam cũng đã cho hai tàu chiến cơ động BPS-500 do Nga thiết
kế lập tức đến hiện trường nhưng phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trun g Quốc.
Mặc dù báo chí Việt Nam tránh đưa tin sự kiện trên nhưng sau đó Thứ trưởng Ngoại giao
Việt Nam Vũ Dũng đã đến Bắc Kinh từ 21-7 tới 23-7 để bàn về các vấn đề biên giới, đặc
biệt là trên biển.
Việt Nam tuyên bố chủ quyền
Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với đảo dựa trên vị trí lịch sử và trên nguyên tắc
thềm lục địa. Các bản đồ địa lý cổ Việt Nam ghi chép Bãi Cát Vàng để chỉ cả Hoàng
Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII.
Trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Quý Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa
được định nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Trong bộ quốc sử Đại Nam thực lục của triều Nguyễn có ghi chép từ năm 1711
chúa Nguyễn Phúc Chu cho người ra đo độ dài ngắn rộng hẹp bãi cát Trường Sa

SVTH: Nguyễn Văn Nhiều
MSSV: 6075649


Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

giành chủ quyền với Pháp về quần đảo, đưa ra bằng chứng về việc khai mỏ phosphat của
các công dân Nhật.
Năm 1939 - Nhật tuyên bố ý định đặt quần đảo dưới quyền tài phán của họ. Pháp
và Anh phản đối và tái xác nhận sự tuyên bố chủ quyền của Pháp.
Năm 1941 - Nhật dùng vũ lực chiếm quần đảo và tiếp tục kiểm soát nó tới cuối thế
chiến thứ II, cai quản vùng này như một phần của Đài Loan. Một căn cứ tàu ngầm được
thiết lập ở đảo Ba Bình.
Năm 1945 - Sau khi Nhật Bản đầu hàng cuối thế chiến thứ II, Pháp và Cộng hoà
Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Trung Quốc gửi quân
tới đảo và đổ bộ xuống phá bỏ các mốc chủ quyền.
Năm 1946 - Pháp gửi tàu chiến tới quần đảo nhiều lần nhưng không tìm cách tấn
công các lực lượng Trung Quốc.
Năm 1947 - Pháp yêu cầu Trung Quốc rút khỏi quần đảo.
Năm 1948 - Pháp ngừng các chuyến tuần tra trên biển gần quần đảo và Trung Quốc
rút đa số lính của họ.
Năm 1951 - Sau Hội nghị San Francisco năm 1951 về Hiệp ước Hoà bình với Nhật
Bản, các phái đoàn từ Việt Nam, ở thời điểm đó, vẫn thuộc sự kiểm soát của Pháp – tuyên
bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1954 - Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm
thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Trườn g Sa nằm ở phía Nam vĩ
tuyến 17, được giao cho Chính quyền miền Nam Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng
đầu) quản lý. Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa kế thừa chính quyền Bảo Đại quản lý quần
đảo này.
Năm 1956 - Tomas Cloma, giám đốc Học viện hải dương Philipin tuyên bố chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status