Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THU HƢƠNG

LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ
TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
(5 - 6 TUỔI) TRƢỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Ngƣời hƣớng dẫn:

ThS. NGUYỄN HỮU HIỆP

HÀ NỘI – 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hƣơng
Sinh viên lớp K36B - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề
tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trường
Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc. Toàn bộ những vấn đề được
đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vần đề mang tính thời sự, cấp bách và
đúng thực tế tại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hƣơng



Giáo dục thể chất

5

GDTL

Giáo dục thể lực

6

GDMN

Giáo dục Mầm non

7

NXB

Nhà xuất bản

8

STT

Số thứ tự

9

TCVĐ

xa của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền
- Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
Bảng 3.2

Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số

31

TCVĐ nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo
lớn (n = 20)
Bảng 3.3

Bảng phỏng vấn lựa chọn test kiểm tra đánh giá sức

37

mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô
Quyền (n = 20)
Bảng 3.4

Tiến trình giảng dạy TCVĐ nhằm phát triển sức

38

mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô
Quyền.
Bảng 3.5

Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của hai nhóm


thống giáo dục quốc dân ................................................................................ 4
1.1.1. Vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non (GDMN) ................................... 4
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non ........................................ 4
1.2. Vị trí, vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC) .................................. 5
1.3. Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô
Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc...................................................................... 5
1.3.1. Đặc điểm tâm lí .................................................................................... 5
1.3.2. Đặc điểm sinh lí ................................................................................... 7
1.4. Một số nét đặc trưng của trò chơi vận động ........................................... 9
1.4.1. Khái niệm trò chơi vận động ............................................................... 9
1.4.2. Ý nghĩa trò chơi vận động.................................................................. 10
1.4.3. Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động .......................................... 11
1.5. Cơ sở giáo dục sức mạnh ...................................................................... 14
1.5.1. Khái niệm và phân loại sức mạnh ...................................................... 14
1.5.2. Phương pháp giáo dục sức mạnh ....................................................... 15
Chƣơng 2. NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU .. 20
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 20
2.2. Các phương pháp nghiên cứu chính ..................................................... 20
2.3. Tổ chức nghiên cứu............................................................................... 23
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 25
3.1. Thực trạng công tác giáo dục thể chất và sử dụng trò chơi vận động
nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non
Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc............................................................ 25


3.1.1. Thực trạng công tác GDTC trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên
- Vĩnh Phúc .................................................................................................. 25
3.1.2. Thực trạng việc sử dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển
sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.................................................................................. 26
3.2. Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ

vậy, giáo dục thể chất có một vai trò rất quan trọng trong nền giáo dục quốc
dân. Giúp con người phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần.
Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 của Ban bí thư TW đảng giao trách
nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục thể dục thể thao thường xuyên
phối hợp chỉ đạo công tác giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học,
để việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh,
sinh viên.
Giáo dục Mầm non là nấc thang khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốc
dân với mục tiêu giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mĩ, hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1.
Qua đó cho thấy giáo dục thể chất cho trẻ trước tuổi đi học đặt cở sở cho sự phát
triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn tinh thần sảng khoái, rèn kĩ năng vận động
cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống.


2
Một trong những phương tiện của giáo dục thể chất để phát triển sức
mạnh cho con người thì trò chơi vận động là phương tiện tốt để tạo ra sự hứng
thú cho các em. Trong khi chơi, các em được giao lưu với nhau, có sự hợp
tác, đoàn kết với nhau để đạt được kết quả tốt nhất.
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các em
còn được hoạt động vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ
đạo là hoạt động vui chơi nên việc lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động
cho các em là một việc làm ý nghĩa giúp các em phát triển toàn diện, giúp các
em nhanh nhạy hơn với môi trường xung quanh.
Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động vào giảng dạy các giờ phát
triển thể chất có vai trò quan trọng, giúp cho học sinh tiếp thu nhanh hơn kĩ
thuật động tác, phát triển các tố chất thể lực,gây hứng thú cho học sinh trong
các giờ tập luyện. Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn trò chơi
vận động trong dạy học ở trường Mầm non còn thiếu quan tâm, chưa chú

đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát
triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”, “Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc
giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi đi học có liên quan đến việc phát triển nhận
thức và xã hội tốt hơn”[1].
Nhà giáo dục Xô viết A.S.Makarenko khẳng định: Những cơ sở căn
bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy
cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo
dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng
những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên.
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào
tạo con người mới Việt Nam. GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện
bình đẳng nam nữ. Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, lao
động sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những
phúc lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội.
Như vậy GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân. Tầm
quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc GD hình
thành và phát triển nhân cách trẻ em.
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non
Điều 21, 22 luật giáo dục (2005) đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
GDMN: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3


5
tháng đến 6 tuổi”[6]. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1.
1.2. Vị trí, vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC)
GDTC có vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu
của giáo dục quốc dân, là sự phát triển con người toàn diện. Vai trò của
GDTC là:

và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ ràng
cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có
khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những
câu nói dài của người khác. Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến
thức của lớp 1 và những bậc học tiếp theo.
Ý thức về bản thân:
- Ngay từ lên 3 trẻ đã biết phân biệt giữa bản thân và người khác, trẻ
dần dần nhận ra những cái gì thuộc về bản thân, cái gì không thuộc về mình. Trẻ 5
- 6 tuổi đã có ý thức về những vật dụng như quần áo, đồ chơi, cái gì là của
mình và cái gì là của bạn cùng chơi. Từ đó đưa tới thái độ so sánh, ganh tị hay
tự tin hơn và thường có những suy nghĩ nhận định độc lập, thích tự làm chứ
không cần nhờ người khác.
- Ý thức về bản thân cũng giúp trẻ 5 - 6 tuổi có ý thức chan hòa với bạn
cùng chơi. Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn biết
thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi.
- Trẻ giai đoạn này cũng rất dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc. Tâm tư của
trẻ tuổi này cũng được bộc lộ ra ngoài. Tính tình tương đối ổn định. Đời sống
tình cảm của trẻ tuổi này phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi
trước.


7
1.3.2. Đặc điểm sinh lí
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã ở mức
cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ. Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của
đại não kết thúc… Tuy nhiên, ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa
cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế. Do đó, phải đối sử thận trọng
với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo
dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi. Hệ thần kinh có tác dụng chi

Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm. Lên 6 tuổi thể
tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml. Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thở
khoảng 20 - 22 lần.
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục
năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô. Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho
hoạt động cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi
dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ
bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao
đổi chất. Sẽ làm ảnh hưởng đến cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy
cảm. Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức
vận động phù hợp với trẻ.
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, nhận
thức được vai trò to lớn của giáo dục thể chất với trẻ mầm non, trong quá
trình giảng dạy chúng tôi đã lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động
nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non
Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc góp phần nâng cao hiệu quả công tác
giáo dục thể chất cho trường Mầm non Ngô Quyền. Trẻ hào hứng vui chơi


9
tham gia nhiệt tình, xua tan những căng thẳng, mệt mỏi. Kích thích trẻ luôn
sáng tạo trong học tập và vui chơi. Trong qúa trình tham gia vào trò chơi, các
em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất
bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ… Vì tập thể mà các em
phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho
đội trong đó có bản thân mình, đây chính là đặc tính thi đua rất cao của trò
chơi vận động.
Vì vậy, trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu

TCVĐ là phương tiện chủ yếu GDTL có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo, qua
TCVĐ hình thành các phẩm chất thể lực như sự nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo
dai, góp phần củng cố nâng cao sức khỏe cho trẻ. Giáo dục trẻ về các mặt
đức, trí, thể, mỹ… Đào tạo cho trẻ phát triển toàn diện từ những năm đầu đời.
TCVĐ còn là một phương tiện vui chơi giải trí, một hình thức nghỉ
ngơi tích cực, một hoạt động có tính văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh
thần cho trẻ.
Về phương diện sinh lí vận động: TCVĐ giải tỏa tâm lí tạo nên sự lạc
quan yêu đời, vui tươi thoải mái, giúp phần giảm các căng thẳng thần kinh,
giảm và chống đỡ được một số bệnh tật.
Ở trường Mầm non, trò chơi vận động được sử dụng một cách thường
xuyên. TCVĐ vừa là nội dung học tập vừa là hình thức vui chơi được trẻ yêu
thích và tích cực tham gia. Trong khi chơi trẻ hào hứng, hình thành những
phẩm chất đạo đức, trẻ biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm với bạn cùng
chơi. Để tham gia được vào trò chơi thì buộc trẻ phải hiểu được luật chơi,
cách chơi và vai trò của mình trong khi chơi, xác định được mối quan hệ giữa
bản thân và bạn cùng chơi, làm thao tác tư duy, phân tích, so sánh, chú ý, ghi
nhớ, khái quát được phát triển.
Khi trẻ chơi các TCVĐ thì sẽ tác động lên nhiều cơ, tăng quá trình trao
đổi chất. TCVĐ là phương tiện chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong


11
học tập. Hơn thế, TCVĐ tác động vào hệ thần kinh, các quá trình hưng phấn
và ức chế được cân bằng. Đó là điều kiện tốt để hình thành thói quen vận
động cho trẻ.
Những trò chơi vận động dân gian có từ lâu đời thường gắn liền với các
bài hát hay các câu thơ. Khi trẻ chơi thì sẽ phải nhớ những bài hát hay những
câu thơ, cách chơi, luật chơi đó làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển, vốn từ
thêm phong phú và mở rộng.

Nội dung TCVĐ đối với trẻ em các độ tuổi.
Với trẻ em 12 - 18 tháng tuổi: Đuổi bắt, cô đuổi kịp, ú tìm, thăm bạn
búp bê, mang đồ chơi đến cho cô, bò tới đồ chơi, bò chui qua cổng.
Đối với trẻ 18 - 24 tháng tuổi: kéo cưa lừa xẻ, đi qua cầu, con rùa, gấu
dạo chơi trong rừng (23 - 24 tháng), mèo và chim sẻ (23 - 24 tháng).
Đối với trẻ 24 - 36 tháng: mèo và chim sẻ, nu na nu nống, chim sẻ và ô
tô, con bọ dừa, bong bóng xà phòng, con rùa, bóng tròn to, bịt mắt bắt dê,
dung dăng dung dẻ, trời nắng trời mưa, phi ngựa, vượt đoàn tàu.
Với trẻ 3 - 4 tuổi: quả bóng nảy, ô tô và chim sẻ, gấu và ong, nhảy qua
suối nhỏ, đuổi bóng, tín hiệu máy bay.
Với trẻ 4 - 5 tuổi: thi xem tổ nào nhanh, ném còn, bắt chước, tạo dáng,
cáo và thỏ, ai ném xa nhất, đi như gấu, bò như chuột, tung cao hơn nữa.
Với trẻ 5 - 6 tuổi: nhảy tiếp sức, ai nhanh hơn, kéo co, đua ngựa, nhảy
lò cò, ai ném xa nhất, cáo và thỏ.
1.4.3.2. Phân loại trò chơi vận động
Trò chơi vận động rất phong phú và đa dạng, vì vậy có rất nhiều cách
phân loại căn cứ trên những quan điểm khác nhau. Dưới đây là một số cách
phân loại:
Căn cứ vào những động tác cơ bản của quá trình chơi.
Theo cách này, ta có: trò chơi về chạy, nhảy, ném, leo trèo… và những
trò chơi phối hợp hai hay nhiều hoạt động xen với nhau. Mục đích của loại trò
chơi này là để người dạy dễ chọn lọc và sử dụng trong việc rèn luyện những
kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ.


13
Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình chơi.
Ta có: trò chơi rèn luyện sức nhanh, trò chơi rèn luyện sức mạnh, trò
chơi rèn luyện sức bền… Tuy nhiên, theo cách phân loại này đôi khi không
được chính xác mà chỉ tương đối, bởi một trò chơi không chỉ rèn luyện một tố

Tồn tại lớn nhất là khó kiểm soát lượng vận động trong khi tiến hành
TCVĐ.
Vì vậy, lựa chọn và áp dụng có hiệu quả TCVĐ cho trẻ mẫu giáo lớn
(5 - 6 tuổi) là rất cần thiết.
1.5. Cơ sở giáo dục sức mạnh
1.5.1. Khái niệm và phân loại sức mạnh
1.5.1.1. Khái niệm
Để xác định khái niệm một phẩm chất thể lực, người ta thường chỉ ra
cách đánh giá chung. Sức mạnh của con người được đo bằng lực kế hoặc bằng
các máy móc đo lực cơ học. Điều đó cho thấy: sức mạnh là khả năng khắc
phục lực cản bên ngoài hoặc chống lại lực cản đó, nhờ sự nỗ lực của cơ bắp
(hay nói một cách khác, sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơ học
bằng nỗ lực cơ bắp).
1.5.1.2. Phân loại sức mạnh
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học, người ta đã đi đến một số kết
luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh.
- Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt
với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường.
- Trong chế độ nhượng bộ, khả năng sinh lực của cơ là rất lớn. Đôi khi
gấp 2 lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh.
- Trong các động tác nhanh, trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ.
- Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả
năng sinh lực các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan
với nhau.


