TIỂU LUẬN KINH tế đối NGOẠI PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH KINH tế đối NGOẠI của VIỆT NAM TRONG NHỮNG năm QUA, một số BIỆN PHÁP cần THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH hội NHẬP KINH tế QUỐC tế - Pdf 48

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

2

1

3

Chính sách kinh tế đối ngoại và tình hình kinh tế đối ngoại
của Việt Nam trong những năm qua.

1.1

Chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

3

1.2

Tình hình kinh tế đối ngoại củaViệt Nam trong những năm qua.

5

1.3

Liên hệ chính sách kinh tế đối ngoại của Chính phủ Việt Nam với

11


Sự phát triển kinh tế đối ngoại nước ta trong thời gian vừa qua đã có ý
nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế


2

của nước ta. Nước ta đã đạt được nhiều thành tựu cả về tăng trưởng xuất nhập
khẩu, thu hút vốn nước ngoài và phát triển du lịch.
Những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hai thập kỷ đổi mới vừa qua đã
mang lại cho Việt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam
đã tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng
động hơn bao giờ hết. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến
khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội
phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên thông
thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số lĩnh
vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu
lao động, tiếp nhận kiều hối...
Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy kinh tế trong nước phát
triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà cho sự phát triển của
lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực kinh tế đối ngoại
làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng trong chuỗi giá
trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị nền kinh
tế. Động lực phát triển kinh tế toàn cầu, lúc đó, sẽ trở thành động lực tăng
trưởng trực tiếp của nền kinh tế.
Từ những lý do trên tôi xin chọn chủ đề: “Phân tích chính sách kinh tế
đối ngoại của Việt Nam trong những năm qua và một số nhiệm vụ và biện pháp
cần thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm bài tiểu luận của
môn học Kinh tế đối ngoại


Phấn đấu để vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn
đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình
thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn
kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả
nguồn FDI. Tiếp tục tranh thủ nguồn vốn ODA, đẩy nhanh tốc độ giải ngân,
nâng cao hiệu quả sử dụng, kiểm soát chặt chẽ, chống thất thoát và có kế hoạch
đảm bảo trả nợ. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài. Có chính
sách thu hút mạnh kiều hối vào phát triển kinh tế, xã hội.


4

Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xúc tiến mạnh thương mại và
đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến
khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước
ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.
Đẩy mạnh công tác văn hoá, thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự
hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.
Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao,
có đạo đức và phẩm chất tốt.
Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sự
tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.
Ðẩy mạnh xuất khẩu, tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến
có giá trị tăng thêm cao, giàu hàm lượng công nghệ, tạo thêm các sản phẩm xuất
khẩu chủ lực, hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và
nông sản chưa qua chế biến. Bằng các biện pháp ổn định và mở rộng thị trường
xuất khẩu, phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5
năm trước. Chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu.


Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bình quân đầu người
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bình quân đầu người năm 2010
đạt 915 USD, tuy còn thấp hơn mức trung bình của khu vực, châu Á và thế giới,
nhưng đã cao hơn nhiều so với các năm trước đây. Năm 2010 đạt mức cao nhất từ
trước tới nay, cao gấp trên 23,3 lần năm 199; gấp gần 8,7 lần năm 1995; gấp trên
4,1 lần năm 2000; gấp gần 2,1 lần năm 2005 và tăng 25,1% so với năm 2009.


