1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những tài nguyên mà thiên nhiên đã ƣu ái ban tặng thì đất đai là nguồn
tài nguyên vô cùng quý báu và giá trị. Đó là tƣ liệu sản xuất cho nông – lâm nghiệp
(NLN) là nền tảng để con ngƣời sống cũng nhƣ phát triển. Con ngƣời tác động vào
đất đai để phục cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của chính mình. Nhƣng chính sự tác
động mà không hề có ý thức đã làm cho tài nguyên đất đai ngày càng bị suy giảm
một cách nghiêm trọng. Vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu đặc tính đất đai nhằm quy
hoạch để sử dụng nó một cách hiệu quả đƣợc tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới,
trong đó có Việt Nam.
Hòa Vang là một huyện ngoại thành phía Bắc của thành phố Đà Nẵng với
tổng diện tích hơn 73.488,7 ha gồm 11 xã. Xét trên bình diện chung thì tự nhiên của
huyện Hòa Vang mang tính chất trung gian chuyển tiếp giữa địa hình đồi núi và
đồng bằng với nhiều hình thái khác nhau, trong đó địa hình đồi núi chiếm ƣu thế.
Huyện Hòa Vang hiện nay vẫn lấy nông nghiệp là ngành cơ bản với nghề trồng lúa
nƣớc và trồng rừng là chủ yếu. Tuy nhiên, việc phát triển NLN có sự phân bố không
đồng đều giữa các xã. Các xã ở phía Nam và Đông Nam tuy diện tích đất nông
nghiệp không lớn, chiếm 30,3% tổng diện tích đất nông nghiệp nhƣng lại chiếm đến
68,9% giá trị sản xuất NLN của toàn Huyện. Trong khi đó, 4 xã còn lại ở phía Bắc
gồm Hòa Liên, Hòa Ninh, Hòa Sơn, Hòa Bắc thì có diện tích đất nông nghiệp rất
lớn, chiếm 69,7% tổng diện tích của toàn Huyện nhƣng giá trị sản xuất nông nghiệp
của 4 xã này chỉ chiếm 31,1% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và 22,03% tổng sản
lƣợng lƣơng thực của toàn Huyện. Chính vì vậy mà đời sống của ngƣời dân ở các
xã này còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn. Việc nghiên cứu đánh giá tài nguyên
đất đai cũng nhƣ tìm ra những biện pháp hiệu quả nâng cao vai trò của sản xuất
NLN nhằm cải thiện đời sống của ngƣời dân ở lãnh thổ nghiên cứu là một điều cần
thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và định hƣớng phát triển NLN theo hƣớng
bền vững, đề tài “Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ phát triển nông – lâm
nghiệp ở một số xã phía Bắc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” đã đƣợc lựa
Vang gồm Hòa Liên, Hòa Bắc, Hòa Ninh, Hòa Sơn đƣợc giới hạn trong hệ tọa độ 160
đến 16013’ vĩ độ Bắc và 107049’ đến 108010’ độ kinh Đông.
- Tổng diện tích là 51.229,4 ha, chiếm 69,7% tổng diện tích của huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng.
3
* Về nội dung:
- Việc thành lập bản đồ ĐVĐĐ các xã phía Bắc huyện Hòa Vang đƣợc thực
hiện ở tỷ lệ 1/50.000.
- Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ cho phát triển một số loại cây trồng chủ
yếu đƣợc chọn trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu đã đƣợc lƣợng hóa còn việc phân
tích hiệu quả KTXH và môi trƣờng cũng chỉ dừng lại ở mức độ phân tích định tính là
chủ yếu để từ đó lƣợng hóa bằng phƣơng pháp cho điểm ở từng bậc phân hạng.
4. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài.
a. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở đáng tin cậy giúp cho các chuyên gia, các nhà quản
lý, quy hoạch tham khảo khi tiến hành thực hiện các phƣơng án sử dụng hợp lý lãnh
thổ đồng thời phát triển NLN và kinh tế - xã hội (KTXH) ở lãnh thổ nghiên cứu.
b. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của phƣơng pháp đánh giá tài nguyên
đất đai theo FAO nói riêng và đánh giá tài nguyên nói chung phục vụ cho định
hƣớng sử dụng lãnh thổ hợp lý và phát triển bền vững của lãnh thổ.
