Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất để bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người BRU vân KIỀU - Pdf 48

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................3
Phần 1.KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU 3
1.1. Khái quát về tỉnh Quảng Trị...................................................................3
1.1.1.Về dân số..................................................................................................3
1.1.2. Về diện tích..............................................................................................4
1.1.3.Về văn hóa................................................................................................4
1.2. Khái quát về tộc người Bru-Vân Kiều...................................................5
1.2.1. Tên gọi ( tộc danh ), dân số, nguồn gốc lịch sử và phân bố dân cư..............5
1.2.2. Đặc điểm văn hóa của dân tộc Bru-Vân Kiều.........................................6
Phần 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN
CỦA TỘC NGƯỜI BRU -VÂN KIỀU........................................................10
2.1. Các hình thức văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều..............10
2.1.1. Dân ca, hát giao duyên.........................................................................10
2.1.2. Nhạc cụ dân gian...................................................................................13
2.1.3. Truyện cổ...............................................................................................15
2.1.4. Âm nhạc.................................................................................................16
2.2. Giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Bru-Vân Kiều........................17
2.2.1. Giá trị lịch sử........................................................................................17
2.2.2. Giá trị nhân văn....................................................................................17
2.2.3. Giá trị nghệ thuật..................................................................................20
2.2.4. Giá trị cố kết cộng đồng........................................................................21
Phần 3. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ QUẢN LÝ, BẢO
TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN NGHỆ DÂN GIAN TỘC
NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU...........................................................................23
3.1. Đánh giá các giá trị văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều...........23
3.1.1. Ưu điểm.................................................................................................23
3.1.2. Nhược điểm...........................................................................................23
3.2. Các giải pháp để quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân
gian của tộc người Bru-Vân Kiều................................................................25

Nam nói riêng đang có nguy cơ bị mai một thậm chí là có nguy cơ mất dần đi
bản sắc đặc trưng vốn có của nó từ trước. Chính vì vậy là sinh viên chuyên
ngành quản lý văn hóa, tôi nhận thấy mình cần có trách nhiệm nghiên cứu để
từ đó góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộc
Bru- Vân Kiều nói riêng và Việt Nam nói chung nên tôi đã quyết định chọn đề
tài “ Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân
gian của dân tộc Bru- Vân Kiều” làm bài tiểu luận kết thúc học phần Văn hóa
các dân tộc thiểu số Việt Nam.

2


2. Cảm nhận khi học và nghiên cứu học phần văn hóa các dân tộc
thiểu Việt Nam:
Ở học kỳ này, tôi được tìm hiểu về học phần Văn hóa các dân tộc thiểu
số Việt Nam do giảng viên Trần Thị Phương Thúy hướng dẫn và giảng dạy.
Đây là một học phần chuyên ngành quản lý văn hóa của chúng tôi, học phần
này nhắm đến mục đích hệ thống hóa và cung cấp cho sinh viên những kiến
thức về những vấn đề như: địa bàn cư trú, số dân,các hoạt động như: ăn, ở,
các phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian... của các dân tộc thiểu
số sinh sống trên đất nước Việt Nam .
Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam là một học phần rất hữu ích
giúp cho sinh viên văn hóa nói chung và tôi nói riêng có cái nhìn đúng đắn,
bao quát và đầy đủ về các tộc người. Khi học học phần này, tôi cảm thấy rất
thú vị và yêu thích bởi lẽ từ học phần này tôi có thêm những kiến thức rất bổ
ích từ những lần tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, trang
phục, văn hóa văn nghệ dân gian... của các dân tộc mà trước đây tôi chưa
được biết. Với tôi thì tôi thấy nó không quá phức tạp và trừu tượng như những
môn đại cương, mà học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam này
mang đến cho tôi cảm giác gần gũi, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Thông qua mỗi lần

Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,3%, nam chiếm
49,7%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho
thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây là
lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh.
Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2,thuộc loại thấp so với các
tỉnh, thành khác trong cả nước. Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh
thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xã
Quảng Trị: 308 người/km2, thị xã Đông Hà: 1.157 người/km2, trong khi đó
huyện Đakrông chỉ có 29 người trên km2, Hướng Hoá 64 người/km.