7

Với các điểm vượt trội trên, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là định hướng,
là lối ra và là động lực của tăng trưởng kinh tế, góp phần làm cho tăng trưởng
kinh tế tương đối cao, tăng liên tục, tăng trong thời gian dài như vừa qua; đạt
được tốc độ tăng cao ngay cả khi thế giới chưa hoàn toàn phục hồi sau cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu là nỗ lực của Việt Nam
nhằm đón đầu cơ hội phục hồi của thị trường thế giới.
Mục tiêu xuất khẩu hàng hoá đề ra cho năm 2011 là tăng 10%. Tháng 1 đã
tăng 18,1%, trong đó có một số mặt hàng kim ngạch tăng cao hơn (như cao su,
xăng dầu, sắt thép, hạt điều, cà phê, sắn và sản phẩm sắn, dệt may, điện tử, máy
tính, dây điện và cáp điện, phương tiện vận tải và phụ tùng,…), với giá xuất
khẩu tính bằng USD của hầu hết các mặt hàng cao hơn cùng kỳ năm trước
(trong đó có loại tăng rất cao, như cao su, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, than đá, sắn
và sản phẩm sắn, dầu thô, xăng dầu,…). Đồng thời, với sự hỗ trợ của đợt tăng tỷ
giá mới đây - đó sẽ là những tín hiệu khả quan để cả năm xuất khẩu có thể vượt
mục tiêu đề ra và tiếp tục đạt kỷ lục mới.
* Hạn chế:
Bên cạnh những thành công đạt được, hoạt động xuất - nhập khẩu vẫn bộc
lộ những hạn chế. Trước hết, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu còn lạc hậu, chủ
yếu là các mặt hàng dễ sản xuất, hàm lượng giá trị tăng thêm thấp và là mặt

trường, sự thay đổi trong chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nướcn goài và
những thay đổi trong quan hệ quốc tế trong khu vực…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2010, số đăng ký đạt 18,6 tỷ USD,
tuy thấp hơn năm trước, nhưng số thực hiện đạt 11 tỷ USD, tăng 1 tỷ USD, cao
thứ hai từ trước tới nay (sau mức 11,5 tỷ USD của năm 2008).
Tính đến cuối năm 2010, cả nước có 12,2 nghìn dự án FDI còn hiệu lực,
với tổng số vốn đăng ký 192,9 tỷ USD. Hiện đã có 63/63 địa phương trên cả nước
đều có dự án FDI, trong đó có 25 địa bàn đạt từ 1 tỷ USD trở lên, ngoài các địa
bàn thuộc các vùng động lực, quen thuộc, đã xuất hiện nhiều địa bàn đáng lưu ý
có số vốn FDI đăng ký cao như: Ninh Thuận, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Thanh Hoá,
Phú Yên, Quảng Ngãi, Kiên Giang, Hưng Yên, Nghệ An, Bình Thuận,…
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tránh đánh thuế trùng,
hiệp định bảo hộ đầu tư với nhiều quốc gia đối tác quan trọng trong đầu tư của
Việt Nam…Các hoạt động đầu tư nước ngoài đang dần dần có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và là khu vực đi tiên phong trong cạnh
tranh quốc tế so với các lĩnh vực khác của kinh tế đối ngoại. Khả năng gia tăng


9

của dòng vốn đầu tư trực tiếp này còn rất lớn trong thời gian tới vì những cơ hội
thị trường đầu tư của Việt Nam còn rất lớn, nhiều hình thức đầu tư mới đã được
pháp luật Việt Nam cho phép vận hành sáp nhập và mua lại (M & A), đầu tư
gián tiếp, cho phép việc mua cổ phần, việc mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, mạng lưới phân
phối. Các phương thức tổ chức đầu tư như thành lập khu công nghiệp tập trung,
khu chế xuất, thành phố mở cửa, khu công nghệ cao đang góp phần thúc đẩy
mạnh mẽ hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Một số công ty xuyên
quốc gia và chi nhánh của chúng đã xuất hiện ở Việt Nam. Điều đặc biệt là Việt
Nam đã có các quy định pháp luật rõ ràng về đầu tư nước ngoài, dấu hiệu khẳng

nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam là Nhật Bản, WB và ACB, chiếm khoảng 70%
tổng giá trị các hiệp định đã ký kết.
Thách thức về ODA đối với ta có nhiều, trong đó có những thách thức
hiện nay gồm giải ngân, đấu thầu, giá cả cạnh tranh .... Và thách thức về lâu dài
là hiệu quả các công trình ODA, việc trả nợ và tín nhiệm về kinh tế của ta đối
với cộng đồng quốc tế.
1.2.4. Chuyển giao công nghệ.
Pháp luật bảo vệc quyền sở hữu công nghiệp được hoàn thiện dần, nhiều
hình thức chuyển giao công nghệ đã được áp dụng và có xu hướng thúc đẩy sự
phát triển của thị trường công nghệ Việt Nam. Hình thức cấp giấy phép, nhượng
quyền thương mại, đấu thầu quốc tế, các hoạt động xây dựng và phát triển
thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ đang có xu hướng phát triển
mạnh. Hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đã được thực hiện. Các công nghệ lắp ráp, sửa chữa ô tô, xe
máy, các sản phẩm cơ khí, điện tử…đang được chuyển giao sang phía Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể thấy đây là những công nghệ đơn giản, Việt Nam vẫn thiếu
công nghệ nguồn và bí quyết công nghệ là yếu tố kiến tạo thế mạnh cốt lõi và
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Việc phát triển doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài làm giảm khả năng học hỏi và tiếp nhận bí quyết công nghệ. Tình trạng vi
phạm bản quyền, nạn hàng giả, buôn lậu…cũng là yếu tố cản trở khá lớn hoạt
động chuyển giao công nghệ.
1.2.5. Nguồn kiều hối.
Nguồn kiều hối (do kiều bào gửi về và do lao động làm việc ở nước ngoài
gửi về) tăng khá và đạt mức cao (8,1 tỷ USD) trong năm 2010. Khả năng có thể
đạt cao hơn cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, cùng với việc thực hiện kế


11

hoạch xuất khẩu lao động cao hơn và giá USD tại Việt Nam tăng, lãi suất gửi tiết

trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ


12

2008 - 2009, việc gia nhập WTO góp phần nâng cao đáng kể vị thế của ta trên
trường quốc tế và khẳng định với thế giới về chính sách đối ngoại chủ động, tích
cực và có trách nhiệm của Việt Nam. Với tư cách là thành viên WTO, ta có điều
kiện để tham gia tích cực và tăng cường vai trò trong hệ thống thương mại đa
phương, góp phần bảo vệ hiệu quả và mở rộng các lợi ích của đất nước, thể hiện
cụ thể trên các khía cạnh sau:
Thông qua việc chủ động và tích cực tham gia đàm phán tại Vòng Ðô-ha,
nhất là trong khuôn khổ Nhóm RAMs, ta có điều kiện cùng các nước đang phát
triển đấu tranh nhằm thiết lập một hệ thống thương mại đa phương công bằng,
cân bằng hơn và tính đến lợi ích của các nước đang và kém phát triển. Tiến trình
này đến nay đã đạt kết quả bước đầu: nhiều khả năng Việt Nam, cùng một số
thành viên mới gia nhập khác, sẽ được miễn trừ các nghĩa vụ mới về mở cửa thị
trường khi Vòng Ðô-ha kết thúc.
Với tư cách thành viên WTO, chúng ta có điều kiện chủ động yêu cầu
đàm phán song phương với một số đối tác xin gia nhập WTO, qua đó góp phần
giải quyết các vướng mắc trong quan hệ kinh tế thương mại của ta với các đối
tác này.
Sau khi ta gia nhập WTO, nhiều đối tác kinh tế thương mại chủ chốt,
trong đó có Mỹ, EU, Nhật Bản, Ca-na-đa v.v., ngày càng nhìn nhận Việt Nam
như một đối tác giàu tiềm năng và quan trọng tại khu vực Ðông Nam Á. Chúng
ta cũng tận dụng các mối quan hệ mở rộng để đẩy mạnh triển khai liên kết kinh
tế song phương và khu vực. Theo đó, chúng ta đã ký và thực hiện Hiệp định
khung về thương mại và đầu tư với Mỹ (TIFA), hoàn tất đàm phán Hiệp định
Ðối tác Kinh tế (EPA) với Nhật Bản; đang đàm phán Hiệp định Mậu dịch Tự do
(FTA) với Chi-lê, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương (FIPA)