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đánh giá tài nguyên đất cho một địa
bàn cụ thể ở cấp xã.
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của
luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đánh giá đất đai cho mục đích phát triển
Nhƣ vậy, có thể hiểu đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và
có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu,
thổ nhƣỡng, thủy văn, sinh vật), KTXH (hoạt động sản xuất của con ngƣời) [2].
1.1.2. Đơn vị đất đai
ĐVĐĐ (Land Units - LU) là một khoanh hoặc vạt đất đƣợc xác định trên bản
đồ ĐVĐĐ với những đặc tính và chất lƣợng tính chất đất đai riêng biệt thích hợp
cho từng loại sử dụng đất, có cùng một điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng
5
sản xuất và cải tạo đất. Mỗi ĐVĐĐ có chất lƣợng riêng và nó thích hợp với một loại
sử dụng đất nhất định [2].
1.1.3. Loại hình sử dụng đất đai
Loại hình sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT) là một kiểu sử dụng đất
đai đƣợc phân định và mô tả bởi các thuộc tính kỹ thuật và KTXH nhƣ: loại cây
trồng, kỹ thuật canh tác, loại và khối lƣợng sản phẩm, lao động, chi phí sản xuất, lợi
nhuận thu đƣợc. Tùy theo mức độ đánh giá đất đai, có thể phân loại sử dụng đất
theo các cấp nhƣ kiểu sử dụng đất đai chính (Major Kind of Land Use), loại sử dụng
đất đai (Land Utilization Type),…[2].
1.1.4. Yêu cầu sử dụng đất đai
Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement – LUR) là những điều kiện
tự nhiên ảnh hƣởng đến năng suất và sự ổn định của loại hình sử dụng đất đai hay đến
tình trạng quản lý và thực hiện loại sử dụng đất đai đó. Những yêu cầu sử dụng đất
đai thƣờng đƣợc xem xét từ chất lƣợng đất đai của vùng nghiên cứu [2].
1.1.5. Hiện trạng sử dụng đất đai
Hiện trạng sử dụng đất thể hiện qua phân bố các loại cây trồng, thảm thực
vật tự nhiên… Đó là kết quả của quá trình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại,
làm tiền đề cho hƣớng phát triển trong tƣơng tai.
Trong phân loại hiện trạng sử dụng đất, các nhóm loại hình sử dụng đất
nông dân; về môi trƣờng là không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ
nguồn nƣớc ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trƣờng.
1.2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.2.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề lý thuyết của đề tài
1.2.1.1. Trên thế giới
Từ những thập niên 50 của thế kỷ trƣớc, việc đánh giá đất đai trong đó chú
trọng đến khả năng sử dụng đất và nƣớc xem nhƣ là bƣớc nghiên cứu kế tiếp của
công tác nghiên cứu về đặc điểm đất. Tuy các nghiên cứu này đƣợc tiến hành ở
nhiều quốc gia nhƣng mỗi nƣớc đều có hệ thống đánh giá riêng của nƣớc mình. Một
số nƣớc thì đánh giá đất đai một cách chung chung và chỉ giới hạn đánh giá ở những
vùng đất có khả năng thích hợp cho trồng trọt, lâm nghiệp, đồng cỏ; một số nƣớc
khác chỉ quan tâm đến đánh giá đất cho một hình thức sử dụng đất nào đó cho thủy
7
lợi. Tuy nhiên, do hệ thống đánh giá riêng lẽ của từng quốc gia nên việc trao đổi kết
quả đánh giá đất đai trên thế giới gặp nhiều khó khăn.
