BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC
Đề tài: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và
vận dụng nguyên tắc trong quá trình học tập của sinh viên
Giảng viên: PGS.TS. Trương Quốc Chính
TS. Lê Thị Hằng
Học viên: Cầm Bình Như
Lớp: HC21B8
Chuyên ngành: Quản lý công
Hà Nội, tháng 02/2017
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
A – Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn...........................................4
I. Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận..................................................................4
1. Phạm trù thực tiễn.................................................................................................4
2. Phạm trù lý luận....................................................................................................5
II. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.......5
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận
hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn đáp ứng yêu cầu của thực tiễn...5
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại lý luận phải được vận dụng
vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn....................................7
III – Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều................................................................8
1. Bệnh kinh nghiệm..................................................................................................8
Em xin chân thành cảm ơn!
3
3
A – Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
I. Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận
1. Phạm trù thực tiễn
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội
của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ
hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài,
thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của
mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ
động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Con người không thể thoả mãn
với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn. Con người phải tiến
hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao
động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Bằng hoạt
động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nên những vật phẩm
vốn không có sẵn trong tự nhiên. Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài
người không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là
phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đ u tiên và chủ
yếu của mối quan h giữa con người và thế giới. Thực tiễn là cái xác định một cách
thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điểu cần thiết đối với con người.
Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ
bản và phổ biến của xã hội loài người. Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành
trong các quan hệ xã hội. Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của
các sự vật”.
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh
những mối liên hệ, bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng. Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng
hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tuỳ phạm vi phản ánh và vai trò phương
pháp luận của nó. Có thể phân chia thành lý luận ngành và lý luận triết học:
- Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển
của một ngành, nó là cơ sở để sang tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho
hoạt động của ngành đó.
- Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung về thế giới và con
người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
Lý luận có hai chức năng cơ bản là chức năng phản ánh hiện thực khách
quan và chức năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn. Lý luận phản ánh
hiện thực khách quan bằng những quy luật chung hay chung nhất. Tri thức kinh
nghiệm cũng như tri thức lý luận đều phải phản ánh hiện thực khách quan ở những
phạm vi, lĩnh vực, trình độ khác nhau. Lý luận phản ánh trình độ khách quan để
II. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận;
lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn
1.1 Thực tiễn là cơ sở lý luận
Thông qua thực tiễn được thể hiện ở hoạt động sản xuất vật chất, chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học nhận thức của con người được hình thành và phát
triển. Đó cũng là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, xã hội làm giới tự
5
5
1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách
quan và được thực tiễn kiểm nghiệm. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn
để kiểm nghiệm. Vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt đến chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là
vân đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người đã chứng
minh chân lý”. Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung
vào kho tàng tri thức của nhân loại; những những lý luận nào chưa phù hợp thực
tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại.
6
6
Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện thứng; tiêu
chuẩn này vừa có tính tuyệt đối và tương đối. Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối
vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý của lý luận khi thực
tiễn đạt đến tính toàn vẹn như một quá trình thống nhất của các giai đoạn của tính
lịch sử cụ thể của nó. Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn có nhiều
giai đoạn, tính lịch sử cụ thế phát triển khác nhau. Do đó, những lý luận mới chỉ
khái quát một giai đoạn lịch sử cụ thể náo đó của thực tiễn, thì lý luận đó có thể cơ
bản là đúng những vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định nên cần phải bổ sung
và phát triển thêm khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó.
Tiêu chuẩn thực tiễn không thể coi những tri thức của con người là chân lý
tuệt đích cuối cùng mà chân lý chỉ có tính tuyệt đối, tương đối và cụ thể. Bởi trong
quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và
hiện nay vẫn thường xuyên được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, nó vẫn được điều
chỉnh, bổ sung, phát triển va hoàn thiện hơn. Việc quán triệt tính biện chứng của
tiêu chuẩn thực thực tiễn đối với chân lý, với lý luận giúp chúng tránh những
khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa
đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết
những nhiệm vụ do sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra.
Chính vì vậy, C.Mác đã cho rằng: “Vũ khí phê phán cố nhiên không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng
vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó xâm nhập
vào quần chúng”.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã chỉ ra
những qui luật vận động tất yếu của xã hội loài người nói chung, của xã hội tư bản
nói riêng và tính tất yếu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản. Học thuyết đó trang bị cho giai cấp công nhân và chính đảng cộng sản vũ khí
lý luận sâu sắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội của Mác là cơ sở lý luận về thế giới quan duy vật và
phương pháp luận khoa học cho các ngành khoa học xã hội nghiên cứu xã hội như
là một quá trình lịch sử tự nhiên. Ngày nay, thực tiễn của lịch sử và tri thức về lịch
sử của nhân loại đã có nhiều bổ sung và phát triển mới so với khi học thuyết hình
thái kinh tế - xã hội ra đời. Tuy vậy, những cơ sở khoa học mà họa thuyết hình thái
kinh tế - xã hội của Mác đã đem đến khoa học xã hội thì vẫn có những giá trị đích
thực.