4


1.1.2. Về diện tích
Quảng Trị có với 10 đơn vị hành chính gồm thành phố Đông Hà, thị xã
Quảng Trị và 08 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Cam Lộ, Hải
Lăng, Đakrông, Hướng Hóa và huyện đảo Cồn Cỏ diện tích 4.747km2,
1.1.3.Về văn hóa
Quảng Trị là cửa ngõ quan trọng thu hút khách du lịch tiểu vùng sông
Mêkông vào miền Trung Việt Nam, điểm kết nối giữa 3 sản phẩm du lịch độc
đáo là hành lang kinh tế Đông - Tây, Con đường Di sản, Con đường huyền
thoại. Đây là cơ hội để du lịch Quảng Trị khai thác tiềm năng, các lợi thế so
sánh để hội nhập, thu hút nguồn lực phát triển du lịch.
Quảng Trị có tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa
dạng. Du lịch văn hóa lịch sửđược tạo bởi hệ thống di tích chiến tranh thời
hiện đại hết sức đồ sộ và độc đáo với 436 di tích quan trọng, trong đó có
những địa danh nổi tiếng đã đi vào lịch sử như: Đôi bờ Hiền Lương - Bến
Hải, Hàng rào điện tử Mc.Namara, địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị,
căn cứ Dốc Miếu, Đường 9 – Khe Sanh…; Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng
biểnvới 75 km bờ biển tạo nên các bãi tắm đẹp, môi trường trong lành như:

Bru-Vân Kiều là tên gọi chính thức của dân tộc Bru-Vân Kiều. Ngoài
ra họ còn nhiều tên gọi là Bru, Vân Kiều, Mang Coong, Trì, Khùa.
* Về dân số
“Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 1999, 2009 thì dân
tộc này có khoảng 74.506 người, sống tập trung ở miền núi của Quảng
Trị”[1,Tr.73].
* Về nguồn gốc lịch sử
Dân tộc Bru-Vân Kiều là cư dân bản địa cư trú lâu đời ở khu vực Bắc
Trường Sơn thuộc vùng đất miền Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế. Người Bru-Vân Kiều có các nhóm theo cách gọi của địa phương
là Vân Kiều, Trì, K hùa, Ma Coong. Tiếng nói của người Bru-Vân Kiều thuộc
nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á gần gũi với tiếng nói
của các dân tộc sống cận kề là Tà Ôi, Cờ Tu.

6


Về nguồn gốc lịch sử của người Bru-Vân Kiều xa xưa cư trú chủ yếu ở
vùng Trung Lào, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày nay. Do biến
động lịch sử một số ít đồng bào di cư theo hướng Tây Bắc định cư ở miền
Đông Bắc Thái Lan. Một bộ phận lớn di cư theo hướng Đông vượt dãy
Trường Sơn định cư ở miền Tây các tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế như ngày nay. Vùng đất này đã trở thành quê hương bản quán lâu đời
của người Bru-Vân Kiều.
* Về phân bố dân cư
Tộc người Bru-Vân Kiều phân bố và tập chung đông nhất ở tỉnh Quảng
Trị ( các huyện : Hướng Hóa, Do Linh, Cam Lộ): 55.079 người; Quảng
Bình( các huyện: Minh Hóa, Bố Trạch, Lệ Thủy): 14.613người; Đăk Lắk:
3.348 người; Thừa Thiên Huế: 1.114 người; Thành Phố Hồ Chí Minh: 26
người; Kon Tum: 21 người.. theo số liệu thống kê năm 2009

