1
MỤC LỤC
PHẦN I. GIỚI THIỆU CHUYÊN ĐỀ.......................................................................1
PHẦN II. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC
HÌNH THỨC CHẾ TÀI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY
TNHH THƯƠNG MẠI NGHỊ THÚY.......................................................................4
1. Giới thiệu về công ty..........................................................................................4
2. Khái niệm chế tài thương mại.............................................................................5
3. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về các hình thức chế tài trong hoạt
động thương mại tại công ty...................................................................................7
* Căn cứ để áp dụng các hình thức chế tài:........................................................8
* Xét về tính chất.................................................................................................8
* Các hình thức chế tài:......................................................................................9
* Về mục đích:...................................................................................................11
PHẦN III. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ...............................................................16
1. Nhận xét thực tiễn thi hành chế tài thương mại theo quy định của Luật doanh
nghiệp 2005..........................................................................................................16
2. Kiến nghị..........................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................19
2
PHẦN I. GIỚI THIỆU CHUYÊN ĐỀ
Pháp luật về hợp đồng thương mại ở nước ta có quá trình phát triển qua từng
giai đoạn, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Trong đó một trong
những mốc lịch sử quan trọng là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VI của Đảng,
đại hội đã thành công và thổi một làn gió mới vào tư duy kinh tế của chúng ta bằng
việc đề ra công cuộc đổi mới nền kinh tế. Đảng chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý
Bài làm của em không thể tránh khỏi những sơ xuất và thiếu sót trong quá
trình thực hiện. kính mong nhận được sự đánh giá và nhận xét của các thầy cô để
giúp em hoàn thiện đề tài được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
4
PHẦN II. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
CÁC HÌNH THỨC CHẾ TÀI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI NGHỊ THÚY
1. Giới thiệu về công ty
Tên công ty: Công ty TNHH thương mại Nghị Thúy
- Địa chỉ: Mỹ Lâm - Phú Xuyên - Hà Nội
- Mã số thuế: 0103860085
- Ngày hoạt động: 05-08-2009
- Lĩnh vực: Bán buôn thuốc thú y
Theo quy định của nhà trường tôi đã tiến hành thời gian thực tập tại công ty
thương mại Nghị Thúy tại thị trấn Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong thời gian từ
ngày 29/05/2017 đến ngày 21/07/2017 Tại đây, tôi được tiếp cận được sự vận hành,
hoạt động của công ty. Với lĩnh vực kinh doanh của công ty là sản xuất và kinh
doanh thuốc thú y. Tại công ty, tôi được tiếp cận và làm quen với những vấn đề
thực tế theo quy định của pháp luật nói chung về vấn đề tôi đã lựa chọn là những
quy định của pháp luật về hình thức chế tài được áp dụng tại đơn vị.
Thời gian tìm hiểu về vấn đề áp dụng các quy định pháp luật về hình thức
chế tài trong hoạt động thương mại mà công ty TNHH thương mại Nghị Thúy ký
kết với các đối tác trong quá trình thực tiễn của doanh nghiệp mình. Tôi có thể tiếp
cận với hồ sơ và được giao công việc như: lưu trữ hồ sơ, thống kê số liệu, ghi chép
danh mục hàng hóa…Qua đó, tôi tiếp cận được với các hình thức chế tài trong hoạt
động thương mại theo quy định của pháp luật được công ty Nghị Thuý áp dụng
2. Khái niệm chế tài thương mại.
* Theo nghĩa rộng
Chế tài thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là chế tài do cơ quan nhà
nước, bên bị vi phạm áp dụng đối với chủ thể vi phạm khi có hành vi vi phạm pháp
luật thương mại. Hành vi vi phạm pháp luật thương mại ở đây bao gồm các hành vi
vi phạm trong quá trình các chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng; các hành vi vi
6
phạm quy định pháp luật về trật tự quản lý kinh tế. Tùy thuộc vào mức độ vi phạm,
hậu quả mà chủ thể có hành vi vi phạm bị áp dụng chế tài hành chính, dân sự (ví
dụ: bồi thương thiệt hại) hay hình sự (ví dụ: các hình phạt đối với tội "Buôn lậu").
