Xác định nhu cầu xây dựng nhãn hiệu tập thể của hộ trồng cà phê huyện mường ảng, tỉnh điện biên - Pdf 48

i

LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ: “Xác định nhu cầu xây dựng nhãn hiệu tập thể của hộ
trồng cà phê huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên” chuyên ngành Kinh tế nông
nghiệp dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Đình Hòa là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các thông tin của luận văn được tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác
nhau đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Thái Nguyên, tháng 01 năm 2018
Học viên
Lò Văn Tiến


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn
Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển Nông
thôn, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Bùi
Đình Hòa - Giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị cùng các hộ nông dân huyện
Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nhiệm
vụ trong thời gian thực tập tại địa phương.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.

1.3.1. Xây dựng và phát triển nhãn hiệu chè Darjeeling ở Ân Độ...............23
1.3.2. Xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể chè Thái Nguvên..............24
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho xây dựng NHTT cà phê Mường Ảng........26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHẠM VI VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................................27
2.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................... 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................. 27


4

2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................ 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 28
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp................................................ 28
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp................................................. 28
2.4.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu............................................. 29
2.4.4.Phương pháp phân tích SWOT........................................................... 33
2.4.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích......................................................... 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.....................35
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu............................................................ 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Mường Ảng.............................................. 35
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Mường Ảng............................. 37
3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê huyện Mường Ảng.................43
3.2.1. Diện tích và sản lượng cà phê của huyện Mường Ảng...................... 43
3.2.2. Hoạt động sơ chế, chế biến cà phê của huyện................................... 45
3.2.3. Hoạt động thương mại, quảng bá sản phẩm cà phê........................... 46
3.2.4.Phân tích SWOT đối với sản xuất cà phê của huyện Mường Ảng ... 46
3.3.2. Mức kinh phí bằng lòng đóng góp của các hộ sản xuất cà phê cho
hoạt động xây dựng NHTT cà phê Mường Ảng............................... 51
3.4. Mô hình hồi quy mức bằng lòng trả để xây dựng, phát triển và quản


Công nghiệp

2

CN-XH

Chủ nghĩa xã hội

3

CVM

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

4

DN

Doanh nghiệp

5

GO

Giá trị sản xuất

6

IC


Thủy sản

12

UBND

Ủy ban nhân dân

13

VA

Giá trị gia tăng

14

WTP

Mức bằng lòng


vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình tạo lập và quản lý nhãn hiệu tập thể......................... 18
Bảng 2.1. Tình hình cơ bản của các hộ trồng cà phê............................................ 29
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mường Ảng.............................. 37
Bảng 3.2. Tình hình dân số và lao động huyện Mường Ảng................................ 38
Bảng 3.3. Cơ cấu kinh tế huyện Mường Ảng theo khu vực kinh tế..................... 39

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, với nhiều mặt hàng nông sản có
thế mạnh, thế nhưng sản phẩm nông sản của Việt Nam chưa được quan tâm tới
việc xây dựng thương hiệu. Hiện tại, việc xây dựng thương hiệu nông sản của
Việt Nam mới dừng ở mức khuyến khích. Nhiều địa phương và doanh nghiệp
chưa thực sự thấy rõ vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng cũng như bảo vệ
thương hiệu hàng nông sản, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập. Doanh nghiệp thì
hầu như mạnh ai nấy làm, còn nói đến xây dựng thương hiệu ngành, khu vực thì
đều khó có sự đồng thuận, hợp tác. Bên cạnh đó, hàng nông sản của Việt Nam
còn chịu nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh khó kiểm soát, thiếu sự đầu tư
cho công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường… cũng là những yếu tố cản trở
chiến lược xây dựng thương hiệu nông sản Việt.
Nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng hàng xuất khẩu của Việt
Nam. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều,... của Việt
Nam vẫn luôn ở mức thấp hơn so với các nước khác cùng xuất khẩu những mặt
hàng này như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc. Sự thua thiệt về giá cả không
chỉ do nông sản của ta mới ở dạng thô hoặc sơ chế mà còn do phần lớn các
mặt hàng “không có thương hiệu riêng”. Theo đánh giá của các chuyên gia, có
tới 85 - 90
% lượng hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới phải thông
qua các đầu mối trung gian hoặc bằng cách “núp bóng” các thương hiệu nước
ngoài.
Điện Biên là một tỉnh miền núi thuộc vùng núi Tây bắc, có vị trí địa lý
quan trọng nối liền với các tình Sơn La, Lai Châu và các tỉnh trung du miền núi
Bắc bộ. Trong những năm đổi mới, Điện Biên đã có nhiều bước phát triển mạnh
mẽ, song vẫn còn hết sức khó khăn do địa hình hiểm trở, chia cắt và có nền khí
hậu phức tạp khiến cho việc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân
dân gặp không ít khó khăn, nhất là đối với lĩnh vực nông - lâm nghiệp. Để lựa
chọn được cây trồng




