MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
NỘI DUNG................................................................................................................1
I. Khái quát chung................................................................................................1
II. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của
người bị hại.............................................................................................................2
1. Quy định về quyền của người bị hại..............................................................2
1.1. Đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu...................................................................2
1.2. Quyền được thông báo về kết quả điều tra.................................................3
1.3. Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch 3
1.4. Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp đảm bảo bồi thường...............3
1.5. Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa..................4
1.6. Khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường
cũng như về hình phạt đối với bị cáo...................................................................4
1.7. Trình bày lời buộc tội tại phiên tòa............................................................6
1.8. Quyền đối với kết luận giám định...............................................................6
1.9. Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ
quyền lợi cho mình...............................................................................................7
1.10.
Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự......................................................7
1.11.
Quyền rút yêu cầu khởi tố.......................................................................7
2. Quy định về nghĩa vụ của người bị hại..........................................................8
2.1. Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viên kiểm sát, Tòa án....8
2.2. Nghĩa vụ khai báo.......................................................................................8
và nghĩa vụ của người bị hại – So sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015” để nghiên cứu và làm rõ.
NỘI DUNG
I.
Khái quát chung
Luật tố tụng hình sự 2003 chỉ coi người bị hại là công dân, pháp nhân hay tổ
chức xã hội không được coi là người bị hại. Người bị hại là con người cụ thể bị
hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại. Thể chất, tinh thần, tài sản của họ phải là đối
tượng của tội phạm. Thiệt hại mà người bị hại phải chịu là thiệt hại thực tế, nếu thể
chất, tinh thần, tài sản của một người chưa bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
thì người đó không được coi là người bị hại.
Xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội
phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được cơ quan
có thẩm quyền công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập họ đến khai
báo với tư cách người bị hại. Trong trường hợp hành vi phạm tội không bị phát hiện
và xử lý hoặc trường hợp không xác định được người bị thiệt hại mặc dù trên thực
tế có người bị hại về vật chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra thì người
đó cũng không trở thành người bị hại trong vụ án hình sự.
II.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền và nghĩa vụ
của người bị hại
1.
Quy định về quyền của người bị hại
1.1.
kết quả điều tra bằng hình thức nào cũng không được nhắc đến.
1.3.
Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch
Khi có căn cứ cho rằng người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch không vô tư trong giải quyết vụ án thì người bị hại có quyền đề nghị thay đổi
họ theo Điều 42 BLTTHS. Điều 42 BLTTHS quy định về những trường hợp người
tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. Các điều 44, 45 ,
46 ,47 BLTTHS quy định cụ thể những trường hợp thay đổi điều tra viên, thẩm
phán, hội thẩm, thư kí tòa án. Điều 60 61 BLTTHS quy định các trường hợp người
giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hình sự
Việc pháp luật quy định quyền này cho người bị hại trước hết do trong vụ án
hình sự, quyền lợi của người bị hại luôn đối lập với quyền lợi của người phạm tội
vì vậy họ rất cần người tiến hành tố tụng, phải vô tư khách quan. Mặt khác quyền
này chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo vô tư khách quan của người tiến
hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng được quy định tại Điều 14 BLTTHS
2003.
1.4.
Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp đảm bảo bồi thường
Người bị hại có quyền đề nghị mức bồi thường theo Điểm d Khoản 2 Điều 52
BLTTHS 2003. Tuy nhiên việc đưa ra mức bồi thường thế nào là thỏa đáng và Tòa
án chấp nhận hiện là một khó khăn cho người bị hại. Bên cạnh quyền được đề nghị
mức bồi thường thiệt hại thì người bị hại còn có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố
tụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm bồi thường như : kê biên tài sản,
Quyền này được ghi nhận tại Điểm e Khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003.
- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyển tiến hành tố tụng: Trong quá trình tố tụng nếu người bị hại phát hiện thấy
quyết định hoặc hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng có những điểm
bất hợp lí, vi phạm pháp luật thì họ có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi
tố tụng đó theo trình tự, thủ tục tại chương XXXV của BLTTHS. Thông tư liên tịch
02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-Btp hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng
Hình sự về khiếu nại, tố cáo do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân
tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp ban hành quy định:”Khiếu nại
trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng
quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình”. BLTTHS cũng quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại,
người bị khiếu nại. Thời hiện khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng mà
người bị hại cho là có vi phạm là 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết
định, hành vi tố tụng đó. Trong một số trường hợp do trở ngại khách quan mà
người bị hại không thự hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian
có trở ngại đó không được tính vào thời hạn khiếu nại.