Sau đó, đến năm 1976 phƣơng pháp đánh giá đất của FAO ra đời nhằm
thống nhất các chỉ tiêu đánh giá đất đai trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, FAO cũng
đã ấn hành một số hƣớng dẫn khác nhau về đánh giá khả năng thích hợp đất đai cho
từng đối tƣợng nhƣ: cho nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (1983), cho nông nghiệp có
tƣới (1985), cho đồng cỏ quảng canh (1989)… Đến năm 1990, FAO đã đề nghị
đánh giá đất đai cho sự phát triển NLN theo 8 bƣớc: 1) Xác định mục tiêu đánh giá
2) Thu thập dữ liệu 3)Xác định loại hình sử dụng đất 4) Thành lập bản đồ
ĐVĐĐ 5) Đánh giá thích nghi 6) Xác định các vấn đề KTXH và môi trƣờng
7) Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất 8) Quy hoạch sử dụng đất.
Hiện nay các hƣớng dẫn của FAO đã đƣợc thực hiện ở nhiều quốc gia và trở
thành một khâu quan trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất vùng lãnh thổ. Có
trên các điều kiện tự nhiên (thổ nhƣỡng, thủy văn, tƣới tiêu và khí hậu nông
nghiệp). Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉ dừng lại ở cấp lớp thích nghi
cho từng loại hình sử dụng.
+ Năm 1989, Vũ Cao Thái và các tác giả đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng
đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè và dâu tằm. Đề tài đã vận dụng phƣơng
pháp phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính và thích nghi hiện tại để đánh
giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng.
+ Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện
công tác đánh giá đất trên 9 vùng sinh thái của cả nƣớc với bản đồ tỷ lệ 1/250.000.
Kết quả bƣớc đầu đã xác định đƣợc tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định
việc vận dụng nội dung, phƣơng pháp đánh giá đất đai theo tiêu chuẩn của FAO vào
điều kiện cụ thể ở Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay.
+ Năm 1991 – 1995, trong chƣơng trình quy hoạch tổng thể (Master plan)
vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, khả năng thích nghi của
đất đai đối với các loại hình sử dụng đất phổ biến đã đƣợc nghiên cứu dựa vào
phƣơng pháp phân hạng của FAO. Phƣơng pháp này không những đánh giá toàn
diện điều kiện tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh KTXH.
Qua quá trình phân tích các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai cho phát
triển NLN thì đa số đều thực hiện đánh giá đất đai theo một quy trình chung của
9
FAO. Đơn vị cơ sở để đánh giá là ĐVĐĐ. Mục đích đánh giá là để phục vụ cho các
loại hình sử dụng đất hoặc các kiểu sử dụng đất chính trong NLN [13].
1.2.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu
Những tài liệu và đề tài có liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu có thể tập hợp
theo các hƣớng sau:
- Về nghiên cứu đánh giá đất đai có các công trình của Nguyễn Thị Diệu
(2014) đã tích hợp GIS và AHP trong đánh giá thích nghi đất đai huyện Hòa Vang
1.3. QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG –
LÂM NGHIỆP
1.3.1. Quy trình đánh giá đất đai
Quy trình đánh giá đất đai theo FAO (1983) đƣợc thể hiện qua hình 1.1
1. Xác định mục tiêu
2. Thu thập tài liệu
3. Xác định loại hình sử dụng đất
4. Xác định các ĐVĐĐ
5. Đánh giá mức độ thích nghi
6. Xác định hiệu quả môi trƣờng và KTXH
7. Xác định loại hình sử dụng đất thích nghi nhất
8. Quy hoạch sử dụng đất
9. Ứng dụng đánh giá đất đai
Hình 1.1. Sơ đồ quy trình đánh giá đất đai theo FAO (1983)
11
Các bƣớc trong quy trình trên đƣợc thực hiện hóa nhƣ sau [12]:
1. Xác định mục tiêu
Đây là bƣớc quan trọng trong đánh giá đất đai vì nó xác định trƣớc đƣợc thời
gian và kinh phí thực hiện. Xác định mục tiêu đánh giá nhằm tạo cơ sở cho việc điều
ĐVĐĐ là vạt đất hay khoanh đất có đặc trƣng cụ thể, có thể nhìn thấy và xác
định đƣợc trên bản đồ. ĐVĐĐ là cơ sở cho việc đánh giá, là kết quả của sự chồng ghép
các bản đồ đơn tính nhƣ bản đồ đất, bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
Tùy thuộc vào phạm vi lãnh thổ nghiên cứu, mức độ chi tiết của công tác
đánh giá mà chọn yếu tố chủ đạo khi vạch ranh giới của các ĐVĐĐ. Vì vậy, cần xác
định các ĐVĐĐ và tìm ra mức độ thích nghi tối đa để bố trí sử dụng đất đƣa lại hiệu
quả kinh tế cao, góp phần bảo vệ môi trƣờng.