Như vậy, chế tài dân sự hiểu theo nghĩa rộng không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp cho bên bị vi phạm mà còn bảo đảm lợi ích của Nhà nước.
Phạm vi áp dụng: Theo tinh thần chung của Luật thương mại 2005: mọi hành
vi vi phạm pháp luật thương mại đều bị phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh.
Tât cả các hành vi vi phạm pháp luật thương mại đều thuộc phạm vi áp dụng chế
tài. Các hành vi vi phạm pháp luật thương mại không chỉ bao gồm những hành vi vi
phạm chế độ quản lí nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm trật tự quản lí
thương thương mại của Nhà nước, mà còn gồm các hành vi vi phạm xảy ra trong
quá trình thương nhân kí kết và thực hiện hợp đồng.
Chủ thể có quyền ra quyết định áp dụng chế tài: theo từng hành vi phạm mà
chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại có thể là cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hay chính bên bị vi phạm cam kết trong hợp đồng giữa các chủ thể.
Về đối tượng bị áp dụng chế tài trong thương mại mà có thể áp dụng các
hình thức chế tài là các chế tài hành chính, chế tài hình sự và các chế tài mang tính
chất dân sự.
Về mục đích áp dụng chế tài trong thương mại: Căn cứ vào hình thức chế tài
được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại.
98
103
7 tháng đầu
năm 2017
74
Quá trình giao kết hợp đồng đều ghi rõ các quy định về chế tài theo đúng quy
định của Luật thương mại 2005. Qua đó khẳng định rõ một điều đó là việc áp dụng
các quy định về chế tài thương mại phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể nói chung ở nước ta trong quá trình tiến
hành giao kết hợp đồng thương mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về các hình thức chế tài
trong hoạt động thương mại tại công ty
Có thể nói rằng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta dựa
trên sự thiết lập nền tảng pháp lí quyền tự do kinh doanh trong quan hệ thương mại
và phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng. Các quan
hệ hợp đồng trong thương mại cũng vì thế mà trở nên đa dạng và phức tạp hơn.
Hiện tượng vi phạm hợp đồng cũng diễn ra nhiều hơn. Để giúp đảm bảo cam kết
giữa các bên được thực hiện, hoặc đền bù lại những tổn thất đã gây ra cho bên bị
thiệt hại do hành vi của bên vi phạm hợp đồng pháp luật về chế tài trong thương
mại ra đời và ngày càng hoàn thiện hơn. Chế tài thương mại theo quy định của Luật
thương mại 2005 được ghi nhận được áp dụng cho bên vi phạm khi có những hành
vi vi phạm xảy ra trong giao kết, thực hiện hợp đồng. Chế tài này còn được gọi là
chế tài hợp đồng. Khi một bên chủ thể vi phạm các quy định về thương mại được
quy định trong Luật Thương mại 2005 và các quy định khác có liên quan, sẽ bị áp
dụng các chế tài được quy định tại Điều 292, Luật thương mại 2005.
như chi phí sủa chữa sai sót, loại trừ khuyết tật của hàng hóa…
9
Việc áp dụng các hình thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích vật chất của các bên.
Những hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại sẽ được áp
dụng trực tiếp đối với bên có hành vi vi phạm trong quan hệ hợp đồng. Khi có hành
vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm đối với bên bị
vi phạm không phụ thuộc vào nguyên nhân sự vi phạm là do tổ chức, cá nhân nào
gây ra. Việc bên vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm thể
hiện ở các khía cạnh sau: Bên vi phạm hợp đồng phải dùng tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình để nộp tiền phạt hoặc bồi thường thiệt hại. Bên vi phạm phải trực tiếp
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phải trả các chi phí phát sinh khi sửa chữa, loại trừ
khuyết tật hàng hóa khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Bên bị vi
phạm sẽ phải chịu tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng
thậm chí hủy hợp đồng khi có hành vi vi phạm và lúc này lợi ích của chính bên vi
phạm cũng sẽ bị ảnh hưởng.
