ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-------------------
HOÀNG THỊ HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN – 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của TS. Vũ Văn Tùng. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hương
ii
LỜI CẢM ƠN
Nam ……………........................................................................................... 11
1.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất............................. 15
1.1.4. Các khoản thu từ đất đai chủ yếu ở Việt Nam.......................................17
1.1.5. Các chủ thể quản lý và sử dụng đất đai.................................................19
1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ..12
1.2. Thực tiễn về quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất của một số địa
phương.............................................................................................................23
1.2.1. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nuớc về quản lý nhà nước về
các khoản thu từ đất.........................................................................................23
1.2.2. Một số bài học kinh nghiệm về các khoản thu từ đất cho tỉnh Thái Nguyên
......................................................................................................................... 28
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN..............30
2.1. Câu hỏi nghiên cứu...................................................................................30
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 30
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin.............................................................30
iv
2.2.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin............................................. 32
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin...........................................................32
2.3. Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu đánh giá kết quả quản lý nhà nước về các
khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.............................................. 32
Chương 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÁC KHOẢN
THU TỪ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN..........................35
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên............................. 35
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Thái Nguyên.................................................... 35
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên......................................... 38
3.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên...................................................................................... 41
Nghĩa tiếngViệt
CNBĐS
Chuyển nhượng bất động sản
NNT
Người nộp thuế
NS
Ngân sách
NSNN
Ngân sách nhà nước
SDĐ
Sử dụng đất
SDĐNN
Sử dụng đất nông nghiệp
SDĐPNN
Sử dụng đất phi nông nghiệp
hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thuế là công cụ quan trọng để
Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích đầu tư, mở rộng xuất
khẩu, kích cầu tiêu dùng, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất kinh
doanh và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thu ngân sách Nhà nước từ đất đai là một nguồn thu quan trọng của
Ngân sách Nhà nước. Việc quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất đai đã
khẳng định được vai trò của Nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai,
thay mặt người dân để quản lý và khai thác tốt nhất nguồn lực đất đai vào
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và từng địa
phương nói riêng. Đồng thời, việc quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất
đai điều tiết được quan hệ cung cầu của thị trường đất đai vốn rất nhạy cảm và
phức tạp, vừa nhằm tăng cường quản lý đất đai bằng công cụ kinh tế vừa huy
động tối đa nguồn vốn một cách công khai, dân chủ. Do đây là nội dung khá
nhạy cảm, nguồn tiền thu về lại lớn nên việc quản lý nhà nước về các khoản
thu từ đất cũng là một nhiệm vụ khá khó khăn và phức tạp.
Với vị trí là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm của trung du Bắc Bộ,
Thái Nguyên nằm ở vị trí thuận lợi có nhiều điều kiện để phát triển những ưu
thế về đất đai để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Các khoản thu từ đất
vừa là nguồn thu cho tỉnh Thái Nguyên, vừa đảm bảo nguồn kinh phí thực
hiện các dự án đầu tư phát triển hạ tầng trên địa bàn tỉnh để hoàn thành các
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, trong thực tế việc quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất
đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng không còn ít những tồn tại như vẫn
còn tình trạng chậm nộp tiền sử dụng đất, nợ đọng tiền thuế nhà đất và tiền
thuê đất còn nhiều. Chính vì vậy nghiên cứu đề tài: "Quản lý nhà nước về
các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" là cần thiết mang ý
nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
phí trước bạ nhà, đất (đối với nhà đất).
4. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm rõ hơn một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về hiệu
quả quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất và kiến nghị các giải pháp nhằm hiện thực hiện mục tiêu đẩy
mạnh, tăng cường nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về các khoản thu từ
đất, khai thác nuôi dưỡng nguồn thu tăng NSNN trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
Quản lý các khoản thu từ đất là một lĩnh vực quan trọng trong công tác
quản lý nhà nước hiện nay và nguồn thu từ đất đai là một khoản thu cho Ngân
sách nhà nước. Việc áp dụng quản lý các khoản thu từ đất vào thực tế tại mỗi
địa phương khác nhau bởi điều đó tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, vào điều
kiện phát triển của thị trường tại nơi đó. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài
"Quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên"
nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý các khoản thu từ đất là rất quan
trọng và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung chính của luận văn gồm có 4
chương như sau:
10
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về các khoản
thu từ đất.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên.
Chương 4: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về các khoản
thu từ đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
thức để các quyền đó được thực thi và điều chỉnh khi các điền kiện kinh tế
thay đổi. Hơn nữa, các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai không ở trạng thái
tĩnh, mà phát triển để đáp ứng những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội.