5. Đánh giá mức độ thích nghi
Mức độ thích nghi là sự phù hợp của ĐVĐĐ nhất định đối với một loại hình
sử dụng đất cụ thể và đƣợc xem xét trong điều kiện hiện tại và tƣơng lai. Theo
hƣớng dẫn của FAO, phân hạng thích nghi đất đai đƣợc chia làm 4 cấp: bậc (order),
hạng (class), hạng phụ (subclass) và đơn vị (unit).
Bảng 1.1. Cấu trúc phân hạng khả năng thích nghi đất đai theo FAO (1976)
Phân hạng (Categories)
Bậc
S – thích nghi
N – không thích nghi
Hạng
Hạng phụ
S1
S2g
S2
công nghiệp ngắn ngày, sổ tay cây nông nghiệp…
Trên cơ sở đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi, kết hợp với việc xem xét
hiệu quả KTXH và môi trƣờng mà lựa chọn loại hình sử dụng đất thích nghi nhất.
8. Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai đƣợc tiến hành bắt đầu từ việc đánh giá đất đai. Trong quá
trình đánh giá thƣờng tập trung vào tiềm năng của các ĐVĐĐ riêng lẻ và cho các
mục đích sử dụng khác nhau nhƣng việc quy hoạch sử dụng đất lại đƣợc tiến hành
trên quy mô tổng thể.
9. Ứng dụng đánh giá đất đai
Mục đích cuối cùng của ĐGĐĐ và quy hoạch đất đai là áp dụng các kết quả
đánh giá, các phƣơng án quy hoạch sử dụng đất vào nhu cầu thực tiễn sản xuất
nhằm đƣa lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Công tác này rất đa dạng và phức tạp nhƣng
nó sẽ tạo nên một hệ thống sử dụng đất phù hợp với hệ thống cây trồng vật nuôi có
thể phát triển riêng lẻ hoặc nuôi trồng xen kẽ với nhau.
1.3.2. Quy trình đánh giá đất đai phục vụ phát triển nông – lâm nghiệp ở lãnh
thổ nghiên cứu
Căn cứ theo quy trình đánh giá đất đai theo FAO, mục tiêu nghiên cứu đặc
điểm lãnh thổ nghiên cứu và thời gian thực hiện đề tài, tác giả tiến hành đánh giá
đất đai ở 4 xã phía Bắc của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng với 8 bƣớc nhƣ
ở hình 1.2.
14
1. Xác định mục tiêu
2. Thu thập tài liệu
3. Xác định các loại hình sử dụng đất chính
nhiên, dựa trên các chỉ tiêu để đánh giá sự phù hợp đối với yêu cầu của các loại hình
sử dụng đơn vị đất đai cho NLN ở lãnh thổ nghiên cứu.
1.4.1.3. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững theo nhƣ Hội đồng Thế giới về Môi trƣờng là phát triển
đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhƣng không ảnh hƣởng đến tƣơng lai trong đáp ứng
nhu cầu của họ. Đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai cần đƣợc tiến hành trên quan
điểm phát triển bền vững về KTXH và môi trƣờng. Vận dụng theo quan điểm này,
trong đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai cho lãnh thổ nghiên cứu đề tài không chỉ
dựa vào các đặc điểm tự nhiên mà còn căn cứ vào cơ cấu quỹ đất theo chỉ tiêu quy
hoạch của thành phố phân bổ cho Huyện, phƣơng hƣớng phát triển kinh tế của Huyện
và của thành phố cũng nhƣ dựa vào phân tích đánh giá hiệu quả KTXH và môi trƣờng
của việc sử dụng đất để xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp nhất phục vụ cho
phát triển NLN nhƣng vẫn đảm bảo sự bền vững về mặt môi trƣờng và xã hội.