Giá trị của chân lý của lý luận không chỉ mang tính tuyệt đối, tính tương đối
mà còn có tính cụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách
cụ thể mỗi tình hình cụ thể. Nếu vận dụng máy móc, giáo điều kinh viện chẳng
những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến kết quả của hoạt động
thực tiễn.
Sự hình thành và phát triển của lý luận là kết quả nhận thức lâu dài của con
người trên cơ sở thực tiễn. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp, mà còn
là định hướng mục tiêu, mô hình và biện pháp giải quyết các mối quan hệ của hoạt
động thực tiễn. Hơn nữa, vận dụng lý luận vào thực tiễn và thông qua thực tiễn để
tiếp tục bổ sung và phát triển lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, tính
năng động và sáng tạo của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Về vấn đề này, Lênin đã nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì
lịch sử - cụ thể. Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn
gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận. Do đó, dẫn đến hạn chế khả năng áp dụng tri
thức một cách linh hoạt, sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện
chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội. Trong thực
tiễn, đôi khi bệnh giáo điều biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một
cách đơn giản, lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng, cái đặc thù, hoặc áp dụng một
lý thuyết, một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn.
Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của
Liên Xô, bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của
Việt Nam. Nhưng khi phát hiện ra sai lầm, chúng ta đã chậm khắc phục, sửa chữa,
nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước. Đó là
một trong những nguyên nhân đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm
trọng về kinh tế, xã hội những năm tám mươi của thế ky XX. Với tinh thần cách
mạng khoa học, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện,
trong đó đổi mới tư duy lý luận được xem là cơ sở. Từ đó đến nay, chúng ta đã có
những bước tiên quan trọng trong việc khắc phục các khuynh hướng tư duy sai lẩm,
vận dụng một cách khoa học tư duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết những
vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, vốn là những bệnh đã tồn tại khá lâu dài và
những cơ sở nảy sinh ra chúng chưa hoàn toàn mất đi, nên chúng chưa hoàn toàn bị
loại trừ. Ở mức độ nào đó, những căn bệnh này vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến
công cuộc đổi mới của chúng ta.
9
9
3. Biện pháp khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác –
Lênin. Cụ thể:
10
Giữa lí thuyết và thực hành có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau. Như vậy, học
với hành giúp chúng ta vừa chuyên sâu kiến thức lại vừa thông thạo, hoàn thiện kĩ
năng làm việc.
Học đi đôi với hành không chỉ bó hẹp trong nhà trường, không chỉ là một
cách học để nắm vững kiến thức mà còn là sự vận dụng có hiệu quả những kiến
thức ấy khi ra ngoài xã hội. Những gì được học phải đem áp dụng vào cuộc sống,
chứ không phải học để biết rồi bỏ đó. Học đi đôi với hành là một phương châm
giáo dục đúng đắn và khoa học, đề cập đến một phạm vi khá rộng với những biểu
hiện phong phú, đa dạng. Việc kết hợp giữa lí thuyết và thực hành có thể được tiến
hành dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau. Thông qua thực
hành, người học nắm chắc lí thuyết hơn vì lí thuyết ấy được biến thành việc làm và
được kiểm nghiệm trong thực tiễn.
Trên thực tế, nếu học mà không có hành thì việc học chưa trọn vẹn. Lí thuyết
mà không được đem ra thực hành thì đó chỉ là lí thuyết suông. Không có hành,
người học dường như chỉ nắm lí thuyết một cách máy móc, nửa vời, dẫn đến kết
quả là những kiến thức đó sẽ trở nên mơ hồ, không chắc chắn.
Một số đề xuất trong việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong quá trình học tập của sinh viên:
- Thay đổi suy nghĩ: Xác định việc học là lấy kiến thức, trưởng thành trong
suy nghĩ và kỹ năng sống là cơ sở sau này đi làm chứ không phải học để có tấm
bằng.
- Lập nhóm học tập: Việc học tập theo nhóm sẽ giúp sinh viên phát huy tính
tự lực, tích cực, trách nhiệm của sinh viên; phát triển năng lực cộng tác, làm việc;
hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội; tăng cường sự tự tin cho sinh viên; năng
cao kết quả học tập; ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân, tạo thói quen làm việc tập thể…
- Tham gia các câu lạc bộ ngoại khóa: Tham gia câu lạc bộ (CLB) ngoại
12
Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình Triết học – Nhà xuất bản lý luận chính trị;
2. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin – Nhà xuất bản
chính trị quốc gia;
3. Bài giảng Triết học Mác – Lênin – Biên soạn: Nguyễn Thị Hồng Vân, Đỗ Minh
Sơn, Trần Thảo Nguyên
13
13