Chủ quyền của việt nam đối với hai quần đảo hoàng sa và trƣờng sa - Pdf 39

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa
Lê Quang Thành
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Đỗ Hoà Bình

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có vùng biển rộng, bờ biển dài với hàng
trăm đảo, quần đảo lớn nhỏ gần bờ và xa bờ chạy dọc theo chiều dài đất nước. Đặc
biệt, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng
không chỉ với Việt Nam mà còn có vị trí địa chính trị cực kỳ quan trọng đối với cả
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Từ lâu, Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện
chủ quyền đối với hai quần đảo này và Việt Nam có đủ những bằng chứng lịch sử
và pháp lý để chứng minh quan điểm, lập trường đó của mình.
Ngày nay trước nguy cơ nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn
kiệt, các quốc gia đang từng bước dịch chuyển, tăng cường hướng quan tâm của
mình ra biển và đại dương. Không phải ngẫu nhiên mà người ta coi thế kỷ 21 là thế
kỷ của Đại dương. Xu thế tiến ra biển, chiếm lĩnh và khống chế không gian biển,
sử dụng và khai thác biển đang trở thành xu thế chung của cả nhân loại. Khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Biển Đông cũng không nằm ngoài quy luật
đó. Mặt khác, phân tích trên khía cạnh lợi ích nhiều mặt có thể đạt được từ việc
làm chủ được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bất kỳ quốc gia nào ven bờ
Biển Đông đều mong muốn thiết lập được chủ quyền của mình trên hai quần đảo
này.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, trong vùng Biển Đông đã và đang tồn tại
những tranh chấp về chủ quyền rất phức tạp và kéo dài. Tình hình tranh chấp này
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, quốc phòng, sự phát triển của Việt


Nam mà còn ảnh hưởng đến cả hoà bình, ổn định và phát triển của toàn bộ khu
vực.
Hơn bao giờ hết, vấn đề tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo, đang

hồ và đặt cho chúng một cái tên gọi chung. Người Việt thường gọi là Bãi Cát Vàng
hay Cồn Vàng hoặc về sau này gọi là Hoàng Sa hoặc Đại Trường Sa hay Vạn Lý
Trường Sa (phiên âm theo tiếng Hán). Người phương Tây, cụ thể là người Bồ Đào
Nha gọi là Parcel hay Pracel (theo tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là: đá ngầm). Cho
đến thế kỷ XVII hai quần đảo vẫn được vẽ gộp lại dưới tên gọi chung Paracel, nằm
dọc sát bờ biển miền Trung Việt Nam. Mãi đến năm 1787 - 1788, đoàn khảo sát
Kergariou Locmaria mới xác định được một cách rõ ràng và chính xác vị trí của
quần đảo Paracel như hiện nay. Từ đó, người phương Tây mới bắt đầu phân biệt
quần đảo Paracel ở phía Bắc với quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên
40 của thế kỷ XX người Pháp mới đặt tên là Spratly để chỉ chung cho quần đảo
Trường Sa. Trung Quốc, một bên tham gia tranh chấp chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặt tên cho hai quần đảo này là “Tây Sa” và “Nam Sa”.
Một điều hết sức đặc biệt là có sự nhất quán hết sức rõ ràng giữa danh xưng
quần đảo tên Việt và tên phương Tây. Giám mục Tabert đã từng ghi chú trên bản
đồ “An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ” với hàng chữ Paracel seu Cat Vang. (seu: tiếng
Latinh có nghĩa: hoặc là) [20,tr.2]. Ở Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác đều
không hề có các khái niệm này. Chỉ có ở Việt Nam mới chắc chắn có tên gọi Cát
Vàng hay Hoàng Sa để chỉ Paracel do người phương Tây đặt tên. Điều này là một


bằng chứng xác thực chỉ ra rằng ít nhất từ đầu thế kỷ XIX, người phương Tây đã
xác nhận Paracel là Cát Vàng, tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Một điểm
khác biệt nữa cần phải nhấn mạnh là tên gọi Hoàng Sa được người Việt đặt tên với
mục đích xác lập chủ quyền, còn người phương Tây và cả người Trung Quốc đặt
tên xuất phát từ nhu cầu hàng hải. Tên gọi Hoàng Sa do người Việt đặt còn đồng
thời dùng để chỉ tên một tổ chức do Nhà nước phong kiến Việt Nam thành lập
nhằm khai thác và kiểm soát, làm chủ các hải đảo mang tên Hoàng Sa hay Cát
Vàng. Như vậy, đây cũng có thể coi là một bằng chứng xác thực chứng minh việc
xác lập chủ quyền của người Việt trên các quần đảo này [20,tr.2].
1.1. Quần đảo Hoàng Sa.