Cho đến nay, trang phục cùng với các trang sức truyền thống đã tôn
thêm vẻ đẹp rực rỡ của những sơn nữ Bru-Vân Kiều giữa màu xanh vô tận
của núi rừng. Các vòng hạt cườm đeo cổ làm từ chất liệu đá quý được xâu
thành chuỗi, có màu tím hồng, ghè theo hình ô van. Những chuỗi cườm là đồ
trang sức mang trong cuộc sống đời thường, đặc biệt không thể thiếu trong
các sự kiện quan trọng của gia đình, làng bản. Thêm nữa là những vòng đeo
tay, khuyên tai, vòng cổ làm từ một số kim loại sáng màu, không gỉ, đa phần
bằng bạc.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đồng bào dân tộc Bru-Vân
Kiều đời sống người dân đang có những điểm mới khởi sắc hơn, điều này
được thể hiện qua sự thay đổi phong cách trang phục. Đàn ông Bru-Vân Kiều
hiện nay được mặc những bộ trang phục như người miền xuôi, ngược lại, phụ
nữ mặc những chiếc váy trang trí tinh xảo và cầu kỳ hơn, những người có
điều kiện kinh tế khá giả còn đính kim loại bạc tròn ở mép cổ và hai bên nẹp
áo.
- Ẩm thực
Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau
với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp
8


nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là
thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.
[A1;Tr33]
- Nhà ở
Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc
miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một
điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay
trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường
ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già

hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự
giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt
nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...
Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.

10


Phần 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN
CỦA TỘC NGƯỜI BRU -VÂN KIỀU
2.1. Các hình thức văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều
Trong đời sống của người dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị
thì các làn điệu dân ca, cùng với các loại nhạc cụ dân tộc đóng một vai trò hết
sức quan trọng, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa
cộng đồng của mỗi người dân. Với hàng ngàn năm sinh sống trong các thung
lũng, trên những lèn núi đá, họ đã tạo ra nhiều loại nhạc cụ, nhiều điệu hát,
điệu múa mang giá trị văn hoá rất đặc trưng của cộng đồng dân tộc mình như
các điệu múa mừng lúa mới, múa đám chay, hát giao duyên, hay các nhạc cụ
truyền thống như kèn, sáo, đàn và các dụng cụ hằng ngày sử dụng lên nương
rẫy như A rừa, A chói…
2.1.1. Dân ca, hát giao duyên
Đối với người Bru-Vân Kiều, dân ca không chỉ thông thường là hình
thức giải trí mà đã trở thành bản sắc gắn với tín ngưỡng và truyền thống của
dân tộc mình. Dù lên nương hay lên rẫy, dù sinh hoạt lễ hội hay trong lao
động sản xuất thì những câu dân ca vẫn gần gũi, đằm thắm, mộc mạc vút bay
giữa núi rừng Trường Sơn. Bên ánh lửa bập bùng của những mùa lễ hội, âm
thanh tiếng khèn vang vọng núi rừng của những đêm đi “Sim”, của mỗi đêm
trăng trong bản là lúc khơi dậy niềm đam mê dân ca của nhiều thế hệ già trẻ,
gái trai. Họ hát để thể hiện sự đủ đầy sau những vụ mùa bội thu, hát để thể
hiện niềm vui sướng khi được về làng mới…

thể thiếu được người mình yêu dấu trong đời.
Tục đi sim thường diễn ra vào các mùa trăng, nhất là những đêm trăng
sáng. Vì thế mùa trăng được xem là thời điểm lý tưởng nhất cho những buổi
đi sim, là thời điểm mà các chàng trai, cô gái Vân Kiều trông ngóng, đợi chờ.
Dưới ánh trăng sao vằng vặc, các chàng trai gửi gắm, thăm dò tình cảm đến
các cô gái qua làn điệu oát:

12


Bóng em thấp thoáng như sao mới mọc
Dáng em lấp lánh như vầng trăng đêm mười sáu
Ta đi tìm em, em ơi
Tình em vời vợi như trăng đêm mười bảy
Ta đang lần tìm đến người, người ơi!
Để đáp lại và cũng để thổ lộ nỗi lòng của mình, giọng hát của người
con gái cũng cất lên nghe tình tứ, e ấp nhưng không kém phần cháy bỏng:
Nàng (tên một vì sao) ra đi đã tới gần chòm núi
Anh ơi sao anh vẫn chưa ngủ
Anh cứ Oát hoài
Trên các chòi lúa rẫy
Anh có biết không?
Em ở chòi bên này chưa ngủ đợi anh
Muốn thổi kèn Aman nhưng lại thiếu một người
Kèn Aman không thổi một người
Em biết thương ai bây giờ ngoài anh
Núi rừng, sông suối cũng là nơi hò hẹn lý tưởng của các nam thanh nữ
tú, là bạn đồng hành thân thiết của những đêm tình yêu, là nhân chứng cho
bao mối tình nên duyên vợ chồng. Lối hát giao duyên thể hiện tình cảm một
cách tình tứ, ý nhị và sâu sắc:

Đò sắt chàng rèn, rựa như có mũi
Móng tay chàng mòn vì đan những chiếc gùi cho em
2.1.2. Nhạc cụ dân gian
Lịch sử mưu sinh của đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều gắn liền với núi
rừng. Cuộc sống quanh năm gắn bó với con sông, con suối với cảnh nương
rẫy, núi non trùng điệp đã tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách cũng
như lối sống sinh hoạt đặc trưng của con nguời nơi đây. Và nhạc cụ truyền
thống của họ cũng được hình thành theo lối sống sinh hoạt lao động đó. Bằng
những nguyên liệu có từ thiên nhiên như tre, nứa, lá cây và một số loại cây
rừng khác họ có thể chế tạo ra những loại nhạc cụ độc đáo thông qua đôi bàn
tay lao động khéo léo và đầu óc cảm nhận âm thanh tuyệt mỹ. Nhạc cụ của họ
14


là những sản phẩm thủ công nên mang tính thuần túy riêng biệt. Sáng tạo
nhạc cụ từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày nên việc sử dụng nó cũng gắn liền
với những sự kiện của đời sống. Vào các ngày lễ hội hay cưới hỏi chúng ta dễ
dàng bắt gặp những nhạc cụ này. Tùy từng sự kiện khác nhau mà người dân
nơi đây sẽ sử dụng loại nhạc cụ phù hợp.
Nhạc cụ truyền thống của người Bru-Vân Kiều tương đối nhiều. Tuy
nhiên, hiện nay người ta chỉ sưu tầm và lưu giữ được một số loại tiêu biểu
như: Sáo, khèn bè, Pluoaq, đàn ta lư, thanh la, chiêng, kèn... Trong số các loại
nhạc cụ này, loại nhạc cụ phổ biến nhất phải kể đến là sáo. Sáo của người
Bru-Vân Kiều có rất nhiều loại như Pi là loại sáo dùng để thổi trong lễ cúng
tế, đặc biệt là lễ cúng cầu hồn, nó thể hiện sự trang trọng linh thiêng của các
thấy mo. Nếu không cách điệu thì sáo Pi có thể nói là một nét văn hóa tín
ngưỡng đặc sắc trong cúng tế của người Bru-Vân Kiều.
Sáo Khui là loại sáo phổ nhạc hát đệm làn điệu Xà nớt, thường để diễn
tả, biểu đạt nhân tình thế thái về quan hệ xã hội, dòng tộc, làng bản. Qua sáo
Khui người ta giải bày nhiều điều thầm kín trong lòng mà chỉ có cuộc giao