cầu xây dựng nhãn hiệu tập thể của hộ trồng cà phê huyện Mường Ảng, tỉnh
Điện Biên”để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu cầu xây dựng
nhãn hiệu tập thể;
- Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê của huyện Mường Ảng trong
thời gian qua;
- Xác định nhu cầu xây dựng nhãn hiệu tập thể của hộ trồng cà phê ở huyện
Mường Ảng;
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và thúc đẩy quá trình xây dựng nhãn hiệu
tập thể cho sản phẩm cà phê ở huyện Mường Ảng.
3. Ý nghĩa của đề tài luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
các công trình nghiên cứu cùng lĩnh vực liên quan và làm căn cứ để UBND
huyện Mường Ảng có thể tham khảo nhằm đưa ra được kế hoạch xây dựng nhãn
hiệu tập thể cho sản phẩm cà phê. Hướng tới mục tiêu cuối cùng nhằm tăng hiệu
quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho người nông dân trồng cà phê. Nâng cao giá
trị, giữ vững vị thế và danh tiếng của sản phẩm cà phê của huyện Mường Ảng,
tỉnh Điện Biên.


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan lý luận về thương hiệu
Hiện nay, trong các doanh nghiệp hoặc các cuộc hội thảo và nhất là các
phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam, thuật ngữ “thương hiệu” và các vấn
đề liên quan đến thương hiệu như: Xây dựng thương hiệu, đăng ký thương hiệu,
giải quyết các tranh chấp về thương hiệu… được nhắc đến rất nhiều. Tuy nhiên,
vấn đề tưởng chừng như không cần bàn cãi nữa lại đang gây rất nhiều nhầm

Như vậy, thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng. Trước hết đó là
một hình tượng về hàng hoá hoặc doanh nghiệp; mà đã là một hình tượng thì chỉ
có cái tên, cái biểu trưng thôi chưa đủ để nói lên tất cả. Yếu tố quan trọng ẩn
đằng sau và làm cho những cái tên, cái biểu trưng đó đi vào tâm trí khách hàng
chính là chất lượng hàng hoá, dịch vụ; cách ứng xử của doanh nghiệp với khách
hàng và với cộng đồng; những hiệu quả và tiện ích đích thực cho người tiêu
dùng do những hàng hoá và dịch vụ đó mang lại... Những dấu hiệu là cái thể
hiện ra bên ngoài của hình tượng. Thông qua những dấu hiệu (sự thể hiện ra
bên ngoài đó), người tiêu dùng dễ dàng nhận biết hàng hoá của doanh nghiệp
trong muôn vàn những hàng hoá khác. Những dấu hiệu còn là căn cứ để pháp
luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp chống lại sự cạnh tranh
không lành mạnh. Pháp luật chỉ bảo hộ những dấu hiệu phân biệt (nếu đã đăng
ký bảo hộ) chứ không bảo hộ hình tượng về hàng hoá và doanh nghiệp. Như thế
thì thương hiệu nó rất gần với nhãn hiệu và nói đến thương hiệu là người ta
muốn nói đến không chỉ những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá mà còn muốn nói
đến cả hình tượng trong tâm trí người tiêu dùng về hàng hoá đó.
Thương hiệu không chỉ đơn thuần là dấu hiệu để nhận dạng và phân biệt
hàng hoá của doanh nghiệp này và doanh nghiệp khác. Thực tế thì chức năng của
thương hiệu không chỉ có vậy mà còn được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác
nữa. Ngày


nay, khi sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các nhà cung cấp hàng hoá dịch
vụ khác nhau thì người ta càng nói nhiều đến vai trò và chức năng của thương
hiệu. Thương hiệu thậm chí còn được nhân cách hoá, có cá tính với nhiều chức
năng phong phú. Có thể liệt kê các chức năng cơ bản của thương hiệu là: Chức
năng nhận biết và phân biệt; Chức năng thông tin và chỉ dẫn; Chức năng tạo sự
cảm nhận và tin cậy; Chức năng kinh tế.
1.1.2. Chức năng của thương hiệu
a. Chức năng nhận biết và phân biệt