trống.
+ Đảo Quang Hoà là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm. Chung quanh
đảo là bãi cát màu vàng, vành san hô bao quanh đảo lan ra rất xa khỏi bìa đảo.
Cạnh đảo có những hòn đảo nhỏ, nối với nhau bằng những bãi cát vàng trải dài.
Nhiều tài liệu địa lý ghi lại và chia đảo Quang Hoà thành hai đảo là Quang Hoà
Đông và Quang Hoà Tây. Tổng diện tích của đảo khoảng 57 ha.
+ Đảo Quang Ảnh là nơi nhô lên cao nhất so với mực nước biển trong nhóm
đảo Lưỡi Liềm. Đảo mang tên một vị đội trưởng đội Hoàng Sa là Trần Quang Ảnh,
được vua Gia Long sai ra đảo để đo đạc thuỷ trình vào năm 1815. Đảo có hình bầu
dục, hơi tròn, có diện tích khoảng 3ha [20,tr.10].
+ Trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ngoài năm đảo chính nêu trên còn có một số
đảo nhỏ khác đó là: đảo Ba Ba; đảo Lưỡi Liềm; đá Hải Sâm; đảo Đá Lồi.
B: Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group).
Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn, cao trên mặt nước biển
nhất của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất ở Biển Đông.
+ Đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất trong nhóm đảo An Vĩnh, bề dài khoảng
3.700m và ngang khoảng 2.800m. Trên đảo nhiều cây cối nên gọi là Phú Lâm. Đảo
có cầu tàu lớn, sân bay, đài kiểm báo, và nhiều phương tiện quân sự khác. Ngoài
đảo lớn nhất là Phú Lâm, nhóm An Vĩnh còn có nhiều các đảo, bãi khác như: Đảo
Bắc (North Island); Đảo Nam (South Island); Đảo giữa (Midle Island); Đảo đá
(Rocky Island); Cồn Cát Tây (West Sand) [20, tr.10].
+ Cụm đảo Linh Côn.
Cụm đảo Linh Côn nằm về phía cực Đông của quần đảo Hoàng Sa, các đảo
thuộc nhóm này chỉ là những mỏm san hô, nhấp nhô trên mặt nước biển. Tên đảo


gắn liền với tên một chiếc tàu bị nạn trong khu vực này vào đầu thế kỷ XX. Phía
Nam nhóm Linh Côn có một đảo tương đối giàu tài nguyên hải sản và san hô đó là
đảo Tri Tôn [20,tr.11].
1.1.2. Vị trí địa lý.

đảo chính của cụm này với tên gọi là đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây. Hai
đảo này như sinh đôi, nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa. Trên đảo có cây
cối, với độ cao trung bình, có nhiều phân chim (nguyên liệu làm phân bón). Đảo
Song Tử Đông hình dạng hơi tròn, có diện tích khoảng 0,225km2 . Năm 1963, Việt
Nam Cộng Hoà có dựng tại đây một tấm bia chủ quyền. Năm 1968, Philippine đã
cho quân chiếm đóng đảo này một cách trái phép. Đảo Song Tử Tây hiện do Việt
Nam giữ, có hình dạng lưỡi liềm, diện tích khoảng 0,21km2 , trên đảo có nước
ngọt, hiện vẫn còn một trạm rađa từ thời Việt Nam Cộng Hoà dựng ở đây. Cụm
đảo Song Tử này còn có Đá Bắc và Đá Nam và hai bãi cạn đó là bãi Đinh Ba và
bãi Núi Cầu.
Cụm 2: Cụm đảo Thị Tứ.
Nằm ở phía Nam đảo Song Tử, cụm đảo này gồm có đảo Thị Tứ và một số
bãi đá khác. Đảo Thị Tứ nằm ở phía Đông Bắc của quần đảo Trường Sa, do san hô
tạo thành lẫn với cát trắng và đá vôi. Đảo hình bầu dục, bề ngang 550m, dài 700m,
diện tích khoảng 0,382 km2, có giếng nước ngọt. Trên đảo có cây mù u, cây bàng,
nhiều cây leo chằng chịt. Chung quanh đảo có rất nhiều rong biển và các bãi đá
ngầm. Quanh đảo có nhiều cá, đồn đột, rong biển [20, tr.14].
- Phía Bắc đảo Thị Tứ gồm đá Hoài An, đá Tri Lễ, đá Trâm Đức, đá Vĩnh Hảo, đá
Cái Vung .
- Phía Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi, cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý (đã bị Trung
Quốc chiếm đóng năm 1988)
Cụm 3: Cụm đảo Loại Ta.
Ở phía đông cụm đảo Thị Tứ, gồm đảo Loại Ta phía dưới và cồn san hô Lan
Can hay An Nhơn ở phía Đông. Đảo có hình dạng tròn, đường kính khoảng 300m,
cao hơn so với mặt nước biển chừng 2m, có nhiều cây lớn mọc quanh đảo. Bên
cạnh đó, cụm đảo Loại Ta còn có sự hiện diện của một số bãi và thực thể khác như:
Đá An Lão, bãi Đường, bãi An Nhơn Bắc, bãi Loại Ta và bãi Loại Ta Nam. Phía
Đông đảo Loại Ta còn có đảo Dừa và đá Cá Nhám.
Cụm 4: Cụm đảo Nam Yết hay còn gọi là cụm đảo TiGia