1.4.1.4. Quan điểm lịch sử
Khi nghiên cứu một lãnh thổ nào đó, việc xem xét những diễn biến đã xảy ra
trong quá khứ có một ý nghĩa quan trọng. Tự nhiên là một thể thống nhất và hoàn
chỉnh, sự tồn tại và phát triển của các nhân tố tự nhiên này sẽ chịu ảnh hƣởng của
các nhân tố khác và ngƣợc lại. Nếu không hiểu lịch sử phát sinh và phát triển, tồn tại
trong mối quan hệ tƣơng hỗ với các yếu tố khác thì không thể lý giải đƣợc các hiện
tƣợng xảy ra trong tự nhiên cũng nhƣ không thể đƣa ra các giải pháp một cách chính xác.
Để định hƣớng phát triển NLN có tính khả thi, cần nắm đƣợc lịch sử phát
triển các hệ thống cây trồng vật nuôi trong quá khứ và hiện tại. Từ đó lựa chọn
những loại hình sản xuất NLN vừa phù hợp với điều kiện sinh thái, vừa đáp ứng
đƣợc nhu cầu của thị trƣờng.
16
1.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.4.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
các loại cây hàng năm và lâu năm, những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất,
nguyện vọng của các hộ gia đình...
1.4.2.4. Phương pháp tra khảo sát thực địa
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm tìm hiểu về hiện trạng sử dụng đất
thực tế của địa phƣơng, khảo sát các mô hình sử dụng đất đai, kiểm tra đối chiếu
các tài liệu về tự nhiên, KTXH trên thực địa. Trong quá trình khảo sát cần tiến hành
điều tra, tham vấn ý kiến của nhân dân địa phƣơng nhằm thu thập thông tin. Các
nghiên cứu ở thực địa là cơ sở cho việc xác định chỉ tiêu trong đánh giá và đề xuất
loại hình sử dụng đất thích hợp.
Trong quá trình nghiên cứu tuyến khảo sát thực địa nhƣ sau:
- Tuyến Hòa Liên – Hòa Sơn: Trong tuyến này tiến hành xem xét hiện trạng
sử dụng đất nông nghiệp và mức độ phân hóa của đồi núi đồng thời điều tra về hiệu
quả kinh tế trên cơ sở phiếu điều tra và bảng câu hỏi tiến hành phỏng vấn các hộ gia
đình một cách ngẫu nhiên về cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả.
- Tuyến Hòa Ninh – Hòa Sơn: Khảo sát về hiện trạng sử dụng đất NLN đồng thời
tìm hiểu về hiệu quả sản xuất của các loại cây trồng nhƣ khoai, sắn, đậu xanh, ngô, mè.
- Tuyến Hòa Sơn – Hòa Bắc: Khảo sát về hiện trạng rừng trồng và rừng
phòng hộ của khu vực các xã nghiên cứu.
1.4.2.5. Phương pháp đánh giá tài nguyên đất đai
* Đánh giá thành phần
- Đánh giá thích nghi sinh thái
+ Để đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của các ĐVĐĐ đối với một số loại
hình sản xuất NLN đề tài sử dụng bài toán trung bình nhân của ĐL.Armard (1983),
bài toán có dạng:
M0 =
Trong đó:
n
+ Tỷ suất lợi ích chi phí trong năm đƣợc dùng để đánh giá hiệu quả đầu tƣ
của các loại hình sản xuất cây hàng năm và cây lúa.
Đối với cây lâu năm
+ Giá trị hiện tại ròng trung bình/ha/năm (NPV/ha/năm) để đánh giá hiệu quả
kinh tế TB mỗi năm của CLN khi có sử dụng đến hệ số chiết khấu.
+ Tỷ suất lợi ích – chi phí trung bình/năm (BCR/năm) để biết đƣợc hiệu quả
đầu tƣ TB/năm.