* Các hình thức chế tài:
Tùy từng trường hợp, mức độ vi phạm khác nhau mà các chủ thể có thể phải
chịu những loại chế tài khác nhau sau đây:
Điều 292. Các loại chế tài trong thương mại
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
6. Huỷ bỏ hợp đồng.
7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ
thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa
thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp
đồng và những thỏa thuận để giải quyết tranh chấp.
Trong thực tế tại công ty thì việc lựa chọn chế tài nào thông thường phải tùy
vào từng hợp đồng ký kết. Tuy nhiên đa phần là ghi nhận các chế tài như phạt vi
11
phạm, buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại nếu có hành vi vi phạm
xảy ra…
Như vậy, chế tài thương mại trong trường hợp này trong quan hệ pháp luật
thương mại ở nước ta thì các quy định về chế tài khi các bên có thỏa thuận đã được
thể chế hóa thành các quy định pháp lý rõ ràng rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ
chức, cá nhân trong bảo đảm việc thực hiện nghiêm túc. Tuy rằng, tại các hoạt động
thương mại nói chung và hoạt động xây dựng nói riêng, khi đàm phán hợp đồng,
các bên thường chỉ quan tâm nhiều đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên. Số
doanh nghiệp nhận thức được và chủ động đàm phán về các chế tài trong hợp đồng
là rất ít. Điều này có nghĩa là, các bên chỉ thoả thuận với nhau các bên phải làm gì,
nhưng không thoả thuận rằng, nếu không làm hoặc thực hiện không đúng thì sẽ xử
lý như thế nào. Với tầm quan trọng nêu trên thì những quy định của Luật thương
mại về chế tài thương mại nói chung và chế tài thương mại khi các bên có thỏa
thuận đã điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến việc áp
dụng từ lý luận đến thực tiễn. Tạo ra nền tảng pháp lý cơ sở cho các hoạt động có
liên quan đến việc thực hiện chế tài thương mại nói chung trong tiến trình hội nhập
kinh tế - quốc tế.
* Về mục đích:
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của
các bên trong quan hệ hợp đồng. Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại trước hết là ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng; khi xảy ra
ràng, quy định theo hướng mở hơn nhằm đánh dấu sự đổi mới tư duy từ quy định rõ
ràng sang quy định theo hướng mở để tạo điều kiện nâng cao tính thỏa thuận để
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế trong thời gian qua. Đánh giá tầm quan
trọng cũng như khẳng định ý nghĩa của các quy định về chế tài thương mại trong
hoạt động kinh tế xã hội nên trong những năm gần đây thì quá trình tham gia ký kết
hợp đồng nói chung thì bản thân chủ doanh nghiệp nơi sinh viên thực tập và đã
khẳng định rằng: những quy định của pháp luật Việt Nam đã có quy định có phần
rõ ràng và cụ thể phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Đây thực sự là sự cố
gắng lớn lao của các cơ quan, đơn vị trong quá trình áp dụng những quy định của
13
pháp luật về hình thức chế tài thương mại ở nước ta trong những năm trở lại đây.
Góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về thương mại của Việt Nam trong xu
hướng toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, phải khẳng định rằng: hệ thống văn bản pháp
luật về thương mại ở nước ta tương đối hoàn thiện, điều này thể hiện không chỉ
riêng các quy định về hoạt động thương mại mà có cả quy định về CTTM khi có
thỏa thuận được quy định bao gồm các căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý khi áp
dụng các chế tài đó… Từ đó, tạo hành lang pháp lý cho công tác thi hành quản lý
về CTTM khi các bên có thỏa thuận trong thực tế được diễn ra như thế nào.
