PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong tâm lý học, hứng thú là một vấn đề phong phú, hấp dẫn và cũng
khá phức tạp, như L. X. Vưgôtxki đã khẳng định: “Đối với việc nghiên cứu
hầu như không có vấn đề nào rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu hứng thú thực sự
của một con người" [113, tr. 110]. Chính vì thế, lâu nay lĩnh vực hứng thú đã
được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu, song vẫn còn
nhiều vấn đề cần tìm tòi.
Hứng thú là một trong những mặt biểu hiện của xu hướng nhân cách,
nó có vai trò rất to lớn đối với hoạt động của con người nói chung và hoạt
động nhận thức nói riêng. Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận
thức, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách say mê,
sáng tạo, làm tăng sức làm việc,...ở mỗi người. Trong họat động học tập,
hứng thú là yếu tố quan trọng thôi thúc HS nắm bắt tri thức một cách nhanh
hơn, sâu sắc hơn. Khi có hứng thú học một môn nào đó, HS sẽ tập trung chú
ý vào đối tượng nhận thức, nhờ đó quan sát của các em trở nên nhạy bén và
chính xác, chú ý trở nên bền vững, việc ghi nhớ dễ dàng và sâu hơn, quá
trình tư duy sẽ tích cực hơn, sự tưởng tượng sẽ phong phú hơn... Các em sẽ
tự giác, sáng tạo, say sưa, không biết mệt mỏi trong quá trình lĩnh hội, và sự
vận dụng những điều lĩnh hội được vào giải các bài tập sẽ linh hoạt, sáng tạo
hơn, nhờ đó kết quả học tập của họ sẽ ngày càng nâng cao, năng lực của HS
từng bước được hình thành, phát triển một cách tích cực. Điều này đã được
đại văn hào Macxim Goocki khái quát: “Tài năng, nói cho cùng là tình yêu
đối với công việc”.
1
Trong trường phổ thông nói chung, trường tiểu học nói riêng, môn Tự
nhiên và xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng, nó có khả năng to lớn trong
việc giúp HS phát triển các năng lực, phẩm chất đồng thời mở mang nhiều
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi chọn đề tại nghiên cứu này nhằm tìm ra được những nguyên nhân
cũng như cách khắc phục để mang lại kết quả thật tốt để các em học sinh ở
Trường TH Lê Văn Tám có thể học tốt hơn đồng thời đưa ra các kiến nghị
sư phạm phạm góp phần phát triển hứng thú học môn Tự nhiên và xã hội
cho các em HS tiểu học.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đặc điểm hứng thú học môn Tự nhiên xã hội của HS Trường
Tiểu học Lê Văn Tám .
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Các em học sinh ở khối lớp 3 của Trường Tiểu học Lê Văn Tám,
Thành phố Trà Vinh.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về: Hứng thú, hứng thú học tập,
đặc điểm hứng thú học môn Tự nhiên và xã hội của HS nói chung, hứng thú
học môn Tự nhiên và xã hội của HS tiểu học nói riêng; các yếu tố tác động
đến việc hình thành và phát triển hứng thú của HS tiểu học.
4.2. Điều tra, phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hứng
thú học môn Tự nhiên và xã hội của HS ở một số trường tiểu học Lê Văn
Tám; xác định những đặc điểm của hứng thú học môn Tự nhiên và xã hội ở
HS tiểu học.
3
4.3. Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tâm lý sư phạm nhằm
- Phương pháp thống kê toán học.
VII. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu trãi qua thời gian là 3 tuần từ ngày 06 tháng 02
năm 2012 đến ngày 26 tháng 02 năm 2012. Đề tài nghiên cứu này được tiến
hành qua 3 giai đoạn như sau:
- Tuần 1( từ ngày 06 tháng 02 năm 2012 đến ngày 12 tháng 02 năm
2012): Bắt đầu nhận đề tài và tiến hành làm quen với khách thể nghiên cứu
đồng thời bước đầu tìm hiểu về đề tài mà mình đã chọn.
- Tuần 2( từ ngày 13 thang 02 năm 2012 đến ngày 19 tháng 02 năm
2012): Tiến hành đi vào công việc tìm hiểu học sinh, làm phiếu khảo sát, tiến
hành khảo sát, tổng hợp kết quả.
- Tuần 3( từ ngày 20 tháng 02 năm 2012 đến ngày 26 tháng 02 năm
2012): Viết bài nghiên cứu và hoàn thành.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ
1.1. Lịch sử nghiên cứu:
Trong quá khứ cũng như hiện tại cũng đã có rất nhiều những nhà khoa
học và cả những Sinh viên nữa đã nghiên cứu về vấn đề này, nhưng vẫn
chưa có tài liệu nào đi sâu vào chi tiết phân tích những khía cạnh thật của
chúng, đa số vẫn còn mơ hồ. Thật sự bài nghiên cứu này cũng chỉ đi vào một
phần nào đó cũng chưa đi sâu nhưng nó cũng giải đáp được phần nào của
vấn đề được nói đến ở đây.