Thứ ba, sớm xây dựng và hoàn thiện chiến lược hội nhập kinh tế tổng thể
trong giai đoạn tới với những trọng tâm, ưu tiên rõ ràng và phù hợp điều kiện
phát triển của Việt Nam, trong đó thống nhất định hướng tham gia chủ động, tích
cực và cân bằng vào hội nhập đa phương và liên kết khu vực, song phương.
Chiến lược này cần bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội bền vững ở trong nước, điều hòa được mối quan hệ phức
tạp, đan xen giữa các cam kết quốc tế của Việt Nam nhằm tăng cường tác động
bổ trợ lẫn nhau giữa các cam kết này, đồng thời nâng vai trò của Việt Nam trong
quá trình hoạch định chính sách thương mại toàn cầu.
Thứ tư, đẩy mạnh việc vận động chính trị và đàm phán kỹ thuật với các
đối tác về quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, góp phần giảm thiểu sự phân


14

biệt đối xử và tác động tiêu cực của các tranh chấp thương mại do các đối tác
nước ngoài khởi kiện nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Thứ năm, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng các
tiêu chuẩn ngày càng cao của giai đoạn hội nhập sâu rộng; đẩy mạnh việc tuyên
truyền, phổ biến thông tin để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và của toàn
xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ khi Việt Nam là thành viên WTO. Kinh tế Việt
Nam phát triển khả quan nhờ những yếu tố bên ngoài thuận lợi và chính sách vĩ
mô thận trọng. Trong khi đó những trở ngại bên trong đã và đang làm giảm bớt
tốc độ phát triển. Một nguy cơ Việt Nam đang phải đối phó là sự phát triển thiếu
quân bình giữa các vùng và giữa hai giới giàu nghèo. Việc gia nhập WTO sẽ
giúp kinh tế phát triển thêm nhưng đồng thời sẽ làm cho sự phân hoá xã hội
ngày càng trầm trọng nếu Việt Nam không sẵn sàng đáp ứng với những xáo trộn
do sự hội nhập kinh tế toàn cầu tạo ra. Việc gia nhập WTO đánh dấu một giai
đoạn đổi mới thực sự. Nó đòi hỏi Việt Nam thực hiện những cải tổ kinh tế sâu
rộng và khó khăn hơn những gì đã làm trong hai thập niên vừa qua. Việt Nam

cao từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp tốt giữa việc mở
cửa tự do hóa với việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn định kinh tế vĩ mô,
phát triển nguồn nhân lực và quản lý nhà nước tốt.
Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị Khóa IX: "Về hội nhập kinh
tế quốc tế" đã đề ra 9 nhiệm vụ quan trọng cần được thực hiện trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế:
1. Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các
tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp
nhân dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội
nhập kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của
nền kinh tế nước ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân
ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 cũng như các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà
nước ta tham gia, xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ
thể để các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại và
nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả.
Trong khi hình thành chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm đảm bảo sự
phát triển của các ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, viễn thông... là những
lĩnh vực quan trọng mà ta còn yếu kém.


16

3. Chủ động và khẩn trương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới
công nghệ và trình độ quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy tối đa
lợi thế so sánh của nước ta, ra sức phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ, bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng trên thị
trường thế giới, tạo ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để hàng hóa và
dịch vụ của ta chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn ở trong nước cũng như trên thế
giới, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

chung nói trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu
biết sâu về luật pháp quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm bắt nhanh những
chuyển biến trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm được kỹ năng
thương thuyết và có trình độ ngoại ngữ tốt. Bên cạnh đó, cần hết sức coi trọng
việc đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.
Cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có chính sách thu hút, bảo vệ
và sử dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và
với sở trường năng lực từng người.
6. Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và
hội nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa
phương hóa, đa dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức
quốc tế. Các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh
vào việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ
kinh tế quốc tế bình đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của các nước
đang phát triển và chậm phát triển.
Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cần coi việc phục vụ công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước là một nhiệm vụ hàng đầu.
7. Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an
ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như
trong quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc
phòng và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho
quá trình hội nhập.
8. Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nước
ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi
cơ chế kinh tế. Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt
động kinh tế ở trong nước.

của các doanh nghiệp lớn. Mở rộng thị trường lao động trong nước và đẩy mạnh
xuất khẩu lao động; hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để tạo cơ hội
bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến
khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại và học nghề
mới. Sớm tổ chức thị trường khoa học - công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ; đẩy
mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin, chuyển giao công nghệ. Phát triển
nhanh thị trường vốn, nhất là vốn dài hạn và trung hạn; vận hành thị trường