15
Trên cơ sở đó có thể phân chia sức mạnh ra thành các loại sau:
- Sức mạnh tĩnh (sức mạnh đơn thuần): Là khả năng sinh lực trong các
động tác chậm hoặc tĩnh.

khác nhau. Sau đây sẽ xem xét một số điểm khác nhau khi sử dụng trọng
lượng khác nhau để giáo dục sức mạnh.
Điều khác biệt thứ nhất:
- Đồng thời huy động số lượng lớn nhất các đơn vị vận động.
- Các xung động li tâm có tần số tối đa.
- Đồng bộ hóa nhịp điệu hoạt động của các đơn vị vận động.
Trong các động tác với lực đối kháng chưa đạt tối đa thì tần số xung
động của các đơn vị vận động chủ yếu không đồng bộ. Những đơn vị bị mệt
mỏi được loại trừ khỏi hoạt động và thay vào đó là những đơn vị vận động
mới. Trong trường hợp này tập luyện sẽ hoàn thiện cơ chế luân phiên và tất
nhiên sẽ phát triển sức bền và sức mạnh.
Điều khác biệt thứ 2: các động tác với lực đối kháng khác nhau sẽ khác
nhau về đặc điểm tập trung nỗ lực trong không gian và thời gian. Khi nâng
trọng lượng tối đa và gần tối đa thì tốc độ nhanh chóng đạt được trị số nào đó.
Sau đó tốc độ gần như ổn định.
Điều khác thứ 3: lực đối kháng bên ngoài là một kích thích sinh lí có
cường độ nhất định. Khi nâng trọng lượng giới hạn sẽ có một dòng xung động
hướng tâm mạnh. Trong giới hạn nhất định, cường độ phản ứng của cơ tỉ lệ
thuận với cường độ kích thích. Cường độ kích thích càng lớn thì phản ứng
càng mạnh.
Đặc điểm cơ chế sinh lí của bài tập với lực đối kháng khác nhau cho
thấy: muốn phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải taọ được sự căng cơ tối đa.
Nếu không thường xuyên tập luyện với mức căng cơ tương đối cao thì sức
mạnh sẽ không được phát triển.
1.5.2.3. Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh
Nhiệm vụ chung của quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn
diện và đảm bảo khả năng phát huy cao sức mạnh trong các hình thức hoạt
động vận động khác nhau. Nhiệm vụ cụ thể là:



18
chế sinh lí lại giống như khi đang thực hiện bài tập với lượng đối kháng tối đa.
Giá trị phát triển sức mạnh của phương pháp này là ở những lần lặp lại cuối
cùng. Vì vậy, khi sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại nhất thiết phải lặp lại tới
cực hạn. Thực nghiệm khoa học đã chứng minh: không lặp lại tới cực hạn không
có tác dụng phát triển sức mạnh, mặc dù tổng số lần lặp lại của buổi tập có thể
rất lớn và buổi tập được lặp lại trong thời gian dài.
Ưu điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Tăng sức mạnh cùng với phì đại cơ bắp. Khối lượng vận động lớn tất
yếu dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình trao đổi chất: quá trình
dinh dưỡng mạnh xảy ra trong cơ thể do sử dụng phương pháp này thúc đẩy
quá trình trao đổi tạo hình làm cơ phì đại và do đó làm tăng sức mạnh.
+ Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ hạn chế được hiện
tượng ép khí lồng ngực.
+ Bài tập với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ tạo khả năng kiểm
tra kĩ thuật tốt hơn.
+ Đối với người mới tập, sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại hạn chế
được chấn thương.
+ Tiêu hao năng lượng tương đối lớn cũng có lợi cho buổi tập với xu
hướng sức khỏe.
Nhược điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Không có lợi thế về mặt năng lượng.
+ Hiệu quả của phương pháp này thấp hơn so với sử dụng phương pháp
đối kháng tối đa.
- Sử dụng lượng đối kháng tối đa và gần tối đa.
Trong trường hợp cần tăng sức mạnh cơ bắp nhưng hạn chế được hiện
tượng tăng khối lượng của nó, người ta thường tập luyện theo xu hướng sử
dụng lượng đối kháng tối đa (1 lần tập) và gần tối đa (2, 3 lần tập).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status