Dưới góc nhìn kinh tế, quyền sở hữu tư nhân về đất đai chỉ còn mang ý
nghĩa thu lợi nhuận từ địa tô. Dù chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai
hay không thì quản lý nhà nước về đất đai là một nhu cầu tất yếu để tạo nguồn
thu cho nhà nước và điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ đất và người sử dụng
đất [8].
1.1.1.2. Nhà nước là chủ sử dụng trực tiếp đối với bộ phận đất công
Toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân được chia ra 2 bộ phận chính: bộ
phận đất công do Nhà nước nắm giữ để sử dụng vào các mục đích chính (bao
gồm: sông, biển, rừng, núi, công trình công cộng, công sở, cơ sở quốc phòng an ninh, đất chưa khai thác); bộ phận còn lại được giao cho các tổ chức và cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài, có thể coi như “đất tư”. Giữa hai bộ phận đất
công và “đất tư” có thể chuyển dịch theo tình hình cụ thể để đáp ứng nhu cầu
của Nhà nước và của dân.
Là công cụ quan trọng của nhà nước góp phần thực hiện quản lý đất đai,
quản lý thị trường bất động sản.
Thông qua thu các khoản thu liên quan đến đất đã giúp Nhà nước nắm
được hoạt động mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có biện pháp
quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản
lý của Nhà nước đối với đất đai.
Tác động tích cực tới sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư: thông qua
các ưu đãi về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất đã góp phần thu hút đầu tư
trong và ngoài nước.
Thực hiện chính sách công bằng xã hội, chính sách miễn giảm thuế sử
dụng đất nông nghiệp do mất mùa, cho các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa;
Miễn giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất) cho
hộ nghèo, người có công với cách mạng.
đích sử dụng đất, hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất; giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Đồng thời, Nhà nước
còn thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính
sách tài chính về đất đai. Nhà nước sẽ trao quyền sử dụng đất cho người sử
dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, quy định về quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất.
Các quyền về đất đai là những quy ước xã hội được hỗ trợ bằng quyền
lực của Nhà nước hoặc của cộng đồng cho phép các cá nhân hoặc nhóm
người đòi hỏi được hưởng lợi ích hoặc dòng thu nhập mà Nhà nước đồng ý
bảo vệ thông qua việc giao nhiệm vụ cho những người khác, những người có
thể đáp ứng hoặc can thiệp bằng một cách nào đó tới dòng lợi ích này. Nhà
nước đóng vai trò quan trọng thông qua việc xác định các quyền về sở hữu tài
sản, cách thức để các quyền đó được thực thi và điều chỉnh khi các điền kiện
kinh tế thay đổi. Hơn nữa, các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai không ở
trạng thái tĩnh, mà phát triển để đáp ứng những thay đổi của môi trường kinh
tế - xã hội.
“Dưới góc nhìn kinh tế, quyền sở hữu tư nhân về đất đai chỉ còn mang
ý nghĩa thu lợi nhuận từ địa tô. Dù chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất
đai hay không thì quản lý nhà nước về đất đai là một nhu cầu tất yếu để tạo
nguồn thu cho nhà nước và điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ đất và người sử
dụng đất ” (Dương Thị Phương Nhung, 2010).
+ Nhà nước là chủ sử dụng trực tiếp đối với bộ phận đất công
Toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân được chia ra 2 bộ phận chính:
bộ phận đất công do Nhà nước nắm giữ để sử dụng vào các mục đích chính
(bao gồm: sông, biển, rừng, núi, công trình công cộng, công sở, cơ sở quốc
phòng - an ninh, đất chưa khai thác); bộ phận còn lại được giao cho các tổ
chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có thể coi như “đất tư”. Giữa hai bộ
1.1.3.1. Định nghĩa về các khoản thu từ đất
Là các khoản thu Ngân sách nhà nước (Thuế, phí, lệ phí) phát sinh từ
nghĩa vụ liên quan đến công tác quản lý đất đai như: Tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp,
Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, lệ phí trước bạ từ
chuyển nhượng bất động sản, tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
(Thông tư số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005)
1.1.3.2. Quy trình và các nội dung quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất.
Theo quy định tại Luật Đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội: Nhà nước
là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế
độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó như:
Thông tư số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của Bộ Tài
chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường Thông tư liên tịch về việc luân chuyển
hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Thông tư số 88/2016/TTLT-BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ Tài
chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường Thông tư liên tịch quy định về hồ sơ và
trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về
đất đai của ngừơi sử dụng đất. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 08 tháng 8
năm 2016, thay thế thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày
18 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng
dẫn việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài
chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
- Quản lý về mặt hành chính lãnh thổ, là quản lý ranh giới thửa đất để xác
định phần diện tích mà chủ sở hữu hay người sử dụng được pháp luật thừa
nhận về pháp lý, được nhà nước bảo hộ về việc thực hiện các quyền hợp pháp.