19

chứng khoán an toàn và hiệu quả; hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ; tăng khả
năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam. Tổ chức, phát triển thị trường bất động
sản; Nhà nước giao quyền sử dụng đất dài hạn cho người sản xuất, kinh doanh
và cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường theo quy định của
pháp luật.
Thứ hai, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những yếu kém hiện nay, gỡ bỏ những
vướng mắc cản trở sự phát triển. Cơ chế quản lý kinh tế cần được đổi mới sâu
rộng, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao
cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà
nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tiêu cực, lãng phí, tham nhũng,
gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các
doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; định hướng phát triển kinh tế xã hội; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; điều tiết thu nhập; kiểm tra, kiểm soát mọi
hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế. Cơ chế thị trường kết hợp với cơ chế kế hoạch, quy hoạch; tăng cường
công tác thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, công tác thống kê; ứng
dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trong công tác dự báo; kiểm tra tình
hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp. Chi ngân sách nhà nước cần bảo

giá các tư liệu sản xuất, trong đó có các biện pháp hạn chế thương mại; tăng các
biện pháp trợ cấp cho đầu tư sản xuất được áp dụng theo nguyên tắc không phân
biệt đối xử; đơn giản hóa chế độ khuyến khích đầu tư theo hướng làm rõ các
mục tiêu, công khai hóa và giảm bớt thủ tục hành chính; chú ý hơn đến đầu tư
sản xuất các ngành hàng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; đa
dạng hóa cơ cấu nền kinh tế; đầu tư nhà nước vào cơ sở hạ tầng, thủy lợi, cảng
và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất có tác dụng khuyến khích đầu tư tư nhân
phát triển; kết hợp tốt giữa các biện pháp tăng cường xuất khẩu với thay thế
nhập khẩu ở một số lĩnh vực nhất định.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư cần phải dựa trên việc phát
huy các thế mạnh, các lợi thế so sánh quốc tế của đất nước, gắn với nhu cầu thị
trường trong nước và ngoài nước thì mới phát huy được hiệu quả và hỗ trợ cho
tiến trình hội nhập. Việc xây dựng chương trình chuyển dịch cơ cấu đòi hỏi phải
xác định được về cơ bản cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong 10-20 năm tới (bao
gồm cả cơ cấu ngành, hàng và cơ cấu vùng), xác định được những ngành mũi
nhọn, những ngành cần ưu tiên phát triển trong một thời gian nào đó, những


21

ngành cần chuyên môn hóa... để làm cơ sở xây dựng các lộ trình mở cửa và các
chính sách bảo hộ cụ thể theo phương châm có chọn lọc, hợp lý và có thời hạn.
Ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư,
lao động... với nước ngoài cũng sẽ tác động tích cực tới sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nước. Xây dựng chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn
với việc thành lập cơ chế rà soát và điều chỉnh các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trung và dài hạn, các hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2010
và năm 2020 cho phù hợp hơn với các lợi thế so sánh tĩnh và động của ta nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam để cuối cùng xác định rõ các
ngành, hàng, lĩnh vực nào sẽ mở, mặt hàng, lĩnh vực nào cần được bảo hộ và
lịch trình của quá trình mở cửa đối với từng lĩnh vực, từng mặt hàng đó. Trước