tươi hay phơi khô rồi dùng dao nhọn khéo léo đục hai lỗ nhỏ, một lỗ phía trên
và một lỗ phía dưới. Vì nhánh cây rất nhỏ nên khi đục lỗ phải rất cẩn thận, lỗ
không được quá nhỏ, cũng không quá to, vị trí của hai lỗ phải phù hợp và cân
xứng với chiều dài của đoạn cây để khi thổi thì phát ra được nhiều âm thanh
khác nhau tùy theo sự tinh tế của người sử dụng.[A4;Tr34]
Việc sử dụng hơi để thổi kèn một cách khéo léo tạo ra những âm thanh
thanh thoát, lúc sâu lắng, lúc trầm bổng và dìu dặt thể hiện tâm trạng của
người thổi kèn. Người thổi A-mam vừa thổi vừa hát tà-oải hoặc ngâm thơ.
Nếu như hai người cùng thổi, một người thổi, một người hát thì cần có sự
đồng điệu trong tâm hồn và thấu hiểu lẫn nhau thì mới có thể tạo nên những
giai điệu đi sâu vào lòng người.
2.1.3. Truyện cổ
Truyện cổ có tần số xuất hiện nhiều và đóng vai trò chủ đạo; thể hiện
quan niệm của con người về vũ trụ, tự nhiên, cuộc đấu tranh chống chọi với
thiên nhiên, phản ánh xã hội, tâm tư khát vọng của đồng bào vươn đến cuộc
16


sống ấm no, hạnh phúc. Bên cạnh đó, truyện cổ dân tộc thiểu số Quảng Trị
còn có các nội dung nhân bản khác là răn dạy đạo đức, biểu dương tính nhân
đạo, khuyến khích con người sống lương thiện, chung thuỷ, biết thương yêu
kẻ yếu, người nghèo, đấu tranh với bất công tàn ác của tầng lớp thống trị,
hoặc các thói hư tật xấu của con người.
Mở đầu các câu truyện cổ thường là: Pơblời Bớn (Trời đất) sinh ra chưa
có người mà chỉ có cây cối và muôn loài thú vật; “Thuở ấy, người và hoang
thú đều ở chung trong một bản rừng” (Truyện Pí trỏ, pí cula - dân tộc BruVân Kiều).
Tuy nhiên, các hiện tượng tự nhiên khác, được đồng bào giải thích một
cách độc đáo trong nhiều truyện cổ tích thần kỳ. Đối với họ, các địa danh, các
dấu vết quen thuộc trong làng bản đều có một lý do sinh thành rất cụ thể. Địa
danh Eo Ông Đùng hình thành nên từ một cuộc chiến giữa một người khổng

xuống núi.
2.2. Giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Bru-Vân Kiều
2.2.1. Giá trị lịch sử
Người Bru-Vân Kiều rất coi trọng nền văn hóa dân gian của mình, họ
coi đây là tài sản quý giá của cả dân tộc. Văn hóa của người Bru-Vân Kiều
hình thành và phát triển cùng với cả tộc người từ lúc lập bản, lập làng, từ lúc
tổ tiên của tộc Bru-Vân Kiều sinh ra. Nó ghi lại toàn bộ quá trình lịch sử mà
người Bru-Vân Kiều đã trải qua. Các giá trị văn hóa dân gian của tộc người
Bru-Vân Kiều giống như một cuốn bách khoa toàn thư của dân tộc. Nó giúp
thế hệ con cháu đời sau tìm hiểu, làm sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử. Không
gian văn hóa, phong tục tập quán ban đầu ra sao và đã thay đổi thế nào.
Cũng qua những làn điệu dân ca, những lời ru, hay những câu truyện
cổ, có thể thấy được những phong tục tập quán, tín ngưỡng, những giá trị văn
hóa tinh thần bất diệt trong niềm tin của người Bru-Vân Kiều. Nhìn ra được
những tinh hoa của văn hóa đặc sắc riêng của họ.
2.2.2. Giá trị nhân văn
Con đường mà loài người đã đang và sẽ đi chính là hành trình hướng
tới các giá trị nhân văn và hiện thực hoá nó trong thực tiễn. Do vậy, giá trị
18