- Quản lý về mặt tài sản dân sự đối với quyền sử dụng đất đai trong hệ
Đơn giá thuê đất một năm tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá đất và
có thể phân loại theo mục đích sử dụng đất thuê do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định. Căn cứ vào quy định chính sách về xác định đơn giá thuê đất do
Chính phủ và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
là cơ quan có thẩm quyền quyết định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước của các
tổ chức, cá nhân.
1.1.4.3. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp có nghĩa vụ
nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế) gồm: Các hộ gia
đình nông dân, hộ tư nhân và cá nhân; Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông
nghiệp thuộc quỹ đất dành cho nhu cầu công ích của xã; Các doanh nghiệp
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản bao gồm nông trường, lâm trường, xí
nghiệp, trạm trại và các doanh nghiệp khác, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức xã hội và các đơn vị khác sử dụng
đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
1.1.4.4. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất)
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) ra đời Luật số
48/2010/QH2012 của Quốc Hội có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 thay thế
thuế nhà đất trước đây. Việc ban hành Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
nhằm đảm bảo các mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai,
khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế đầu cơ, khuyến khích thị
trường bất động sản phát triển lành mạnh; khắc phục hạn chế của Pháp lệnh
thuế nhà đất hiện hành, nâng cao tính pháp lý của Pháp luật về thuế trên cơ sở
bổ sung nhưng cái mới, kế thừa những cái còn phù hợp. Luật Thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp rõ ràng, dễ thực hiện, dễ quản lý; Tiếp cận thông lệ Quốc
tế, tạo điều kiện cho hội nhập Quốc tế. Đồng thời, động viên sự đóng góp của
người sử dụng đất, nhất là những đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy
định vào ngân sách nhà nước.
trên trực tiếp và chủ yếu theo nguyên tắc trực tuyến.
- Các chủ thể quản lý đất đai là các tổ chức như các Ban quản lý khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Những chủ thể này không trực
20
tiếp sử dụng đất mà được Nhà nước cho phép thay mặt Nhà nước thực hiện
quyền quản lý đất đai. Vì vậy, các tổ chức này được Nhà nước giao quyền
thay mặt Nhà nước cho thuê đất gắn liền với cơ sở hạ tầng trong khu công
nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế đó. Các ban quản lý này là các tổ
chức và cũng trở thành đối tượng quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh
vực đất đai.
1.1.5.2. Các chủ thể sử dụng đất đai
Theo quy định tại Luật Đất đai số 45/2013/QH13, các chủ thể sử dụng
đất đai gồm: Tổ chức; Cơ sở tôn giáo; Cộng đồng dân cư; Hộ gia đình; Cá
nhân; Tổ chức nước ngoài; Cá nhân nước ngoài; Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài. Như vậy, hiện nay trên toàn quốc có tới vài chục triệu chủ thể sử
dụng đất đai. Cho dù là loại chủ thể sử dụng đất đai nào thì họ cũng đều là đối
tượng của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Tất cả các chủ
thể, từ quản lý đất đai đến sử dụng đất đai đều là đối tượng của quản lý nhà
nước về đất đai. Các cơ quan nhà nước được phân công, phân cấp thay mặt
Nhà nước kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng đất của các chủ thể này
xem có đúng pháp luật hay không để uốn nắn, điều chỉnh cho kịp thời [12].
1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất
1.1.6.1. Yếu tố kinh tế
Kinh tế là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình
tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế
- xã hội. Yếu tố kinh tế rất quan trọng, cho phép thực hiện quyền bình đẳng
giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, do vậy,
trường bất động sản’". Yếu tố này có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực tiếp
đến chính sách thu liên quan đến đất đai, các nhân tố thuộc yếu tố này thường
xuyên được đề cập tới đó là:
+ Quan điểm tư tưởng của chính quyền đối với chính sách thu;
+ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống pháp luật;
+ Năng lực hành pháp của chính quyền và ý thức chấp hành pháp luật
của các công dân và các tổ chức trong xã hội.