𝐵𝑡
(1+𝑟 )𝑡−1
𝐶𝑡
𝑛
𝑡=1 (1+𝑟)𝑡−1
𝑛
𝑡=1
NPV =
Trong đó:
𝐵𝑡−𝐶𝑡
𝑛
𝑡=1 (1+𝑟)𝑡−1
BCR =
19
NPV : Lợi nhuận hiện tại
- Chỉ tiêu về bền vững môi trƣờng: Căn cứ vào mức độ tác động đến môi
trƣờng của các loại hình sử dụng đất thông qua chống xói mòn.
- Chỉ tiêu về bền vững xã hội: Gồm các chỉ tiêu về khả năng cung cấp sản
phẩm cho thị trƣờng, giá trị ngày công lao động trực tiếp của gia đình và chuyển
giao công nghệ.
1.4.2.6. Phương pháp chuyên gia
Đƣợc vận dụng nhằm tham khảo ý kiến của các nhà khoa học về nội dung
mà đề tài nghiên cứu nhƣ việc chọn chỉ tiêu và xác định mức độ thích nghi của các
ĐVĐĐ trong quy hoạch NLN. Ngoài ra phƣơng pháp này còn giúp tham khảo ý
kiến của các nhà quản lý, các cán bộ và ngay cả ngƣời dân địa phƣơng.
Mặc dù mỗi phƣơng pháp có một vai trò riêng và đƣợc nêu tách biệt. Tuy
nhiên trong nghiên cứu các phƣơng pháp này đƣợc vận dụng một cách linh hoạt, kết
hợp với nhau nhằm mang lại kết quả có độ chính xác cao.
20
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Trong chƣơng 1, đề tài tiến hành tổng quan có chọn lọc các tài liệu, công trình
nghiên cứu đánh giá đất đai trên thế giới và ở Việt Nam. Từ đó cho thấy phƣơng pháp
đánh giá đất đai theo FAO rất phù hợp cho mục đích phát triển NLN.
Việc vận dụng quy trình đánh giá đất đai theo hƣớng dẫn của FAO vào lãnh
thổ nghiên cứu đƣợc lựa chọn gồm 8 bƣớc: Xác định mục tiêu, thu thập tài liệu, xác
định các loại hình sử dụng đất, xác định các ĐVĐĐ, phân tích hiệu quả KTXH và
môi trƣờng, xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp nhất, đánh giá mức độ
thích nghi, đề xuất sử dụng đất.
Từ việc phân tích những cơ sở lý luận và đánh giá đất đai cho phát triển
NLN đã xác định đƣợc các quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu phù hợp với đặc
thù các xã phía Bắc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Hòa Bắc
4.137
11,31
2
Hòa Liên
13.928
38,06
3
Hòa Ninh
5.309
14,52
4
Hòa Sơn
13.215
36,11
Hệ thống đƣờng tỉnh ĐT 601, 602 có tổng chiều dài khoảng 50 km nối với
quốc lộ 1A và 14B là các tuyến đƣờng huyết mạch có vai trò rất quan trọng trong
việc phát triển KTXH của địa bàn 4 xã. Tuy nhiên chất lƣợng nhiều đƣờng còn thấp
cần phải nâng cấp và tu sửa [16].
Đây là điều kiện thuận lợi để có thể vận chuyển hàng hóa, nông sản thực phẩm
nội địa. Tuy nhiên do không đƣợc thƣờng xuyên nâng cấp tu bổ nên vào mùa mƣa
đƣờng xá lầy lún hƣ hỏng gây nhiều hạn chế cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa.
2.1.1.4. Thủy lợi
Nhìn chung hệ thống thủy lợi trên địa bàn đã có những bƣớc tiến đáng kể,
khắc phục ảnh hƣởng của thiên tai bằng cách tập trung làm tốt công tác chống hạn.
Tính đến nay, việc phục vụ nƣớc tƣới cho đất sản xuất nông nghiệp trên lãnh thổ
nghiên cứu gồm có một số các công trình thuỷ lợi nhƣ sau:
- Hồ chứa nƣớc Hoà Trung do Công ty TNHH MTV khai thác thuỷ lợi Đà
Nẵng quản lý tƣới cho 344,4 ha đất của 2 xã Hoà Liên và Hoà Sơn.