5
phút đầu năm cả lớp được mười điểm, tôi được tám. Tổng kết giữa học kỳ
một, cả lớp đạt học sinh giỏi trên tám phẩy, tôi được bảy phẩy tám.
1.3.2. Thái độ của giáo viên giảng dạy:
Thầy giáo, cô giáo trên lớp luôn là tấm gương cho chúng ta noi theo. Học
sinh như tờ giấy trắng, các thầy cô giáo dạy gì thì nó sẽ được hằn in lên tờ
giấy đó và khó có thể phai nhòa. Một thầy cô nhiệt tình giảng dạy, tác phong
đúng mực sẽ là tấm gương sáng cũng như khích lệ các em học tập tốt. Dĩ
nhiên ngược lại, một giáo viên dạy úi xùi cho qua thì cũng sinh ra tâm lý
chán nản học cho qua của học sinh. Điều này nếu ai đã từng đi học có lẽ
cũng không cần phải nói gì thêm.
1.3.3. Biết môn học này học để làm gì?
Chúng ta không thể làm tốt cũng như dốc hết tâm sức vào làm một việc mà
chúng ta còn không biết làm để làm gì, được gì cho mai sau. Cũng giống
như hình ảnh những người lính cụ Hồ là những người lính biết được mục
tiêu chiến đấu, chiến đấu là để bảo vệ độc lập tự do cho bản thân và đất
nước. Biết được lý do chiến đấu nên họ không tiếc sinh mạng, tuổi trẻ….
Còn ngược lại những người không tìm ra lý do chiến đấu thì khi vào trận họ
sẽ đầu hàng, đào ngũ, dễ hiểu thôi, tại sao tôi lại phải bán mạng cho một thứ
mà tôi không tin không biết nó là gì? Do vậy nếu trước khi học một môn nào
đó, bạn tìm ra được lý do, tác dụng của việc học môn đó, và bạn cho đó là
cần thiết với bản thân thì chắc chắn môn học đó bạn sẽ đạt kết quả cao.
1.3.4. Không khí của bản thân:
Biết học để làm gì rồi, tự khắc trong bản thân bạn sẽ có một sự tự giác, một
thái độ thoải mái khi học tập. Sẽ không còn xuất hiện các câu hỏi học để làm
gì, khó thế không thi đâu bỏ qua thôi, trong lúc bạn học. Mọi vấn đề không
hiểu sẽ chỉ có một giải pháp là tìm mọi cách để hiểu. Đây chính là “tự do
trong khuôn khổ”.
7
này. Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi
hỏi mới của cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong
môi trường “ trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó
buộc không tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình
(thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng
những phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm
vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của
mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành
cùng một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính
chất khác nhau. Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng
phải lĩnh hội các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt
động để thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và
nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn.
Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh
hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học,
trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi
trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia
đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học
lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo ra
những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học.
Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường
và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng
trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên- lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn.
Về việc này, N.X.Leytex đã khắc họa: “ Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập
tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế. Chức năng trên
được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự
tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô
9
xã hội khá cao đạt khoảng 83% và tỉ lệ HS không yêu thích môn này chỉ
khoảng 17%, cho thấy phần lớn các em điều có hứng thú đối với môn này .
11
2.2 Các tác nhân gây hứng thú cho HS khi học môn Tự nhiên và xã hội:
%
Biểu đồ thể hiện các tác nhân tạo nên sự hứng thú học tập của học sinh
lớp 3 của Trường TH Lê Văn Tám.
Qua biểu đồ ta có thể thấy được các tác nhân chính tạo nên sự hứng thú
học tập của HS đó là: tranh ảnh minh họa, nội dung của bài học và bên cạnh
đó phương pháp dạy của GV cũng góp phần tạo nên hứng thú cho HS học
môn Tự nhiên và xã hội. Còn phần nhỏ đó là do một số yếu tố khác.
12
2.3 Một số hình thức tự học mà HS đã sữ dụng khi học mơn Tự nhiên và
xã hội:
Cách thức tự
học
Xem SGK trước ở
nhà
Làm
bài
tập
34.4%
1.7%
61.7%
27.5%
10.7
61.7%
%
5.4%
32.9%
bao giờ
nhóm
Bảng thống kê các hình thức chủ yếu của HS khối lớp 3 Trường Tiểu
học Lê Văn Tám.
Thơng qua bảng số liệu ta có thể nhận thấy được các hình thức học chủ
yếu của các em là: xem SGK, làm bài tập ở nhà và nghe GV giảng bài trên
lớp là chủ yếu còn việc tự học theo nhóm thì chỉ thỉnh thoảng được áp dụng.
13
2.4 Thời gian dành cho học mơn Tự nhiên và xã hội:
20
30
40
50
60
70
80
90
Biểu đồ thể hiện thời gian dành cho việc học mơn Tự nhiên và xã hội của
HS khối 3 Trường TH Lê Văn Tám.