- Quyền kháng cáo: đây là một quyền quan trọng của người bị hại. Theo
hướng dẫn của hội đồng thẩm phán TANDTC trong Nghị quyết số 05/2005/nqHĐTP ban hành ngày 08/12/2005 của Hội đồngThẩm phán Tòa án Nhân dân Tối
cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư:”xét xử phúc thẩm”
của BLTTHS vê thành phần những chủ thể được quyền kháng cáo thì khồn chỉ
người bijhaij, đại diện hợp pháp của người bị hại mà còn có người được người bị
hại ủy quyền cũng có quyền kháng cáo. Khi tội phạm xảy ra, quan hệ pháp luật
hình sự xuất hiện là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, còn mối quan hệ
giữa bị can, bị cáo và người bị hại chỉ là quan hệ dân sự trong việc bồi thường
những thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra. Những thiệt hại mà người bị hại
phải gánh chịu không chỉ về thể chất mà còn những thiệt hại về tinh thần vì vậy
tòa sơ thẩm, do đó việc người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời
buộc tội tại phiên tòa được thực hiện theo trình tự phát biểu sau khi tranh luận tại
phiên tòa theo quy định tại Điều 271 BLTTHS”.
Người bị hại là người phải chịu hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nên pháp
luật đưa ra quy định này nhằm để cho người bị hại có quyền phán xét hành vi phạm
tội. Việc này thể hiện sự lắng nghe và quan tâm tới tâm tư, tình cảm, nguyện vọng
của người bị hại.
1.8.
Quyền đối với kết luận giám định
Cơ sở pháp lý của quyền này được quy định tại Khoản 1 Điều 158 BLTTHS
2003: “Bị can, những người tham gia tố tụng khác được trình bày ý kiến của mình
về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại”. Người bị hại
chính là một trong những người tham gia tố tụng nên hoàn toàn có được quyền này.
Kết luận giám định là một trong những chứng cứ quan trọng giúp cơ quan tiến hành
tố tụng xác minh sự thật của vụ án. Nếu các kết quả giám định không chính xác sẽ
ảnh hưởng đến kết luận về vụ án và đặc biệt là lơi ích của người bị hại. Cho nên,
quy định này là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bị
hại.
1.9.
Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền
lợi cho mình
Khoản 1 Điều 59 BLTTHS quy định “Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật
sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi cho mình ”. Pháp
hành tố tụng đối với vụ án.”
Pháp luật quy định người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố rồi lại có quyền tự
rút yêu cầu nhằm khuyến khích động viên các công dân tự hòa giải, thu xếp, tạo
quan hệ đoàn kết thân ái với nhau sau khi xảy ra mâu thuẫn.
2.
Quy định về nghĩa vụ của người bị hại
2.1. Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viên kiểm sát, Tòa án
Căn cứ Khoản 4 Điều 51 BLTTHS 2003: “Người bị hại phải có mặt theo
giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà
không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308
của Bộ luật hình sự.” Tại cơ quan điều tra, người bị hại phải khai báo hết các tình
tiết.
2.2.Nghĩa vụ khai báo
III. So sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
1. Những điểm mới trong quy định về quyền của bị hại
- Quyền đưa ra chứng cứ của bị hại, bên cạnh quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và
yêu cầu như trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm “bị hại có
quyền đưa ra chứng cứ”. Quy định này phù hợp với quy định mới về chứng cứ[4],
đồng thời mở rộng quyền của bị hại trong quá trình chứng minh người phạm tội,
hành vi của người phạm tội, chứng minh những thiệt hại của mình là do hành vi
phạm tội gây ra, thậm chí bị hại có thể chứng minh cả những tình tiết khác có ý
nghĩa trong việc giải quyết quyền lợi của mình như việc giải quyết bồi thường thiệt
hại.
- Quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên
tòa. Có thể nói đây là quyền rất đặc biệt đối với bị hại, nếu như trước đây, bị hại chỉ
tham gia phiên tòa một cách thụ động thể hiện qua quyền được trình bày ý kiến tại
phiên tòa và thực tế xét xử mà chúng tôi quan sát qua một số vụ, thì bị hại cũng chỉ
trình bày ý kiến khi chủ tọa phiên tòa hỏi, chủ tọa phiên tòa cũng chủ yếu hỏi về
phản ánh vai trò của bị hại chỉ thực sự được thể hiện trong giai đoạn xét xử, bởi khi
đó, bị hại mới thực hiện yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi của mình và thực chất
vai trò này cũng tương đối mờ nhạt. Với quyền được tham gia một số hoạt động tố
tụng hình sự thì vai trò của bị hại đã được coi trọng hơn, theo quy định trên, họ có
thể được tham gia vào một số hoạt động điều tra của cơ quan điều tra (trước đây bị
hại chỉ có quyền được thông báo kết quả điều tra), bị hại cũng có thể tham gia vào
hoạt động tố tụng Tòa án như đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người
tham gia phiên tòa (như chúng tôi đã phân tích ở phần trên). Trên cơ sở quyền được
tham gia một số hoạt động tố tụng, bị hại chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi
của mình như họ có được thông tin từ cơ quan điều tra mà không phải chờ đến khi
kết thúc điều tra, họ chủ động đưa ra câu hỏi và yêu cầu chủ tọa phiên tòa hỏi chứ
không phải chờ đến khi chủ tọa đề nghị cho biết ý kiến. Tuy nhiên, cũng cần phải
nhận thức rằng việc tham gia một số hoạt động tố tụng của bị hại phải tuân thủ
những điều kiện nhất định chẳng hạn như việc tham gia đó không ảnh hưởng đến
tính khách quan, không gây khó khăn và cản trở đến hoạt động của các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân khi bị đe dọa.
Bị hại trong tố tụng hình sự là chủ thể tham gia tố tụng có địa vị pháp lý độc lập, là
một bên có quyền cáo buộc đối với bị can, bị cáo. Quyền cáo buộc của họ mang
tính chất truy cứu trách nhiệm dân sự (trong trường hợp họ yêu cầu bồi thường thiệt
hại, bồi hoàn tài sản hoặc những yêu cầu dân sự khác), thậm chí mang tính chất
truy cứu trách nhiệm hình sự (trong trường hợp bị hại thực hiện quyền buộc tội
trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại). Chính vì tính chất đối lập như vậy đối
với bị can, bị cáo, bị hại có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị trực tiếp xâm hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng hình
sự. Để bảo đảm an toàn cho bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thêm quyền
rất thiết thực cho bị hại là họ được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
nhân tố góp phần quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án. Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015, có nhiều điểm mới về bị hại đặc biệt làm rõ các quyền và đưa ra chế tài
càn thiết cho việc bắt buộc thực hiện nghĩa vụ đối với bị hại, thể hiện tinh thần,
mục tiêu của cải cách tư pháp, đáp ứng nhu cầu sửa đổi nhằm khắc phục những bất
cập, hạn chế trong tố tụng hình sự, đồng thời đánh dấu một bước quan trọng về việc
bảo đảm nâng cao quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự phù hợp
với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, là cơ sở pháp lý để giải quyết toàn diện vụ
án hình sự, kể cả các vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự.
KẾT LUẬN
Một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp hiện nay là hoàn thiện các thủ
tục tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, đặc biệt là tôn
trọng và bảo vệ quyền con người. Bảo đảm quyền lợi của bị hại, nguyên đơn dân sự
trong tố tụng hình sự chính là việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người của những
chủ thể bị người phạm tội gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và uy
tín. Những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại đã thể hiện
rất rõ tinh thần, mục tiêu của cải cách tư pháp, đáp ứng nhu cầu sửa đổi nhằm khắc
phục những bất cập, hạn chế trong tố tụng hình sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
NXB Tư pháp, Hà Nội – 2006.
2. Bộ luật tố tụng hình sự 2003
3. Bộ luật tố tụng hình sự 2015
4. Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)
5. Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
6. Đinh Văn Quế, Pháp luật hình sự thực tiễn xét xử và án lệ, NXB LĐXH,
2005
7. PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình (chủ biên); Những nội dung mới trong Bộ luật tố