23
- Hồ chứa nhỏ: Bao gồm 4 hồ chứa ở xã Hòa Sơn với diện tích 2,5 ha chủ
yếu dùng để tƣới lúa và nuôi trồng thủy sản.
- Đập dâng: Tại xã Hòa Ninh có 3 đập với diện tích 13 ha; Hòa Sơn 3 đập với
diện tích 3 ha; Hòa Bắc có 3 đập với diện tích 12 ha; Hòa Liên 4 đập với diện tích 60
ha. Nhằm đáp ứng cho nhu cầu tƣới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp [16].
Đối với khu vực miền núi thì nhu cầu về nƣớc tƣới phục vụ cho sản xuất và
sinh hoạt là vô cùng quan trọng. Hệ thống thủy lợi trên toàn khu vực còn nhiều hạn
chế chƣa thực sự đáp ứng đầy đủ nguồn nƣớc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Vì
vậy, quy hoạch thủy lợi theo định hƣớng lâu dài cho phát triển nông nghiệp bền
vững là hết sức cần thiết.
2.1.1.5. Năng lượng
Nguồn điện cung cấp cho huyện chủ yếu là lƣới điện quốc gia 500 KV thông
53,7% tổng diện tích rừng trồng của toàn huyện góp phần lập lại kỷ cƣơng trong
công tác khai thác, chế biến lâm sản, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phủ xanh đất
trống đồi trọc. Hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp có nhiều
tiến bộ, đã có nhiều mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm cho hàng trăm
lao động, góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn miền núi.
- Công nghiệp và xây dựng: Trong năm 2014, giá trị sản xuất toàn ngành đạt
121,5 tỷ đồng, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm giai đoạn 2012 – 2014 là
30,2%. Riêng trong nhóm Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, thành phần công
nghiệp dân doanh đóng vai trò chủ đạo (62,2 tỷ đồng năm 2014), công nghiệp Nhà
nƣớc, công nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chiếm tỷ trọng rất thấp. Một số sản
phẩm công nghiệp lợi thế nhƣ sản phẩm từ gỗ, gạch Tuynen, đá xây dựng.
- Dịch vụ: Hoạt động thƣơng mại, dịch vụ trên địa bàn năm 2014 tiếp tục
phát triển. Giá trị sản xuất ngành thƣơng mại, dịch vụ đạt 56,9 tỷ đồng, tăng 16,1%
so với năm 2012, trong đó ngành dịch vụ tăng 16,5%, thƣơng mại tăng 15,3%. Tổng
mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ƣớc đạt 186 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2012.
Tiềm năng về dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện dần đƣợc khai thác nhƣ: Khu Du
lịch Bà Nà – Suối Mơ (Hòa Ninh) thu hút đƣợc một lƣợng lớn khách tham quan và
nghỉ dƣỡng [17, 18].
25
Có thể nói rằng, các nhân tố KTXH thƣờng có ý nghĩa quyết định đối với
việc sử dụng đất đai. Phƣơng hƣớng sử dụng đất đƣợc quyết định bởi yêu cầu của
địa bàn và mục tiêu kinh tế đƣợc đề ra trong từng thời kỳ nhất định.
Qua những phân tích ở trên về các yếu tố tác động đến sự hình thành cũng nhƣ
sử dụng đất, ta thấy đƣợc rằng: Điều kiện tự nhiên của đất cho phép xác định khả năng
thích ứng về phƣơng thức sử dụng đất nhƣng sử dụng nó nhƣ thế nào lại phụ thuộc vào
con ngƣời và trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật qua từng thời kỳ.
2.1.2. Hiện trạng sử dụng đất
1. Đất sản xuất NN
1.975
376,2
477
613,6
508,2
- Đất trồng lúa
852,8
95,7
421,1
128,1
207,9
- Đất trồng cây HNK
389,1
242,6
- Đất rừng sản xuất
9.681,5
4.414,5
1.350,8
2.622,3
1.293,9
- Đất rừng phòng hộ
36.013,2
29.004,3
390,9
6.618
-
57,5
10,4
40,6