Kết quả khảo sát cho thấy có 32.9% học sinh
tranh thủ thời gian rảnh để học bài, còn lại hơn
67.0% học sinh chỉ thỉnh thoảng học bài vào thời
gian rảnh hoặc chưa từng giành thời gian cho việc
học bài. Có đến 87.2% học sinh chỉ học khi chuẩn bò
thi, có 58.0% học sinh học theo lòch sắp của thời gian
biểu đặt ra, 75.0% học sinh thường xuyên học bài
vào buổi tối.
14
100
giảng, chưa sát nội dung chương trình. Khi dạy thường
nặng về thông báo, không tổ chức hoạt động học
tập cho các em, không dự kiến được các biện pháp
hoạt động, không hướng dẫn được phương pháp tự
học.
Do việc truyền đạt kiến thức của giáo viên
theo lối thụ động nên rèn luyện kỹ năng tự học
cũng như việc hướng dẫn tữ học của giáo viên cho
học sinh không được chú ý làm cho chất lượng giờ
dạy không cao.
CHƯƠNG III : CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI GIỜ HỌC MƠN TỰ
NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM
3.1. Tăng cường các hình thức kiểm
tra đánh giá
3.1.1. Vấn đáp:
- Kiểm tra bài cũ là một khâu không thể
thiếu trong dạy học vì nếu không kiểm tra giáo viên
sẽ không nắm được tình hình học bài và chuẩn bò
bài của học sinh, và nếu không đánh giá cho điểm,
nhận xét khuyến khích thì không có động lực cho
việc học bài đều đặn ở nhà.
- Kiểm tra vấn đáp trong môn toán có điểm
khác với các môn xã hội là không kiểm tra học
thuộc lòng, nghóa là nếu một học sinh học thuộc
16
dẫn làm đề cương cho học sinh.
Cách ra đề phải phân loại được học sinh đảm
bảo có câu dễ cho học sinh trung bình yếu và câu
khó cho học sinh giỏi, việc ra đề quá khó hay quá
dễ đều không có tác dụng thúc đẩy việc tự học
của học sinh.
3.2. Hướng dẫn học sinh tự học
3.2.1. Tự học qua sách giáo khoa:
- Sách giáo khoa là nguồn tri thức quan trọng
cho học sinh, nó là một hướng dẫn cụ thể để đạt
lượng liều lượng kiến thức cần thiêt của môn học,
là phương tiện phục vụ đắc lực cho giáo viên và học
sinh. Do đó tự học qua sách giáo khoa là vô cùng
quan trọng để học sinh tham gia vào quá trình nhận
thức trước lớp và củng cố khắc sâu ở nhà.
- Để học sinh tự nghiên cứu trước sách giáo
khoa ở nhà thì giáo viên không chỉ đơn giản là
nhắc các em đọc trước bài mới mà cần nêu cụ
thể câu hỏi mà khi đọc xong bài mới các em có
thể trả lời được. Đó là cách giao nhiệm vụ cụ thể
giúp học sinh đọc sách giao khoa có mục tiêu cụ thể
rõ ràng.
3.2.2. Tự học qua sách bài tập, sách
tham khảo:
- Đối với học sinh trong trường sách bài tập
đều có nên giáo viên phải tận dụng tài liệu này
18
điều kiện để học sinh phát triển năng lực tự học
của mình. Kết quả nghiên cứu thực hiện tại trường
Tiểu học Lê Văn Tám chứng minh rằng năng lực
có thể được phát triển thông qua ứng dụng học
tập tự điều chỉnh và nếu học sinh càng có khả
năng gây hứng thú cho các em và từ đó kết quả học tập sẽ
càng cao.
- Phương pháp gây hứng thú này có ảnh hưởng
rất lớn đến kết quả học tập của học sinh
- Việc gây hứng thú cho HS cần đòi hỏi cần có sự
kết hợp nhiều yếu tố và áp dụng chúng vào học
tập một cách linh hoạt và có kế hoạch cụ thể.
- Cần giúp các em biết xác đònh kế hoạch học tập
cho riêng mình, có thời gian biểu học tập cụ thể.
- Giáo dục nhận thức như thay đổi phương
pháp học tập: học để hiểu, học để áp dụng, hình
thành thói quen.
- Tuy nói thế nhưng việc áp dụng chúng vẫn gặp khơng ít những
khó khăn đòi hỏi rất cao ở người GV phải biết cách vận dụng và điều quan
trọng nhất đó chinh là tự bản thân của các em có chịu làm hay khơng đó
chinh là nhân tố quyết định.
II. KIẾN NGHỊ
- Đối với BGH trường thực tập: Cần đầu tư
trang thiết bò hơn nữa, đẩy mạnh việc thực hiện
phương pháp dạy học tích cực, “học đi đôi với hành”
20
cho các em được tiếp cận với thực tế nhiều hơn để cho các em có thể vận