nhân văn luôn có ý nghĩa vĩnh cửu và phổ quát đối với mọi nền văn hoá và
đối với văn nghệ dân gian cũng vây. Tuy nhiên, chính ở điểm chung này, văn
hoá Việt Nam vẫn thể hiện bản sắc không thể hoà lẫn của mình. Từ trong
truyền thống, văn hoá, văn nghệ Việt Nam luôn tích hợp, tiếp biến các giá trị
nhân văn của các nền văn hoá, văn nghệ khác, đồng thời tự tin đem cái riêng
của mình đóng góp, hoà chung vào dòng chảy bất tận của chủ nghĩa nhân văn
nhân loại.
Chủ nghĩa nhân văn là một bản sắc chủ đạo của truyền thống văn hoá
Việt Nam. Chủ nghĩa nhân văn truyền thống của Việt Nam được sản sinh và

là tôn thêm nét đẹp , tính nhân văn trong con người Bru-Vân kiều nói chung
và người Việt nói riêng.
* Thái độ tôn trọng, đề cao con người và những giá trị tốt đẹp của con
người
Nền văn hoá Việt Nam thấm đẫm tinh thần nhân văn trước hết vì nó
luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, luôn coi con người là sự kết tinh những
gì tinh tuý nhất của tạo hoá.
Từ cái gốc của một nền văn minh lúa nước, chúng ta có thể giải thích
được tại sao văn hoá Việt Nam lại thiên về tính nữ, đề cao người phụ nữ. Và
chúng ta cũng không khó để nhận ra những biểu hiện rất đa dạng của truyền
thống này. Nhiều danh từ của Việt Nam chẳng hề có giới tính mà vẫn được
gán chữ “cái” ở trước: cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái cửa… Ngoài mạo từ, chữ
“cái” còn được dùng như một tính từ để chỉ những gì có vẻ lớn, quan trọng,
chính, trung tâm, như con sông lớn gọi là sông cái, đường lớn gọi là đường
cái, cửa lớn gọi là cửa cái. Trong một trò chơi, người làm chủ gọi là người
cầm cái. Sự sản sinh ra các loại hình nghệ thuật, nghề nghiệp, phần nhiều vẫn
do phụ nữ đảm nhiệm. Nghề ươm tơ dệt vải là một nghề truyền thống lâu đời
nhất ở Việt Nam, có thể có cùng lúc với nghề cấy lúa. Tổ tiên của nghề này
cũng là một người phụ nữ. Ngay cả nghề mộc cũng do một người nữ chỉ dạy.
Việc làm nhà do nữ thần mộc dạy cho.
Văn hoá Việt Nam sáng ngời chủ nghĩa nhân văn còn vì dân tộc ta là
một dân tộc luôn coi trọng đạo đức nhân phẩm và các giá trị người. Văn hoá
20


Việt Nam cũng rất chú trọng đến tính thiết thực, đến các giá trị vật chất (Có
thực mới vực được đạo), song luôn đặt các giá trị tinh thần ở vị trí hàng đầu.
Nhiều đạo lý làm người luôn được dân tộc tôn vinh, ca ngợi.
Biểu hiện cao nhất trong các giá trị làm người chính là lòng yêu nước,
sẵn sàng xả thân vì hạnh phúc của đồng bào ta hôm nay và mai sau. Có lẽ vì