không được tự chủ hạch toán kinh doanh và kinh doanh không có hiệu quả, bởi
vì hiện nay trong số 5.429 doanh nghiệp nhà nước, tuy 71,1% báo cáo có lãi
nhưng chỉ có 40% là có hiệu quả nếu tính thêm các yếu tố như thời gian kéo dài,
lượng lỗ lãi, tỷ lệ khấu hao;
Thứ ba, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng khó có điều kiện để
vươn lên dù làm ăn có hiệu quả vì bị phân biệt đối xử, đặc biệt trong vấn đề tiếp
cận các nguồn vốn, vay tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh...
Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục tăng cường cải cách, đổi mới một cách
toàn diện các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính tự chủ, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này, góp phần thực hiện chủ
trương kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đồng thời tạo thuận lợi cho tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới. Theo đó, chúng ta cần thực
hiện một số giải pháp đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
theo các hướng sau đây:
Một là, về số lượng doanh nghiệp, xây dựng lịch trình hằng năm giảm bớt
số lượng doanh nghiệp, lĩnh vực và ngành/nghề hoạt động của các DNNN, trước
mắt phấn đấu chỉ còn các doanh nghiệp công ích, các tổng công ty và các doanh
nghiệp độc lập có ý nghĩa quan trọng. Các DNNN chỉ nên tập trung hoạt động
trong các lĩnh vực, ngành/ nghề then chốt mà Nhà nước cần nắm hoặc tư nhân
không có khả năng làm, như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, một số ngành công
nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng và công nghiệp công nghệ cao.
Hai là, về hình thức sắp xếp, thực hiện cổ phần hóa hoặc đa dạng hóa sở
hữu ở các DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn để huy động thêm
vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả; mở rộng việc
bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thực hiện việc bán, khoán,
cho thuê các DNNN loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải
thể, phá sản các DNNN hoạt động không có hiệu quả.


23

là quá trình cạnh tranh và phân công lao động quốc tế. Việc phá sản hoặc thu
hẹp sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô sử dụng lao động của một bộ phận


24

doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực, ngành nào đó kéo theo sự mất việc
của một bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp đó là không thể tránh
khỏi. Tuy nhiên, bên cạnh việc có thể một hoặc một số ngành, nghề bị mất hoặc
teo đi, sẽ có những ngành, nghề mới ra đời hoặc được tập trung phát triển hơn,
thu hút lao động làm việc nhiều hơn trong các doanh nghiệp thuộc khu vực
ngành, nghề này. Như vậy, trong xã hội ở những thời điểm nhất định có thể sẽ có
tình trạng một bộ phận người lao động mất việc và phải tìm việc làm mới. Nhà
nước cần chủ động có chính sách và biện pháp thích hợp giải quyết vấn đề này,
tránh để nó trở thành một vấn đề có thể gây bùng nổ xã hội bằng việc hỗ trợ cho
sự hình thành mạng lưới an sinh xã hội nhằm giải quyết các nhu cầu của những
người không có khả năng tự lo cho mình và có các chương trình đầu tư xã hội để
giúp mọi người được đào tạo những kỹ năng cần phải có trong một nền kinh tế
hiện đại. Nhà nước cần sử dụng vai trò điều tiết phân phối lại thu nhập xã hội để
hỗ trợ những người bị thất nghiệp (Qũy bảo hiểm xã hội, Qũy hỗ trợ thất
nghiệp...) và có chính sách tái đào tạo nghề nghiệp giúp người lao động bị mất
việc có thể chuyển sang nghề khác.
Cần bổ sung điều chỉnh và chi tiết hóa các quy định của Luật Lao động về
các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm về hưu, bệnh tật, tai nạn lao động hoặc
bệnh nghề nghiệp, sinh đẻ, áp dụng cho các khu vực thành thị và các doanh
nghiệp. Luật chỉ quy định những nguyên tắc chung, còn các biện pháp tổ chức
thực hiện giao cho chính quyền các cấp xử lý. Về nguyên tắc, mỗi chế độ có một
qũy riêng. Nguồn qũy gồm hai khoản do người sử dụng lao động đóng được
chia thành hai tài khoản riêng gồm hai khoản trên và tài khoản chung chỉ do
doanh nghiệp đóng góp để chi dùng chung trong những trường hợp đặc biệt. Chỉ

vụ chưa được khắc phục triệt để;
- Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều đầu mối, tầng lớp
trung gian, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp. Đặc biệt, sự phân cấp thẩm
quyền trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa
phương chưa cụ thể, thiếu nhất quán, dẫn đến tranh chấp thẩm quyền, đùn đẩy
trách nhiệm và thiếu sự phối hợp giữa các ngành, các cấp;
- Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập. Đội ngũ đông nhưng
không mạnh, không đồng bộ, vừa thừa vừa thiếu; trình độ kiến thức, năng lực
lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ quản lý kinh tế thị
trường. Một bộ phận cán bộ thoái hóa, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, cơ hội
trong thực thi công vụ. Chính sách đối với cán bộ, công chức, nhất là về tiền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status