mượt tóc. Nhãn lồng “Hưng Yên” cho ta biết về xuất xứ của hàng hoá.
Nội dung của thông điệp mà thương hiệu truyền tải luôn rất phong phú và
thể hiện chức năng thông tin, chỉ dẫn của thương hiệu. Tuy nhiên, có rất nhiều
dạng thông điệp được truyền tải trong các yếu tố cấu thành thương hiệu và hiệu
quả của sự thể hiện chức năng thông tin sẽ phụ thuộc nhiều vào dạng thông điệp,
phương pháp tuyên truyền và nội dung cụ thể của thông điệp. Một thông điệp
cũng có thể được hiểu và cảm nhận khác nhau ở những khu vực khác nhau với
những đối tượng tiêu dùng khác nhau. Không phải tất cả mọi thương hiệu đang
tồn tại trên thị trường đều có chức năng này. Tuy nhiên, khi thương hiệu thể hiện
rõ được chức năng thông tin và chỉ dẫn sẽ là những cơ hội thuận lợi để người
tiêu dùng tìm hiểu và đi đến chấp nhận thương hiệu. Chức năng thông tin, chỉ
dẫn dù rõ ràng và phong phú đến đâu nhưng không thoả mãn về khả năng phân
biệt và nhận biết thì cũng sẽ được coi là một thương hiệu không thành công, bởi
nó dễ tạo ra một sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng [27].
c. Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy
Thương hiệu còn có chức năng tạo sự cảm nhận. Đó là cảm nhận của
người tiêu dùng về sự sang trọng, sự khác biệt, một cảm nhận yên tâm, thoải mái
và tin tưởng khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó và sự tin tưởng khi lựa chọn
tiêu dùng hàng hoá đó.Nói đến sự cảm nhận là người ta nói đến một ấn tượng
nào đó về hàng hoá, dịch vụ trong tâm trí người tiêu dùng. Sự cảm nhận của
khách hàng không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành do tổng hợp các yếu
tố của thương hiệu như màu sắc, tên gọi biểu tượng, biểu trưng, âm thanh, khẩu
hiệu…. và cả sự trải nghiệm của người tiêu dùng. Cùng một hàng hoá nhưng
sự cảm nhận của người tiêu dùng có thể khác nhau phụ thuộc vào dạng thông
điệp hoặc hoàn cảnh tiếp nhận thông tin, hoặc phụ thuộc vào sự trải nghiệm
trong tiêu dùng hàng


hoá.Tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu dùng là một thành công quan trọng
của mỗi thương hiệu [27].


tượng về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trong tâm trí người tiêu dùng, là
các dấu hiệu để phân biệt hàng hoá dịch vụ... Điều đó cũng đã phần nào nói lên
được vai trò của thương hiệu.
a. Vai trò đối với người tiêu dùng
Thương hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt nhanh chóng hàng hoá cần
mua trong muôn vàn các hàng hoá cùng loại khác, góp phần xác định được nguồn
gốc xuất xứ của hàng hoá. Mỗi hàng hoá do một nhà cung cấp khác nhau sẽ
mang một tên gọi hay các dấu hiệu khác nhau, vì thế thông qua thương hiệu
người tiêu dùng có thể nhận dạng dễ dàng hàng hoá hoặc dịch vụ của từng nhà
cung cấp. Có một thực tế là người tiêu dùng luôn quan tâm đến công dụng hoặc
lợi ích đích thực mà hàng hoá hoặc dịch vụ mang lại cho họ, nhưng khi cần phải
lựa chọn hàng hoá, dịch vụ thì hầu hết người tiêu dùng lại luôn để ý đến thương
hiệu, xem xét hàng hoá hoặc dịch vụ đó của nhà cung cấp nào, uy tín hoặc
thông điệp mà họ mang đến là gì, những người tiêu dùng khác có quan tâm và
để ý đến hàng hoá mang thương hiệu đó không. Như vậy, thực chất thương hiệu
như một lời giới thiệu, một thông điệp và dấu hiệu quan trọng để người tiêu
dùng căn cứ vào đó đưa ra phán quyết cuối cùng về hành vi mua sắm.
Thông thường tại một điểm bán hàng nào đó có rất nhiều hàng hoá cùng
loại được bày bán. Người tiêu dùng sẽ phải đưa ra một quyết định lựa chọn hàng
hoá của nhà cung cấp này thay vì của nhà cung cấp khác. Có thể có ba khả năng
xảy ra.
Một là, khách hàng đã biết, đã tiêu dùng và tin tưởng ở một thương hiệu
nào đó, khi đó quá trình lựa chọn sẽ diễn ra rất nhanh chóng. Ngay lập tức người
tiêu dùng chọn hàng hoá mang thương hiệu ưa thích (không cần quan tâm đến
những hàng hoá mang thương hiệu khác) hoặc lựa chọn thương hiệu ưa thích với
đôi chút so sánh và tham khảo các thương hiệu khác.
Hai là, khách hàng tuy chưa tiêu dùng hàng hoá mang thương hiệu nào đó,
nhưng qua thông tin mà họ có được (qua các chương trình quảng cáo, qua sự giới
thiệu của bạn bè hoặc các kênh thông tin khác) họ có những cảm nhận và ấn