gọi là văn hoá dân gian.
2.2.4. Giá trị cố kết cộng đồng
Giá trị cố kết cộng đồng là giá trị thường thấy trong nền văn nghệ dân
gian của hầu hết các dân tộc sinh sống ở Việt Nam. Biểu hiện của giá trị này
thể hiện ở các loại hình văn nghệ dân gian tồn tại trong cộng đồng tập thể
chung; và nó có ý nghĩa cố kết cộng đồng giúp cho các cá nhân gần nhau hơn
tạo nên một cộng đồng đoàn kết và thống nhất.
Có thể thấy, văn nghệ dân gian của dân tộc Bru-Vân Kiều được hình
thành không phải từ một cá nhân mà nó được xây dựng và phát triển trong
cộng đồng người. Bằng hình thức truyền miệng các loại hình văn nghệ dân
gian như: dân ca, ca dao, tục ngữ, truyện cổ đã hình thành và tồn tại cùng với
cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều và trở thành nét văn hóa dân gian tinh thần
đặc trưng của họ. Các loại hình văn nghệ dân gian này ra đời từ nhu cầu tinh
thần của người dân nơi đây; thường được xuất hiện trong các ngày lễ hội hay
giao lưu gặp gỡ của buôn làng.
Đồng thời các loại hình dân gian của dân tộc Bru-Vân Kiều không phải
chỉ do một cá nhân biết, một cá nhân kể lại mà hầu như toàn thể người dân
của cộng đồng Bru-Vân Kiều đều được nghe kể lại và thuộc những câu hát
dân ca hay ca dao và các tích truyện cổ
Đối với tộc người Bru Vân Kiều, văn nghệ dân gian là nơi để biểu
dương sức mạnh, sự cố kết tình cảm cộng đồng. Trong đời sống thường nhật
và đặc biệt trong những sinh hoạt văn hóa dân gian, người dân còn gắn kết với
nhau bởi nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa như âm nhạc dân
gian, kể khan, múa… Tính cộng đồng của văn nghệ dân gian của tộc người
Bru- Vân Kiều được thể hiện trong bữa ăn, trong các làn điệu dân ca... Văn
hóa dân gian của tộc người Bru-Vân Kiều cốt lõi là văn hóa dân gian mang
22


tính diễn xướng và tính cộng đồng cao, diễn ra theo mùa vụ sản xuất nương

NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU
3.1. Đánh giá các giá trị văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều
3.1.1. Ưu điểm
Mặc dù dân tộc Bru-Vân Kiều là dân tộc chỉ sống ở một số tỉnh với số
lượng không nhiều và phân bố không đều, nơi nhiều nơi ít nhưng bù lại dân
làng ở đây lại rất chăm chỉ, cần cù, chịu thương, chịu khó, sáng tạo nỗ lực xây
dựng cuộc sống bảo tồn phát triển văn hóa. Đồng bào được Đảng, Nhà nước
đặc biệt quan tâm hỗ trợ bằng các dự án đặc thù để không phai nhạt bản sắc
tộc người để kinh tế xã hội từng bước phát triển cùng với các dân tộc anh em
ở Trường Sơn –Tây Nguyên.
Dân tộc Bru-Vân Kiều rất đoàn kết và có tính cộng đồng cao. Chịu khó
tiếp thu những đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ và nhà nước Việt
Nam đưa ra. Để từ đó nắm bắt và cải thiện đời sống vật chất, đời sống tinh
thần của người dân trong làng bản. Xóa bỏ hoặc thay đổi một số hủ tục lạc
hậu, không cần thiết.
Người Bru-Vân Kiều chung sống khá hòa thuận với các dân tộc xunh
quanh. Họ có thể dung hòa, tiếp thu văn hóa của dân tộc khác sao cho phù
hợp với quan niệm, lịch sử, văn hóa vốn có của người Bru-Vân Kiều.
Mặc dù phân bố không đều ở một số nơi, nhưng người Bru-Vân Kiều
vẫn giữ được nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình từ phong tục, tập
quán, ngôn ngữ, trang phục, món ăn lối sống mà không bị dung hòa với các
dân tộc nhiều người hơn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
3.1.2. Nhược điểm
Tuy có một kho tàng lịch sử, văn hóa, nhạc cụ đồ sộ như vậy, nhưng
cũng như nhiều dân tộc ít người khác, hiện các bản sắc văn hóa của đồng bào
Bru-Vân Kiều không có người kế thừa và đang dần mai một. Đặc biệt là về:
hát - kể những câu truyện cổ, hay cách chế tác, sử dụng các loại nhạc cụ...
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status