1.1.6.3. Yếu tố văn hoá - xã hội
Yếu tố văn hoá - xã hội cũng tác động lớn đến công tác quản lý các
khoản thu từ đất. Các nhân tố ảnh hưởng thuộc yếu tố này thường được nhắc
đến, bao gồm: những quan niệm, tư tưởng, đạo đức của cộng đồng về đất đai,
về hệ thống chính sách (chính sách thu liên quan đến đất đai, chính sách điều
chỉnh cơ cấu đầu tư, chính sách hỗ trợ,...), sự ổn định chính trị - xã hội và các
chính sách khuyến khích đầu tư phát triển trong lĩnh vực đất đai của Nhà nước;
thêm vào đó, các yếu tố như: Đặc điểm khu dân cư, cơ cấu dân cư, giới tính,
độ tuổi, mật độ dân số, sự gia tăng dân số, trình độ nhận thức, tâm lý và các
tập quán của người dân, dịch vụ giáo dục, y tế, trình độ năng lực của các chủ
thể kinh doanh, trình độ đầu tư... cũng có những tác động nhất định đến chính
sách thu liên quan đến đất đai. Một khu vực mật độ dân số đột nhiên tăng cao
thì giá trị bất động sản nơi đó sữ tăng lên do cân bằng cung cầu bị phá vỡ.
Về tín ngưỡng: Luật tục của mỗi địa phương đều có những quan niệm
và quy định rõ về quyền sử dụng đất của các thành viên. Ví dụ: Ở Tây
Nguyên, đất đai là của cộng đồng, không phải là tài sản riêng, không có ý
thức để mua bán, họ coi đất đai, rừng núi là do thần linh cai quản. Vì thế, đất
đai của buôn làng nơi đây còn được quản lý bởi cả thiết chế thần quyền bên
cạnh thiết chế thế quyền. Sự phối hợp chặt chẽ giữa thế quyền và thần quyền
tạo nên nền tảng cho việc quản lý đất đai ở đây.
1.1.6.4. Yếu tố khoa học - công nghệ
nhiên của tỉnh (UBND tỉnh Hải Dương, 2012). Bắc Giang có địa hình trung
du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở
phía nam. Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn
chung địa hình không bị chia cắt nhiều nên việc quản lý đất đai của tỉnh cũng
dễ dàng hơn so với tỉnh Thái Nguyên. Mặt khác, vì có điều kiện địa lý thuận
lợi nên tỉnh Bắc Giang có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế công nghiệp và
dịch vụ.
Được tách ra từ tỉnh Hà Bắc, Cục Thuế tỉnh Bắc Giang đi vào hoạt động
từ ngày 01/01/1997, trong thời gian qua, tình hình kinh tế trong nước nói
chung, của tỉnh Bắc Giang nói riêng tuy đã có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn
còn chậm, diễn biến phức tạp và có nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác thuế. Trước
yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý, thu thuế theo lộ trình cải cách
và hiện đại hóa ngành Thuế, ngành Thuế Bắc Giang đã đạt được nhiều điểm
nhấn quan trọng và rất đáng tự hào. Đặc biệt là công tác quản lý các khoản
thu từ đất ngày càng đạt hiệu quả cao, số thu được tăng lên theo từng năm đã
góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ thu Ngân sách nhà nước của
tỉnh, thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi
các mục tiêu, chương trình phát triển, vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá của tỉnh Bắc Giang. Đến năm 2016, tại tỉnh Bắc Giang đã có 4 khu,
cụm công nghiệp đi vào hoạt động đã có 128 dự án đầu tư được chứng nhận
đầu tư, trong đó có 56 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký
đạt 4.449,59 tỷ đồng và 1.579,7 triệu USD; Diện tích đất cho thuê là 242 ha.
Hoạt động của các doanh nghiệp KCN đã góp phần quan trọng vào việc giải
quyết việc làm cho người lao động nói chung và lao động địa phương nói
riêng, đồng thời làm thay đổi đời sống nhân dân các vùng lân cận KCN. Thực
tế cho thấy, số việc làm được giải quyết khi phát triển KCN cao gấp 3,8 lần
so với canh tác nông nghiệp; thu nhập của người lao động và số lao động
Bảng 1.1. Số thu thuế từ đất đai của tỉnh Bắc Giang (2014 - 2016)
ĐVT: Triệu đồng
TT
1
Nhà đất
Thu tiền
Năm (Thuế SD Thuê đất
SD Đất
ĐPNN)
2014
15.120
170.101
710.250
Thuế TN từ
CNBĐS
(Thuế
CQSDĐ)
29.210
Tổng
924.681