người tiêu dùng: Người tiêu dùng sẽ lựa chọn hàng hoá thông qua sự cảm nhận
của mình. Khi một thương hiệu lần đầu xuất hiện trên thị trường, nó hoàn toàn
chưa có được một hình ảnh nào trong tâm trí người tiêu dùng. Những thuộc tính


của hàng hoá như kết cấu, hình dáng, kích thước, màu sắc, sự cứng cáp hoặc các
dịch vụ sau bán hàng sẽ là tiền đề để người tiêu dùng lựa chọn chúng. Qua thời
gian, bằng kinh nghiệm trong sử dụng và những thông điệp mà thương hiệu
truyền tải đến người tiêu dùng, vị trí và hình ảnh của hàng hoá được định vị dần
dần trong tâm trí khách hàng, ổn áp LIOA được người tiêu dùng ưa chuộng một
phần quan trọng là do tính ổn định của nó khi làm việc, độ bền và an toàn cao;
phần khác là do chế độ bảo hành lâu dài và hệ thống các cửa hàng và đại lý cung
cấp rộng khắp tạo ra sự thuận tiện nhất cho khách hàng. Lòng tin của người tiêu
dùng đã đặt đúng trong trường hợp này.
Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng: Sự
cảm nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanh nghiệp dựa vào rất
nhiều yếu tố như các thuộc tính của hàng hoá, cảm nhận thông qua dịch vụ đi
kèm của doanh nghiệp, uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí
người tiêu dùng. Một khi người tiêu dùng đã lựa chọn sản phẩm mang một
thương hiệu nào đó tức là họ đã chấp nhận và gửi gắm lòng tin vào thương
hiệu đó. Người tiêu dùng tin ở thương hiệu vì tin ở chất lượng tiềm tàng và ổn
định của hàng hoá mang thương hiệu đó mà họ đã sử dụng (hàng hoá trải
nghiệm) hoặc tin tưởng ở những dịch vụ vượt trội hay một định vị rõ ràng của
doanh nghiệp khi cung cấp hàng hoá điều dễ dàng tạo ra cho người dùng một
giá trị cá nhân riêng biệt. Chính tất cả những điều này đã như là một lời cam
kết thực sự nhưng không rõ ràng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường:Trong kinh doanh, các công ty
luôn đưa ra một tổ hợp các thuộc tính lý tưởng về các thế mạnh, lợi ích đích thực
và đặc trưng nổi trội của hàng hoá dịch vụ sao cho phù hợp với nhu cầu và thị
hiếu từng nhóm khách hàng cụ thể. Thương hiệu với chức năng nhận biết và

doanh nghiệp trong kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm và nâng
cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Trong thực tế, có không ít trường hợp vì một
lý do nào đó mà thương hiệu bị suy giảm lòng tin, ngay lập tức phản ứng của
các nhà đầu tư được nhận thấy. Đó là sự giảm giá cổ phiếu của công ty các
nhà đầu tư sẽ bán đi các cổ phiếu của công ty thay vì mua vào như khi thương
hiệu đó được ưa chuộng. Sẽ


không có một nhà đầu tư nào lại đầu tư vào một doanh nghiệp mà thương hiệu
không được biết đến trên thương trường.
Thương hiệu là tài sản vô hình và rất có giá của doanh nghiệp:Thương
hiệu luôn là tài sản vô hình và có giá của doanh nghiệp. Thực tế đã chứng
minh, giá của thương hiệu khi chuyển nhượng đã cao hơn rất nhiều so với tổng
tài sản hữu hình mà doanh nghiệp đang sở hữu. Trước đây, các doanh nghiệp
Việt Nam thường không mấy để ý đến thương hiệu, vì vậy khi biết tập đoàn
Elida mua lại thương hiệu P/S với giá lên đến 5 triệu USD (trong khi toàn bộ tài
sản cố định và lưu động ước chỉ trên dưới 2 triệu USD), nhiều doanh nghiệp
Việt Nam đã giật mình và nhận thấy giá trị của thương hiệu thật khó ước tính.
Chính những điều đó đã thôi thúc các doanh nghiệp Việt Nam ngay cả đó là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong xây dựng và phát triển thương hiệu [27].
1.2. Tổng quan về nhãn hiệu
1.2.1.

Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu hàng hóa

Khái niệm nhãn hiệu: Theo khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dừng đê phân biệt hàng hỏa, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau” Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa:
Từ “nhãn hiệu hàng hóa” được dùng phổ biến trên khắp thế giới để phân
biệt từng loại sản phẩm hàng hóa khác nhau. Nhưng những khái niệm về NHHH

Như vậy, nhãn hiệu là một chỉ dẫn thương mại, dùng để phân biệt các
hàng hóa, dịch vụ do một cá nhân hay doanh nghiệp cụ thể sản xuất hoặc
cung ứng với các hàng hóa và dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất khác.Sự
khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm “nhãn hàng hóa” và “nhãn hiệu”là thể hiện
chức năng của nó. Nhãn hàng hóa, theo quy định của Nghị định số
89/2006/NĐ-CP phải được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa
ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định
của nhãn mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Các nội
dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa là: tên hàng hóa, tên tổ chức, cá nhân chịu
trách nhiệm về hàng hóa, định


lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, xuất xứ… Như vậy lô hàng hóa khác nhau
thì nhãn hàng hóa cũng khác nhau.
Trái lại, “Nhãn hiệu” hàng hóa hay dịch vụ có thể được dùng chung cho
toàn bộ hoặc từng hàng hóa một chủ; nhãn hiệu cũng luôn được đặt ở những vị
trí dễ nhận biết trên một sản phẩm hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa, hoặc có thể
dùng cho quảng cáo, sử dụng trong các giấy tờ giao dịch thương mại mà không
cần thiết chỉ dẫn xuất xứ.
Như vậy có thể nói rằng, về bản chất “nhãn hàng hóa” chỉ thực hiện
chức năng thông tin về hàng hóa cho người tiêu dùng, còn “nhãn hiệu” hàng
hóa hay dịch vụ lại thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại
từ các nhà sản xuất khác nhau và có giá trị như một tài sản nếu đăng ký bảo hộ.
b. Phân biệt nhãn hiệu và thương hiệu
Qua nghiên cứu về nhãn hiệu và thương hiệu hàng hóa cho
thấy:Thương hiệu bao gồm nhãn hiệu hàng hoá, là đối tượng sở hữu công
nghiệp có số lượng lớn; Tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại của
các tổ chức là các đối tượng có số lượng ít hơn rất nhiều. Như vậy, có thể coi
thương hiệu chứa phần chủ yếu nhãn hiệu hàng hoá.
Nhãn hiệu hàng hoá thuộc phạm trù về pháp lý, về sở hữu công nghiệp:

tiếp thị của Doanh nghiệp:
- Do Doanh nghiệp xây dựng và
công nhận bởi khách hàng.
- Có tính vô hình: tình cảm, lòng
trung thành của khách hàng..
- Một nhà sản xuất thường được đặc
trừng bởi một thương hiệu, nhưng
có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa
khác nhau.
- Thương hiệu là sự kỳ vọng của
khách hàng về sản phẩm/dịch vụ
bất kỳ.

1.2.3. Nhãn hiệu tập thể
a.

Khái niệm:
Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ
của các thành viên thuộc một Hiệp hội với sản phẩm hoặc dịch vụ của các cơ sở
không phải là thành viên.
Nghị định số 63/ CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 (Bộ Luật dân sự Nước
CHXHCN Việt Nam) cho rằng: “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu hàng hóa
được tập thể, các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác cùng sử dụng.
Trong đó, mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể
đó quy định” [22].
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để
phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu
nhãn hiệu đó với hàng hóa/ dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành
viên của tổ chức đó” [23].
Trong luật Sở hữu trí tuệ của hầu hết các nước trên thế giới đều có

thức vì quy mô nhỏ và tạo lập thị trường.
b. Đặc điểm của nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể cũng có những đặc tính như một nhãn hiệu nói chung. Để
xem xét đặc tính của nhãn hiệu tập thể cần phải xem xét dưới các giác độ khác
nhau như là một sản phẩm, một tổ chức, một con người, một biểu tượng. Nhãn
hiệu cũng có thể được coi như một tổ chức. Khi xét trên phương diện này thì nhãn
hiệu có thể



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status