Cụm 7: Cụm đảo An Bang.


Nằm ở phía Nam cụm đảo Trường Sa, đảo An Bang có hình dạng giống như
hình cái túi, đáy nằm ở phía Đông còn miệng thì thắt lại ở phía Tây. Đảo tương đối
dài và nhỏ, dài đến hơn 200m nhưng rộng chỉ khoảng 20m và cao hơn so với mặt
nước biển là khoảng 2m.
Cụm 8: Cụm đảo Bình Nguyên.
Cụm đảo này nằm ở hướng Đông bao gồm có hai đảo là đảo Bình Nguyên
và đảo Vĩnh Viễn. Xung quanh hai đảo này còn có một số đá, bãi và một số vị trí
khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Biên giới Chính phủ (1993), Cơ sở khoa học của việc hoạch định và quản lý
các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Hà Nội.
2. Ban Biên giới Chính phủ và Phân viện Hải dương học tại Hà Nội (1994), Cơ sở
khoa học cho việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam.
3. Ban Biên Giới Chính phủ (2001), Tạp chí biên giới và lãnh thổ số tháng 10, Hà
Nội.
4. Bộ Ngoại Giao (1988), Các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và Luật pháp quốc
tế, Hà Nội.
5. Nhà Pháp Luật Việt – Pháp (1997) - Đại học Luật Hà Nội, Hội Thảo Luật Quốc
tế về Biên giới và lãnh thổ Quốc Gia, Hà Nội.
6. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1996), Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Hà Nội.
7. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2001), Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Hà Nội.
8. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1999), bản song ngữ Anh - Việt, Công ước của
Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Hà Nội.
9. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1992), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
1992, Hà Nội.

23. Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về Luật Biển - NXB Công An
Nhân Dân, Hà Nội.
24. Nguyễn Hồng Thao, Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông - bước
tiến trên con đường thiết lập một bộ quy tắc ứng xử cho khu vực, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 4 năm 2003.


25. Từ Đặng Minh Thu (1998), Cuộc tranh chấp về các quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa các vấn đề pháp lý (bản dịch), Luận văn tốt nghiệp, trường Đại học
Luật kinh tế và Khoa học xã hội Paris - Viện Đại Học Quốc Tế.
26. Trần Công Trục (1996), Hoàn thiện pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các
vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam, Luận án phó Tiến sĩ Luật học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
27. Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về Lãnh hải, tiếp giáp lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ngày 12/05/1977.
28. Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở thẳng ngày
12/11/1982.
29. Tập thể tác giả (1999), Giáo trình Công pháp quốc tế, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
30. Tập thể tác giả (2000), Giáo trình Công pháp Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
31. Tập thể tác giả (1998), Báo cáo khoa học - Đề tài nhánh Các hình thức thụ đắc
lãnh thổ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
33. Viện nghiên cứu Đông Nam Á (2003), Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 03
năm 2003, Hà Nội.
33. Vụ Biển, Ban Biên Giới của Chính phủ (2000), Tài liệu nghiên cứu về phân
định Vịnh Bắc Bộ, Hà Nội.
34. Vụ biển, Ban biên giới của Chính phủ (2002), Tài liệu Hội nghị Luật biển, Hà
Nội.
35. Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại Giao (1999), Quan điểm các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status