Xét về mặt hình thức pháp lý: ngày càng hệ thống văn bản pháp luật về CTTM
trong đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được nâng cao về hiệu lực pháp lý. Có thể
dẫn chứng là trước đây, để quy định rõ ràng chế tài thương mại khi có thỏa thuận
được cụ thể hóa trong Luật Thương mại 1997 nhưng các chế tài thương mại khi có
thỏa thuận không mang tính mở, chỉ có 2 trường hợp. Nhưng đến 2005 thì đã có đến
5 chế tài và đặc biệt quan tâm đến quy định về các chế tài theo hướng mở là áp dụng
các quy định khác…(tại khoản 7 Điêu 292 Luật Thương Mại 2005), điều này đã
đánh dấu một bước phát triển của pháp luật về chế tài thương mại khi có thỏa thuận
nói riêng đáp ứng với yêu cầu của công cuộc hội nhập.
thương mại quốc tế.
Ngày càng chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân
nói chung đối với vấn đề chế tài thương mại nói chung. Vấn đề thực hiện các chế
tài thương mại hiện nay luôn luôn được xem là vấn đề nóng ở nước ta, nhất là giai
đoạn Việt Nam đang xây dựng và phát triển đất nước. Dưới tác động của nhiều yếu
tố thì CTCPTM của các bên trong hoạt động thương mại trong và ngoài nước trở
nên bức thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, việc tăng tính chủ động cho các doanh
nghiệp trong việc thực hiện các quy định về hợp đồng là điều vô cùng quan trọng.
Bằng việc hình thành những quy định pháp luật để cao tính thỏa thuận, theo hướng
mở thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết những hành vi vi phạm
hợp đồng giữa các chủ thể cũng như áp dụng những chế tài thương mại.
15
Tăng cường hơn nữa kết quả kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về
thực hiện những quy định về hoạt động thương mại nói chung và chế tài thương
mại khi có thỏa thuận nói riêng. Đối với công tác kiểm tra, thanh tra CTCPTM nói
riêng thông qua kiểm tra tính hợp pháp của các quy định tại HĐTM nói chung của
các chủ thể trong thương mại luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên
của công tác quản lý nhà nước về hoạt động thương mại nói chung. Những kết quả
đạt được trong hoạt động này là bước đệm quan trọng đóng góp đặc biệt trong công
tác áp dụng các quy định của luật thương mại vào trong thực tế ở nước ta hiện nay.
Đây cũng là kết quả đáng ghi nhận của những nỗ lực, phối hợp hiệu quả giữa các
cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và áp dụng các quy
định của luật thương mại vào trong đời sống xã hội hiện nay.
16
18
2. Kiến nghị
- Rà soát các quy định về chế tài thương mại đáp ứng với yêu cầu thực tiễn
theo quy định của pháp luật hiện này. Đối với công tác này thì đặt ra yêu cầu các
cơ quan chuyên môn cần, rà soát và bổ sung quy chế quản lý về hoạt động thương
mại trong và ngoài nước….Thông qua công tác này thì sẽ loại bỏ những điểm
chồng chéo giữa các văn bản của các bộ, ngành khác nhau, những quy định không
hoặc ít có tính khả thi được ban hành và điều chỉnh hoạt động về hoạt động thương
mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật nhằm kiểm soát chặt chẽ và hiệu
quả chế tài thương mại khi có thỏa thuận trong hoạt động thương mại. Đối với hoạt
động này thì yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy
phạm chồng chéo, mâu thuẫn, bãi bỏ những quy định không phù hợp và bổ sung
những quy định còn thiếu nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế nước
ta. Khẩn trương ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật thương mại còn
thiếu nhằm tạo điều kiện để luật này sớm đi vào thực tiễn.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về chế tài thương mại. Xây dựng, ban
hành các quy định về kế hoạch hành động về thương mại trong và ngoài nước theo
nguyên tắc tiếp cận hệ thống toàn bộ ở tất cả các khâu trong chu trình quản lý sao
có hiệu quả, từ đó phân nhóm hành động theo chức năng và trách nhiệm của từng
cơ quan.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế nói chung.
Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế trên hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Thông qua quá trình hợp tác sẽ làm hài hòa các quy định của quốc tế có lợi trong
việc xây dựng các quy định về hoạt động thương mại nội địa. Góp phần quan trọng
để các quy định này có thể có sự tương thích mạnh mẽ để tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có thể tiếp cận và làm chủ trong sân chơi kinh tế
trong khu vực và trên thế giới của tiến trình hội nhập.